Từ Cộirễ Cổđại đến Bảnsắc Hiệnđại

by dchph in collaboration with Copilot

Nghiêncứu này tổnghợp các quanđiểm ngônngữhọc và lịchsử mang tínhđốinghịch về nguồngốc tiếngViệt, hoàđồng chứngcứ từ tầngnền Việt (Yue) bảnđịa với tầngphủ Hánngữ kếtiếp. Khi hoàđiệu những giảthuyết khácbiệt, thiếtlập côngtrình táicấutrúc tiếngViệt trên nềntảng của một ngônngữ hoàhợp: bámrễ sâu trong nềntảng bảnđịa cổxưa nhưng đồngthời qua nhiều thếkỷ Hánhoá nó đã pháttriển mạnhmẽ, và quađó đềxuất một môhình khảdụng trongviệc nghiêncứu phươngthức sosánh những tiếpxúc ngônngữ đadạng và khubiệt quátrình hìnhthành bảnsắc riêngbiệt.

Để nốikết các tườngthuật đốinghịch về lịchsử ngônngữ tiếngViệt, phântích này theodõi sựtươngtác giữa nềntảng Việt (Yue), ảnhhưởng Hánngữ và các phongtrào cảicách hiệnđại. Nó chỉra cách mà những tầnglớp vaymượn cổđại và các yếutố bảnđịa tồntại songhành đã hoàquyện thếnào để tạonên một ngônngữ vừa độcđáo Việtnam, vừa gắnkết mậtthiết với các ngônngữ lánggiềng trong khuvực.

I) Thếmạnh của Hánngữ trong tiếngViệt

Bảnsắc tiếngViệt chothấy đólà một ngônngữ được hìnhthành qua những cuộc tiếpxúc: tiếngViệtcổ (Yue) bảnđịa, ngônngữ cungđình Trunghoa, văntự thuộcđịa và các tràolưu đổimới hiệnđại. Côngtrình này lýgiải những mạchnguồn ấy thành một trầnthuật thốngnhất, chỉra phươngcách mà cộirễ cổxưa vẫncòn ghidấu trong mốihàihoà với bảnsắc hiệnđại.

Sosánh các từnguyên thuộc ngữhệ Hán‑Tạng gợiý rằng tiếntrình lịchđại của tiếngViệt hiệnđại phảnchiếu một quỹđạo trongđó cưdân BáchViệt phươngnam (NamViệt/Yue) sớm thiếtlập các thểchế tựtrị trên vùng Hoanam Trunghoa trướckhi quyềnlực đếquốc nhàHán được củngcố. Tuyvậy, phạmvi của ngônngữhọc Hán‑Tạng khôngchophép xếp tiếngViệt vào ngữhệ này, dù bằngcách gộp nó vào nhánh Hánngữ hay dùcó sosánh thànhcông với tiếngQuảngđông hoặc các phươngngữ Hán khác. Việc phânloại nhưvậy đòihỏi một nềntảng từnguyên rộnghơn và một khung sosánh khá chặtchẽ.

Hiệntượng táitạo từvựng vẫn tiếptục tồntại đến thời hiệnđại, thểhiện qua sựluânchuyển xuyênvùng như đãthấy qua các thuậtngữ hiệnđại như cộnghoà 共和 (gònghé, ‘republic’) và dânchủ 民主 (mínzhǔ, ‘democracy’). Đây vốnlà từ tântạo Nhậtbản với kếtcấu từ hìnhvị Hánngữ, sauđó được táivay vào tiếngHán và cuốicùng thẩmthấu vào tiếngViệt. Hànhtrình này minhhoạ sựtraođổi liêntục của chấtliệu ngônngữ giữa những tiếngHán vùngmiền, Nhật, và Việt.

Đồngthời, quátrình địaphươnghoá đã chuyểnhoá nhiều từ Hán‑Việt thành các hìnhthức HánViệt hoá‑bảnđịa. Trong những trườnghợp này, nghĩa nguyênthuỷ khôngphải lúcnào cũng được giữlại — hiệntượng này còn dễ thấyrõhơn trong kýtự Kanji Nhậtbản sovới Hán‑Việt. Chẳnghạn, lịchsự (đồngnghĩa ‘lịchthiệp’) xuấtphát từ 歴事 lìshì (cónghĩalà ‘trảinghiệm’ trong tiếngHán), và tửtế (là ‘tốt bụng’) lại đếntừ 仔細 zǐxì (ýnghĩa nguyênthuỷ là ‘tỉmỉ’). Bêncạnh những thích-ứng này, tiếngViệt còn pháttriển một lớptầng từvựng tựtạo dựatrên chấtliệu chữ Hán.

Bảng 1 – Từghép Hán‑Việt tựtạo

Mộtsố từghép đặcthù Việtnam và khônghề xuấthiện trong cáchdùng tiếngHán, như linhmục (“mụcsư linhhồn”, ghép từ “linh” + “mục”, tức ‘‘ngườichăn’ + linhhồn’ ), hoặc giảkimthuật (“thuật luyệnkim giả”), thường đượcdùng đểchỉ “thuật luyệnkim”. Những từ khác, như linhcẩu (“chó linh”, nghĩa là “chó linhthiêng”), là các sángtạo ngữnghĩa bảnđịa. Thêmvàođó còncó những từ đã khôngcòn sửdụng trong tiếngHán hiệnđại hoặc đã biếndạng về mặt ngữnghĩa.

GlossChữHánHán+Việt
city城鋪thànhphố
week旬禮tuầnlễ
presence現面hiệndiện
entertainment解智giảitrí
lack少寸thiếuthốn
proud倖面hãnhdiện
pleasant to the eyes玩目ngoạnmục
orderly, proper; honest, upright眞方chânphương
(polite, respectful) you貴位quývị
traditional古傳cổtruyền
festival禮會lễhội
legend玄話huyềnthoại
satisfy妥滿thoảmãn
polite歷事lịchsự
important; significant關重quantrọng
millionaire兆富triệuphú
billionaire秭富tỷphú
thermometer熱計nhiệtkế
(mathematics) matrix魔陣matrận
biology生學sinhhọc
subject門學mônhọc
average中平trungbình
cosmetics美品mỹphẩm
surgery剖術phẫuthuật
allergy異應dịứng
hearing-impaired欠聽khiếmthính
bacteria; microbe; germ微蟲vitrùng
to update及日cậpnhật
data; information與料dữliệu
forum演壇diễnđàn
a smoothie (drink)生素sinhtố
dojo; martial art school武堂võđường
cemetery義地nghĩađịa
a surgical mask口裝khẩutrang
thermometer熱計nhiệtkế
television (medium)傳形truyềnhình
broadcast發聲phátthanh
animation活形hoạthình
subtitles附題phụđề
transliterate翻音phiênâm
transcribe轉字chuyểntự
visa視實thịthực
nurse醫佐ytá
artist, musician, actor, comedian,藝士nghệsĩ
singer歌士casĩ
musician, songwriter, composer樂士nhạcsĩ
poet詩士thisĩ
dentist牙士nhasĩ
artist, painter畫士hoạsĩ
parliament member, congressman議士nghịsĩ
prison, concentration camp寨監trạigiam
victim難人nạnnhân
special forces特攻đặccông
farm莊寨trangtrại

Tráingược với những giảđịnh hiệnđại, tiếngViệt thíchhợp được môtả như một ngônngữ mangnặng đậmchất Hánngữ, với một cáchthức mà tiếngNhật hay tiếngHàn khôngcó. TiếngViệt thừahưởng một lớptầng từvựng thuộc tiếngHán Trungđại dàyđặc, và nhiều thànhtố được phânloại là Hán‑Việt lại trùnglặp dưới kháiniệm phạmtrù Hán-Nôm thôngqua quátrình hoànhập vào lờinói hằngngày bêncạnh từvựng bảnđịa.

Một vídụ điểnhình là nguyênngữ 順 (shùn, HV thuận), vốn biểuđạt những biếnthể tuỳvào ngữcảnh trong các từghép:

  • 順利 (shùnlì, HN suônsẻ)
  • 孝順 (xiàoshùn, HN hiếuthảo)
  • 順便 (shùnbiàn, HN sẵntiện)
  • 逆順 (níshùn, HN ngượcxuôi)

Những vídụ nhưvậy chothấy các hìnhthức Hánngữ, vốn từng thuộc vănviết, đã dần thấmvào khẩungữ tiếngViệt, làmmờ ranhgiới giữa từvựng hànlâm và cáchdùng bìnhdân.

Bảng 2 – Trườnghợp nghiêncứu về từ mới Hán‑Việt được tạora từ hìnhvị Hánngữ

Thuậtngữ tiếngViệt côngcuộc — một từ quenthuộc trong ngôntừ hiệnđại là một từghép trangtrọng cónghĩalà “sựnghiệp”, “tiếntrình”, hay “côngtác”— từlâu là một khúcmắc về mặt từvựng và gợi nhiều tòmò vềmặt từnguyên họcthuật.

Mặcdù thường bị hiểunhầm như một từghép Hán‑Việt tươngứng trựctiếp với các dạng chữHán 公局 hay 工局 (gōngjú,  tươngứng với “côngsở”, “cơquan”), và nguồngốc đúngđắn của nó lại nằm ở 工作 (gōngzuò, “côngtác”, “côngviệc”), trongđó yếutố cuộc không xuấtphát từ 局 (jú, HV cục) mà từ chữ 作 (zuò, HV tác).

Chữ cuộc trong tiếngViệt vừa khácbiệt về ngữâm lẫn ngữnghĩa, ngayvới cả cáchđọc Hán‑Việt tiêuchuẩn (“tác”) bị âm Quanthoại /zuò/ lấnsang. Đólà kếtquả đến từ một mạnglưới biếnđổi ngữâm lịchsử, sự hoàđiệu các âmvị đi liềnnhau với các mối liênhệ nghĩa và âm; cảhai cùng soisáng lịchsử phứctạp của ảnhhưởng từvựng tiếng Hán sang tiếngViệt.

Trong tiếngViệt hiệnđại — vănviết lẫn khẩungữ — côngcuộc dùng để chỉ một sựnghiệp hay côngviệc có tính tậpthể, đặcbiệt trong ngữcảnh hànhchính hoặc lịchsử (vídụ: côngcuộc khángchiến, côngcuộc đổimới). Đây là một từghép Hán‑Việt gồm công (工) và cuộc (tươngứng với 作, chứ khôngphải 局).

Sựnhầmlẫn với 公局 hay 工局 là điều dễhiểu: cả 公 và 工 đều đọclà công, và 局 (HV cục) là hìnhvị phổbiến chỉ cơquan hànhchính. Tuyvậy, côngcuộc là một từghép hiệnđại được mượn theo môhình 工作 (gōngzuò), thích-ứng được về mặt ngữâm-ngữnghĩa trong hệthống tiếngViệt. Mặcdù côngtác là cáchđọc Hán‑Việt chínhquy của 工作, côngcuộc lại xuấthiện như một từ mới trongđó cuộc (局) được bảnđịahoá hoạtđộng chỉ phảnánh ngữnghĩa bảnđịa tươngứng với chữ 作 zuò, chứ khôngphải của 局 jú.

Sựxuấthiện của những từghép Hán‑Việt như côngcuộc phảnánh quátrình vaymượn và thích-ứng ngữnghĩa lâuđời trong toànbộ vànhđai Hánhoá, tức Nhậtbản, Triềutiên và Việtnam —thườngđược gọichung là khuvực “Hánngữ”. Trong ngữcảnh này, những từ mới dànhcho các kháiniệm hiệnđại thườngđược tạora từ hìnhvị Hánngữ rồi được môphỏng ngữâm mang ngữnghĩa của từ cận âm khác dựatheo những niêmluật cóquytắc nhưng đôikhi mangtính sángtạo.

Tiếng Hán-Trungđại, như được ghilại trong các vậnthư kiểu Thiếtvận (Qièyùn, thếkỷ VII), có một cấutrúc âmtiết rất phântiết. Đốivới chữ 作 (zuò) trong 工作 (gōngzuò), phụcnguyên phổbiến là /tsa/ hoặc /tsak/, với:

– phụâm đầu: ts‑ (xát‑xát vôthanh),
– âmchính: /a/
– vầncuối: ‑k (tắc âm vòm mềm vôthanh), thuộc loại thanhnhập (rùshēng)

Âm Hán‑Việt 作 đọclà tác, phùhợp với quyluật đốiứng  Hán‑Việt.

Những điểm thenchốt:

1. Chuyểnđổi phụâm đầu [ts‑] → [k‑] là bấtquytắt, gợiý một quátrình bảnđịahoá hoặc vaymượn từ khẩungữ.

2. Vầncuối môingạc [‑əwkpʔ] được bảotoàn trong cuộc, tươngứng với MC /‑ak/.

3. Thanhnặng phùhợp với thanhnhập truyềnthống.

Liênhệ ngữnghĩa-ngữâm: cuộc, cục và bóngdáng của 局

Một lýdo khiến côngcuộc thường bị hiểunhầm 公局 hay 工局 là sự tươngđồng ngữâm-cấutrúc giữa cuộc và cục (局):

 ▪ cục HV: Mandarin /jú/, MC /kuawk/, dùng cho đơnvị hànhchính;
 ▪ cuộc: pháttriển từ 作, nhưng do hìnhthức và chứcnăng tươngtự, thường bị táiphốitrí như thể có nguồngốc từ 局.

Sựnhầmlẫn càng tăng do sự hộitụ vậnmẫu: cục /kuawk/ và cuộc /kəwkpʔ/ đềucó cấutrúc [k‑w‑k‑p̚], với âmcuối đóngmạnh và nguyênâm trònhoá.

Hoàtrộn ngữnghĩa trong quátrình hìnhthành từghép

Trong cả Hánngữ lẫn tiếngViệt, các từghép liênquan đến 工作 (côngviệc), 局 (cơquan), và 作 (làm) đều thuộc miềnnghĩa ‘nghiệpvụ’ với ýnghĩa mà cuộc được dùng trong trườngnghĩa này. Trong Hánvăn, 局 (jú) có nghĩalà “cục”, “váncờ”, rồi mởrộng thành “cụcdiện”, “tìnhthế”; còn 作 (zuò) trong từghép mang nghĩalà “làm”, “tácđộng”, phùhợp với chứcnăng của cuộc trong các tổhợp như côngcuộc vậnđộng.

Sựtươngđồng ngữâm giữa cuộc và cục tạo điềukiện cho liênhệ ngữnghĩa–ngữâm (nhiễmâm, dânngữ nguyênthuỷ), nhấtlà khi bốicảnh hoặc trìnhđộ Hánvăn hạnchế. Hiệntượng này cóthể gọilà “hoàđiệu nhiễmâm” hoặc “liênhệ đồnghoá”, và là một quyluật táidiễn trong miền Hán‑Việt.

Kếtluận – Phântích từ Hán-Nôm côngcuộc, đặcbiệt là biếnđổi ngữâm tạonên hìnhvị cuộc, là một trườnghợp điểnhình về tầnglớp, sángtạo và phânhợp trong tiếpxúc Hán‑Việt. Qua sựchuyểnhóa từ Hán Trungđại /tsak/ thành cuộc, ta thấyrõ sựtươngtác giữa sự thíchứng ngữâm, táiphốitrí ngữnghĩa và đồnghoá cấutrúc:

 ▪ Chuyểnđổi [ts‑] → [k‑], tuy bấtquytắc, phảnánh xuhướng bảnđịahoá khẩungữ hoặc vaymượn phươngngữ.
 ▪ Bảotồn vần môingạc [‑əwkpʔ] phùhợp với âmvị tiếngViệt, tạo điềukiện cho sự hìnhthành các hìnhvị mới và dođó nhầmlẫn với cục.
 ▪ Vaitrò của sựnhiễmâm trong cấutạo từghép và hoàtrộn ngữnghĩa chothấy ranhgiới giữa từvựng Hán‑Việt và bảnđịa là thấmnhuần và linhhoạt.

Chứngcứ sosánh trong khuvực Hánngữ chothấy vừa có những cộirễ chung, vừa có những lộtrình riêng của tiếngViệt. Mặcdù côngcuộc có nguồngốc từ 工作, hìnhthức và nghĩahiệnđại của nó thểhiện sựtổnghợp sángtạo giữa disản Hánngữ, thích-ứng bảnđịa và quátrình táitạo từvựng liêntục của tiếngViệt.

Khi bànvề từnguyên của các từ Hán‑Việt, tácgiả giớihạn phạmvi phântích vào những tưliệu có ảnhhưởng nộiđịa trong khung thamchiếu Hánngữ nhằm mụcđích sosánh. Trên thựctế, điềunày cónghĩalà tậptrung vào những nguyênngữ xuấthiện đồngthời trong cả tiếng Hán lẫn Việt, kểcả những từ ngoạilai đi vòngqua tiếngHán trước khi đivào tiếngViệt.

Những vídụ sau minhhoạ cách sànglọc này:

  • TiếngViệt “mắt” được biểuthị bằng 目 mù (HV mục) trong tiếngHán, cóthể liênquan đến tiếng Mãlai “mata”.
  • TiếngViệt “gạo”, biểuthị bằng 稻 dào (HV đạo), tươngứng với tiếng Thái /gaw/.
  • Những từ ngoạilai khác gồm: HV kỹsư (技師 jìshī), từ vaymượn từ tiếngNhật gishi—tráinghĩa với cáchdùng tiếngHán hiệnđại đểchỉ “thợmáy”; bệnhviện (病院 bìngyuàn), cũng từ tiếngNhật; ưumặc (幽默 yōumò, dịch từ tiếngAnh “humor”); câulạcbộ (俱樂部 jùlèbù, “club”); và các tênquốcgia như Anh (英 Yīn “England”), Mỹ (美 Měi “America”) từ tiếngAnh, Pháp (法 Fǎ “France”) từ tiếngPháp, và Đức (德 Dé “Germany”) từ tiếngĐức “Deutsche”.
  • Những môhình biếnđổi ngữâm quansát được trong từngữ cốtlõi giữa tiếngHán và tiếngViệt gợiý sựbảotồn của tầnglớpnền của tầngngônngữ Việt (Yue) cổhơn. Những tiếpxúc này rõràng có niênđại sớm hơn cả quátrình bànhtrướng Tần-Hán xuống miềnnam Trunghoa (206 TCN–220 SCN). Nhiều từvựng thuộc tầngnền này cònđược ghichép vữngchắc trong Tựđiển Khanghi (康熙字典), biênsoạn vào đờiThanh do Vua Khanghi chủtrì, nhấnmạnh mứcđộ ănrễ lịchsử sâuđậm của chúng. (1)

Nhìn từ gócđộ ngônngữhọc, sựápđảo của các đặctính Hánngữ trong hầuhết từngữ tiếngViệt —baogồm thanhđiệu, cấutrúc hìnhthái, đặctính ngữâm, và xuhướng songâmtiết — đã khiến nhiều nhànghiêncứu suydiễn rằng tiếngViệt có nguồngốc Trunghoa. Tuyvậy, khi mứcđộ hộinhập ngữâm và ngữnghĩa tănglên, khảnăng vaymượn cũng tăngtheo. Điềunày thểhiện rõnhất trong các ngônngữ Tai‑Kadai, đặcbiệt là trong phânnhánh Tai‑Kam‑Sui, nơi hầunhư mọi từvựng đều cóvẻ xuấtxứ từ các nguồn Hánngữ. (cf. Comparative Sino-Tibetan Etymologies)

TiếngViệt gạo (“gạomễ”) thườngđược sosánh với tiếngThái /gaw/, trongkhi nếp trong (“gạonếp”) tươngứng với Thái /nɛp/ và Lào /nèep/. Những tươngứng này songhành với các dạng chữHán 稻 dào (HV đạo, HN gạo) và 糯 nuò (HV nọ, HN nếp), vốn cũnglà những từ vaymượn từ Việt-Thái (Taic-Yue) trong chính tiếngHán.

Ngượclại, tiếngViệt lúa (chỉ “lúanước”) cóvẻ là một từ bảnđịa thuộc tầng Việt‑Thái, tươngứng với Lào /lua/ và Choang /luə/, và đốiứng trựctiếp trong tiếngHán lạilà 來 lái (HV lai) (Xem Bảng 3 dướiđây) — từ vềsau dùng đểchỉ kháiniệm lại. Hiệntượng này tháchthức nhậnđịnh của A. Starostin (1953–2005) cho rằng lúa phảnánh một từvaymượn Háncổ xuấtphát từ 稻 dào, được phụcnguyên thành [ lhu:ʔ < dạng nguyênthuỷ ly:wH ] với các nghĩalà “gạo”, “hạt”, và “lúa”. Khung sosánh rộnghơn của Starostin mởrộng đến tiếngMiến /luh/ (chỉ “một loài hạt”, Panicum paspalum), tiếng Kachin /c^əkhrau1/ (“lúa sắp xay vỏ”), và tiếng Kiranti lV (chỉ “kê”), mà ông xemnhư thuộc một trườngnghĩa bảnđịa của tiếngHán. Tuyvậy, cách hiểu này đòihỏi phải phânbiệt cẩntrọng giữa các dạng Việt‑Thái thừahưởng — là thứ tiếng mà tiếngViệt chiasẻ trậttự cúpháp [ danhngữ + bổngữ ] — và các tầngphủ Hánngữ vềsau.

Một sựthậntrọng tươngtự cũng cần ápdụng đốivới những từ thườngđược xếpvào tầng Môn‑Khmer thuộc ngữhệ NamÁ. Khi các đốiứng ngữâm khôngphùhợp với quyluật biếnđổi âmthanh đãđược xáclập, hoặc khôngtươngứng về trườngnghĩa, thì những từ này cókhảnăng caohơn là các từvaymượn liênnhóm do ảnhhưởng từ sự cậnkề địalý và tiếpxúc lâudài.

Bảng 3 – Nguồngốc chữviết và sự hộinhập từnguyên: 來 và 麥,
và trườnghợp tiếngViệt “lúa” và “lại”


    Chữ 來, nay được hiểu rộngrãi với nghĩalà “lại”, vốncó nguồngốc là một tượnghình (象形) miêutả bônglúamì. Các biếndạng tổtiên của nó baogồm 麥 (OC mrɯːɡ, “lúa”) và 麳 (OC rɯː, “lúamì”). Trong các dạng chữ nguyênsơ, nétdọc ở giữa biểuthị bônglúa, hai nét hướnglên haibên biểuthị lá, và các nét hướngxuống biểuthị thân và rễ. Một nétngang ở đỉnh thườngđược thêmvào, cóthể nhằm nhấnmạnh phần bông. Sosánh với 禾, vốncó cấutrúc tươngđồng.

    Chữ này được mượn để biểuthị ýnghĩa “đến” ngay trong Giápcốtvăn. Trong thời TâyChu và Chiếnquốc, các bộphận ngữnghĩa như 止 (“chân”) và 辵 (“đi”) được ghépthêm vào thành 麥 để phânbiệt ýnghĩa nôngnghiệp nguyênthuỷ với độngtừ mới nổi. Mộtsố họcgiả chorằng dạng pháisinh 麥, được hìnhthành bằng cách thêm 夊 (“đi chậm”), mới là chữgốc biểuthị nghĩalà “tới”. Tuyvậy, những bổsung này khôngđược giữlại trong các hệthống chữviết này vềsau. Nếuvậy, nghĩa “tới” của 來 và nghĩa “lúamì” của 麥 cóthể đã tráođổi chonhau do 來 đượcdùng nổitrội nhưlà một độngtừ.

   Theo Thuyếtvăn (說文) Hứa Thận liênkết trườngnghĩa 麥 “lúamì” và 來 “lại” theolối thầnthoại: 天 所 來 也 (“nó từ Trời tới”). Cáchhiểu này cóthể được củngcố bởi bằngchứng khảocổ chorằng lúamì khôngphải sảnvật bảnđịa của Trunghoa màlà được dunhập “từ Trời”.

    Về ngữâm, cả 來 và 麥 đều được phụcnguyên với phụâm đầu */mr‑/ trong Háncổ. Ở 來, âmđầu lỏng /l/ được giữlại, còn 麥 giữ lại âmmũi /m/. Về từnguyên, 來 cónguồngốc từ Proto‑Sino‑Tibetan /la‑j/ ~ /ra/ (“đến”) (STEDT), và là đồngnguyên với:

▪ 迨 (Háncổ *l’ɯːʔ, , “tới”)
▪ 賚 (HC *rɯːs, “rưới” với ýnghĩalà “bancho”)
▪ 蒞 (HC *rɯbs, “lại”) – Schuessler (2007)
▪ Burmese လာ (la, “lại”)
▪ Proto-Vietic *laːjʔ

    Sựbiếndạng sang tiếngViệt lại (HV lai) cóthể liênquan với 來 (HTC ləj < HC *mrɯːɡ, cónghĩalà “tới”). 

    Baxter–Sagart (2014) ghinhận rằng 來 có quỹđạo pháttriển bấtquytắc, cóthể do mất âmcuối /‑k/ trong một biếndạng khôngnhấnmạnh, rồi vềsau lạiđược nhấnmạnh lại:

▪ 來 *mə.rˤək > *mə.rˤə > *rˤə > loj > lái (HN “lại”)

    Tuyvậy, chiềuhướng này khônggiảithích trọnvẹn sựhiệndiện bấtquytắc của âmcuối /‑ʔ/ biếnthành thanhnặng trong tiếngViệt. Nếu giảđịnh có một giaiđoạn trunggian nơi */‑k/ > /‑ʔ/ rồi nó mấtđi, chophép tiếngViệtcổ vaymượn trong khoảng thờiđiểm đó, thì sự biếnđổi thanhđiệu cóthể giảithíchđược. Nhưng sựbiếndạng ở tiếngViệt lại khônggiữ dấuvết của ‑rˤ‑ (như ‹r› hoặc ‹s›), gợiý một lần vaymượn muộnmàng, saukhi r(ˤ) > l đã xảyra. Điềunày đặtra vấnđề phải bổsung thêm về thanhđiệu và sựhộinhập ngữâm.

   Để sosánh, tựdạng Choang (Tráng hoặc Nùng) /lai/ tươngứng với Proto‑Tai /*ʰlaːjᴬ/ (“rất”) [sosánh tiếngViệt lắm], vốn cónguồngốc từ chữ Háncổ 多 (OC *t.lˤaj). Các đồngnguyên baogồm:

▪ Thai lǎai
▪ Lao lāi
▪ Lü l̇aay
▪ Shan lǎay
▪ Bouyei laail
▪ Saek หล่าย
▪ Jizhao laːi²¹
    
Những biếndạng này gợiý một mạnglưới ngữâm-ngữnghĩa rộnglớn mà 來 thamgia, trảidài từ Hán‑Tạng, Việtcổ đến Tai‑Kadai.

(Xem 來 – Wiktionary)

II) Ngoạilệ ngữâm và sosánh phươngngữ

Nguyêntắc ngoàilề này không mangtính phổquát. Trong mộtsố trườnghợp, một âmtiết hìnhvị đơn được xếpvào loại “từ” lại bị chiphối chủyếu bởi sựluânphiên chuyểnđổi ngữâm, đồngthời mangthêm những đặctính vượtngoài thanhđiệu mà không ănkhớp trọnvẹn với các mẫuhình đãđược xáclập. Chẳnghạn, tỏi 蒜 suàn (HV toán, HN “tỏi”) biểulộ sự luânphiên /s‑ ~ t‑/ và /‑n ~ ‑i/, trongkhi chua 酸 suān (HV toan, HN “chua”) lại khôngtheo mẫuhình ấy. Tuyvậy, những trườnghợp nhưvậy vẫnđược xếpvào loại từ vaymượn hay ítra là đồngnguyên dựatrên độ tươngcận tổngthể.

Xét chữ 兒 ér, tươngứng với HV nhi, và chora các biếndạng HN nhỏ (chỉ “đứatrẻ”), HN nhí (“embé”), và nhínhảnh (với nhảnh là một âmtiết lấpláy để nhấnnhá ýnghĩa từtố đitrước nó (sosánh nhínhanhínhảnh, tươngtự hậutố “‑ish” trong tiếngAnh), tráingược với nhỏ 孺 rú (HV nhụ, sosánh “nhonhỏ”). Từđó cóthể kếtluận rằng nguyênngữ nhi đi vào tiếngViệt qua tiếngHán Trungđại, và các dạng dẫnxuất kểtrên đềulà từ vay Hánngữ.

Khi sosánh với các phươngngữHán phươngnam khác, và tráingược với giảđịnh phổbiến, tiếngViệt— ngoàiviệc chiasẻ một phổ thanhđiệu rộng (tới chín thanh) — lại tươngứng gầnhơn với tiếng Quanthoại hơnlà Quảngđông, Mânnam, hay Ngô, đặcbiệt trong miền từvựng. Chỉ mộtsố rấtít từ Quảngđông bảnđịa có đốiứng trong tiếng gọilà thuầnViệt (theo quanniệm nhiềungười khác), chẳnghạn:

  • QĐ sik6 → HN xơi (“ăn”)
  • QĐ jam2 → HN uống (“uống”)
  • QĐ gai1 → HN gà (“gà”)

Ngượclại, những dạng QuảngĐông hiếmgặphơn lại khôngcó đốiứng trựctiếp trong tiếngViệt, vídụ:

  • QĐ fajng1kao1 (“ngủ”) ≠ QT 卧 wò — tươngứng HV ngoạ → HN ngủ
  • QĐ pin5tow2 (“ởđâu”) ≠ QT 哪裏 nǎlǐ — tươngứng HV nalí → HN nơinào
  • QĐ tzuo3 (“rồi”) ≠ QT 了 liǎo — tươngứng HV liễu → HN rồi

Triềuđại NhàĐường 700 AD
Source: from “The T’ang Dynasty, 618-906 A.D.-Boundaries of 700 A.D.” Albert Herrmann (1935). History and Commercial Atlas of China. Harvard University Press.

Người nói tiếngQuảng cóthể truynguyên lịchsử của dân mình đến một phần đángkể của nước NamViệt cổ (204–111 TCN). Kinhđô Phiênngung 番禺 (nay thuộc Quận Phiênngung, TP Quảngchâu, TQ) được thiếtlập dưới quyền caitrị của vịvua sánglập Triệu Đà 趙佗 (Zhao Tuo) và được duytrì bởi các vươngtriều kếthừa. Thểchế phươngnam này đánhdấu lànsóng Hánhoá sơkỳ của vùngbiên này, nơi các truyềnthống BáchViệt bảnđịa giaothoa với vànhđai vănhóa và ngônngữ Hán đang tiếnbước. (2).

III) Sự phânkỳ giữa tiếngQuảng và tiếngViệt sau thời NamViệt

Saukhi NamViệt bị sápnhập vào Trunghoa (中國), quátrình Hánhoá tiếptục tăngtốc. Điềunày đã xúctiến sựphânkỳ giữa tiếngQuảng và tiếngViệt, khiến chúng trởthành hai thựcthể ngônngữ-vănhóa riêngbiệt. Mỗi ngônngữ phátriển theo một lộtrình lịchsử táchbiệt, và chỉcó Annam là cuốicùng giànhđược độclập khỏi quyền caitrị của Trunghoa vào năm 939 SCN.

Thànhphần gen ditruyền và vănhóa của cộngđồng nói tiếngQuảng hiệnđại khácbiệt đángkể sovới tổtiên của họ thời tiền‑Hán và cưdân từng sinhsống tại vùngđất này cho đến thếkỷ thứ 10. Cókhảnăng mộtsố nhóm thânthuộc đã dicư xuống phươngnam vào lãnhthổ Annam, một hiệntượng lặplại qua nhiều thếkỷ trong lịchsử đanxen của khuvực. Tại Trunghoa, những lànsóng dicư nhưvậy thường xảyra để tránh đóikém, đànáp, hoặc biếnđộng chínhtrị. Tươngtự, cưdân Annam cổ cũng dichuyển xuống phươngnam để thoátkhỏi tầm kiểmsoát của đếquốc.

Đến thờiđiểm những lànsóng dicư này xảyra, những nhóm địnhcư mới sẽ gặp các cộngđồng khôngquá khácbiệt sovới chính họ, đặcbiệt trong bốicảnh cùngchung hoặc kềcận một thểchế. Biêngiới giữa Trunghoa và Việtnam trong phầnlớn lịchsử khá thôngthoáng, tạođiềukiện cho những chuyểndịch nhưvậy, chođếkhi nó bị đónglại vào năm 1949 dưới thời Mao.

Nếunhư Annam vẫn nằm dướiquyền thốngtrị của Trunghoa chođến hiệntại, lộtrình quốcgia của nó cóthể đã giốnghệt NamViệt (Quảngđông: NamJyut6), nay bị sápnhập vào Tỉnh Quảngđông. Trong lịchsử, Quảngđông từng sảnsinh hàngtriệu ngườidicư toảđi khắpthếgiới, baogồm cả Annam và các quốcgia ĐôngnamÁ khác. Ngượclại, nếu vùng Quảngđông rộnglớn giànhđược chủquyền độclập như Annam, cóthể dân của nhànước đó đã bảotồn được ngônngữ của họ nhiềuhơn. Tiếng Quảngđông, cũngnhư tiếngAnnam, nhờđó cóthể đã gìngiữ được những đặctính loạihình riêngbiệt, khiến việcphânloại trong họ Hán‑Tạng phảiđược xemxétlại. Điềunày cũng cóthể ápdụng cho tiếng Phúckiến (Hokkien) và Hảinam.

Hơn một thiênniênkỷ saukhi chấmdứt 1004 năm đôhộ giặcTàu, Việtnam đã vậtlộn với ông lánggiềng phươngBắc khổnglồ đề gìngiữ chủquyền lãnhthổ mongmanh của mình trong nhiều tìnhhuống, lúc thì cốgắng thích-ứng với những biếnđộng đổingôi quyềnlực ở phươngbắc, lúc thì chịu làm chưhầu khi bị nướcTàu lúc họ hùngmạnh đến xâmlăng. Sựcânbằng chínhtrị-vănhoá phứctạp này vẫnlà bàihọc đắcgiá của lịchsử hìnhthành nhànước Việtnam. Thídụ tìnhhình Việtnam sau thờikỳ bắcthuộc lần thứba khi triềuđình nhàMinh đưara chínhsách cho tiêuhuỷ toànbộ thưtịch của Việtnam và ápđặt nềnếp vănhoá-ngônngữ Hántộc với việc nhàMinh đôhộ nướcViệt chỉ trongvòng 23 năm (1414-1427). Biếncố đó với những chínhsách huỷdiệt vănhoá bảnđịa có tính diệtchủng của triềuđình NhàMinh đã ghiđậm những ảnhhưởng ngoạilai mà Hánngữ đểlại với những dấuấn khôngthể xoábỏ, thídụ như chỉ được giảngdạy và sửdụng tiếng Quanthoại tại thuộcđịa mà thôi. (Nguyễn Tài Cẩn, 1979).

Hậuduệ tiếngQuảng hiệnđại, nay đã Hánhoá hoàntoàn, chỉ cóthể tiếpcận disản tiền‑Hán của mình qua các ditích khảocổ như lăngmộ các vua NamViệt tại Quảngchâu ngàynay. Chữviết của NamViệt cóthể được phiênâm khi cần để phảnánh cách phát-âm lịchsử.

Hiệntượng Hánhoá trànngập vùng Quảngchâu đã địnhhình sâuđậm căntính ngônngữ bảnđịa. TiếngQuảngđông tuylà một nhánh ngônngữ BáchViệt đã bị Hánhoá đốinghịch rõrệt với tiếngViệt —một sựkhácbiệt bắtnguồn từ lộtrình lịchsử riêngbiệt của mỗi bên nhờ vào việc Việtnam thoátkhỏi quyềncaitrị của Trunghoa vào năm 939 SCN. Sựphânkỳ này là nềntảng của căntính dântộc Việt.

Tựutrung, chínhsách đếquốc của Trunghoa sauđó đã đểlại những dấuvết Hánngữ bềnvững trong các ngônngữ BáchViệt đang hìnhthành vào thời kỳ bansơ cho đến thời cậnđại, trongđó có tiếng Quảng và Việt. Mặcdù hai ngônngữ này có những tươngđồng đángkể, chúng khôngphải là “cùng họ” theo tưduy dângian. Thidụ, truyện Thầncung Bảokiếm kể về tổtiên của ngườiChoang (Tráng, hoặc Nùng) và ngườiViệt (LạcViệt) — mỗi tộc tựgọi mình bằng cùng một tộcdanh — là có quanhệ cộtchèo vớinhau màthôi. Điềunày thểhiện rõ ở sốlượng hạnchế các từnguyên Hán‑Việt mới được xácđịnh có chung cộirễ, chúng cho thấy mốiliênhệ bềmặt của truyềnthống Quảngđông và Annam cổđại. (3)

Mặcdù cùng cóchung tổtiên BáchViệt (Yue, Bod), ngườiViệt thường bộclộ nỗi hoàicổ về disản Việt (Yue), trongkhi nhiều ngườiQuảng lại khôngbiết hoặc không mấy quantâm đến nguồngốc Yue (Việt) của mình. Môhình Quảngđông là một bàihọc lịchsử: sự Hánhoá cưdân ở NamViệt đã ảnhhưởng sâuđậm đến tiếntrình hìnhthành tiếng Quảngđông cổ của dân ÂuViệt (甌越) với những tươngđồng nhấtđịnh với bộtộc LạcViệt (雒越) của Annam, là vùngđất tâynam của nước NamViệt bấygiờ, trướckhi nhàHán chinhphục và sátnhập vùng châuthổ Sông Hồng năm 111 TCN.

Tínhchất Hánngữ của các từnguyên Hán‑Việt và từvựng Hánngữ trong tiếngQuảng là khôngthể phủnhận. Điềunày được xácthực qua sự phụthuộc chung vào các dạng tiếngHán Trungcổ và những tươngđồng ngữâm, baogồm hệthống thanhđiệu (tám thanh trong tiếngViệt sovới chín thanh trong tiếngQuảng) và các âmcuối (‑m, ‑p, ‑t, ‑k).

Trong số các từnguyên Hán‑Việt có nguồngốc từ tiếng Hán Trungcổ, mộttrongnhững trườnghợp gây tranhluận nhiềunhất liênquan đến cách đặttên Thậpnhị canchi. Hệthống này hélộ những căntính của tầngnền trong thuậtngữ Hán‑Việt, có nguồngốc thời Việtcổ và Háncổ trướckhi đivào tiếngViệt thời Trungcổ. Những dạng này vắngmặt rõrệt trong tiếngQuảngđông, cólẽ vì mứcđộ Hánhoá của nó sâuhơn. Các yếutố vănhóa của mườihai congiáp — vốnđược dùngchung trong vănhoá Hán và các sắctộc thiểusố phươngnam, gồmcả tiếngViệt và các ngữchi Môn‑Khmer — là vídụ điểnhình của sự bảotồn tầngnền này.

Chẳnghạn, tên Năm Ngựa (馬年) của năm 2014 hoặc 2026 còn có cách gọilà năm GiápNgọ (甲午年, Jiǎwǔ Nián) và BínhNgọ (丙午年 Bǐngwǔ Nián). Ởđây, Ngọ 午 Wǔ của mườihai canchi, một từ vaymượn của tiếng Háncổ từ cáchđọc Việtcổ mang âmhưởng và ýnghĩa là “ngựa” (tráingược với từ Hán thôngdụng là 馬 “mã”). Là một chứngtích của disản Việtcổ, khi têngọi “năm GiápNgọ” vẫncòn đượcdùng ở Trungquốc thờinay mặcdù dân của họ gọi nhưthế nghe cóvẻ xalạ hơnlà khi dùng têngọi Năm Ngựa (馬年).

Một vídụ điểnhình khác là têngọi của cuộc Cáchmạng TânHợi (辛亥 革命) ngày 10 tháng 10 năm 1911, khi dân Trunghoa lậtđổ triềuđình phongkiến nhàThanh. Chữ 亥 (QT hài, HV “hợi”), là một từvaymượn từ Việtcổ khác mà Hán‑Nôm dùng đểchỉ con heo. Vìvậy, năm 1911 được nhớ đến là Năm TânHợi nghe taonhã hơnlà “Năm Heo” như bìnhthường ngườiHoa quenmiệng gọi. (Boltz 1991)

Một trườnghợp khác là mẹo, đólà một biếndạng từ 卯 (máo, HV mão), vềsau được tái dunhập thành Hán‑Việt mão. Trong truyềnthống Việt, 卯 là địachi thứtư, nhưng tráingược với cáchdùng của ngườiHán — nơi họ “gán-ép” 卯 máo với 兔 tù (HV thố, HN thỏ) — mà tiếngViệt tươngứng với mèo, một ýtưởng bìnhthường rấtlà lôgíc, vì mão (= mèo) không đồngâm với thố (thỏ) được. Vìvậy, trongkhi ngườiHán gọi là “Năm Thỏ” 兔年 (Tùnián) đểchỉ “Năm Mèo” (卯年 Máonián, HV Mãoniên, HN nămMão hoặc nămMẹo, hay thôngtục nămMèo) chứ khôngai gọilà Thốniên. Sựkhácbiệt này chothấy sựbảotồn liênhệ đến tiếngViệt cổđại chứ “NămMèo” của ngườiViệt khôngphải là sựtáidunhập của “Năm Thỏ” từ Hánngữ màra.

Thídụ còn nhiều. Tiếptheo thêm một trườnghợp đồnghành là 未 (wèi tươngứng với HN /je1/, “dê”, HV vịmùi). Kháiniệm phươngnam nguyênthuỷ của 未 wèi là đểchỉ con “dê” (羭 yú, HV du), vềsau bị thaythế bởi các từ phươngbắc chỉ “cừu” (羯 jié, HV kiết), mặcdù trong tiếngHán còncó từ 羊 (yáng, HV dương) đểchỉ “dê” như cáchgọi thôngthường của nhiều phươngngữ phươngnam đều cónghĩa “dê”; từghép 山羊 (shānyáng, HN “dênúi”) càng củngcố cách hiểu này. Sựchuyểndịch âmnghĩa này phảnánh nãotrạng của ngườiTàu phươngbắc, nơi 羊 “dê” cần đượchiểu là “cừu” với nhiều biếndạng khácnhau (羔 gāo, HN cừu). Trongkhi 未 (wèi, HV vị) HN “dê” /je1/ tươngứng với HV dương (羊 yáng).

Nhưthế 未 có khảnăng bắtnguồn từ một dạng Việtcổ gầnvới /je1/ hoặc /ze1/ được dângian Hán vaymượn= để đưavào hệthống Thậpnhị canchi của tiếngHán. Dạng Hán‑Việt cổ (/je1/) vìvậy bảotồn một cáchphátâm tầngnền khácbiệt so với Quanthoại /wèi/. Trong bốicảnh này, 未 là dạng phiênâm của một từ Việtcổ ngoạilai gầnvới âm “dê” để thaythế cho 羊 — sosánh: Triềuchâu (/jẽw1/), Amoy (/jũ1/), và Hảinam (/jew1/) — như Triềuchâu (/jẽw1/), Amoy (/jũ1/), và Hảinam (/jew1/) mà từ này vốn trong vănhóa phươngbắc còn được sửdụng để gáncho con “cừu” vì dânTàu phươngBắc thích ăn thịt cừu!

Âm Hán-Trungcổ của 未 có nhiều biếnthiên đángkể — /mwe̯i/, /mĭwəi/, /miuəi/, /mʉi/, /mʷɨi/, /muj/— và vềsau một phânnhánh biếnthành HV mùi /mʷɨi2/ và HV vị /vjej6/ “dê”. Sựchuyểndổi ngữâm từ /v‑/ sang /j‑/ hay /z‑/ trong HN dê gợiý một lần vaymượn nữa từ ngữâm phươngnam qua một giaiđoạn trunggian /wj‑/. Trong kịchbản này, Quanthoại /wèi/ là một dạng vaymượn ngược là từ âm Háncổ /mɯds/, như 《說文》 Thuyếtvăn chép: 未, 味也 (dịch Nômna: “Dê, là mùi vậy.”).

Chữ 未 vìvậy ngoài ngữnghĩa và ngữâm thành HV vị (cónghĩalà “chưa”, chỉ “tươnglai”) — như trong vợchưacưới (未婚妻 wèihūnqī, HV vịhônthê) — nó phânnhánh thành âm HV mùi (chỉ “dê”), như trong Năm ẤtMùi (乙未年 YǐWèiNián, “Năm Dê”). Cókhảnăng 未 được dunhập từ ngônngữ cộngđồng nói tiếng BáchViệt cổ ở Hoanam hoặc Annam trước thời Háncổ. Mặcdù cả tiếng Háncổ lẫn tiếng Việtcổ đều khôngcó phụâm đầu /v‑/, các phươngngữ phươngnam cóthể đã bảotồn một âmdạng gần với /jej/ hay /zjej/ để gần âm “dê” và “wej” (vị). Tómlại chữ 未 tiếng Háncổ là để kýâm gần “dê” của BáchViệt.

Vấnđề truycứu từnguyên nhưvậy tỏra phứctạp khi tiếngViệt  cóthể cũng là một dạng songđẳng của 羊 (yáng), thểhiện trong cả HN và HV dương (/jɨəŋ1/), và chúng songhành với âm Triềuchâu yẽo (/jẽw1/) lẫn vài phươngngữ MânViệt khác, đều cónghĩalà con “dê”. Những dạng này củngcố giảthuyết rằng tiếngViệt bảotồn một tầng từvựng nền khácbiệt với các pháttriển Hán phươngbắc.**

Trong hệthống Thậpnhị Canchi, các năm như 1955, 2015, hoặc 2075 — chínhthức gọi trong tiếngViệt là Năm ẤtMùi (乙未年 YǐWèinián) — nay trong tiếngHán đạilục thường đượcgọi chung là 羊年 (Yángnián, HN “Năm Dê”). Đángchúý, giớitrẻ TrungQuốc thường khôngnhậnra ýnghĩa lịchpháp hoàngđạo của 乙未年, trongkhi thanhniên Việt vẫn quenthuộc với cả nămẤtMùi lẫn nămDê. Điềunày thểhiện trong các cáchnói như: 我 的 生 於 乙未年 (Wǒde shēng yú YǐWèinián; Tôi sanh năm ẤtMùi) và 我 的 生肖 屬羊 (Wǒde shēngxiào shǔyáng; Tôi cầmtinh conDê), hoặc đơngiản 我 屬 羊 (Wǒ shǔ Yáng; Tôi tuổi Dê).**

Sựliêntục vănhóa này củngcố giảthuyết là 未 cónguồngốc là một từ vaymượn Việt cổ, cóthể phụcnguyên gầnvới /jẽ/ hay /zẽ/, khácbiệt với 羊. Sự tươngtác ngữâm-ngữnghĩa giữa 未 và 羊 còn được thấyrõ trong chữ 美 (měi, HV mỹ /mej4/, nghĩalà “đẹp”), nơi 羊 (“dê”) đặt trên 火 (“lửa”) tạonên trườngnghĩa là “hươngvị đẹp”. Mốiliênhệ từnguyên giữa 美 và 未, đặcbiệt qua HV mùi (/mʷɨi2/, “dê”), chothấy tiếngViệt bảotồn những liênhệ từvựng–biểutượng tầngnền khácbiệt táidiễn trong ngônngữ phươngbắc vềsau. (4) 

Hai trườnghợp trong 12 Chi, 卯 và 未 nêutrên, có những hàmý rộnghơn đối với côngtrình sosánh Hán‑Tạng. Phântích sâuhơn ta cóthể tiếp khảosát các đồngnguyên tiếngViệt khác như HV ngọ (午 wǔ, HN “ngựa”) và HV sửu (= HN “trâu”, 丑 chǒu < HTC ʈʰuw < HC *n̥ʰuʔ).

Các cặp bàitrùng có đẳngthức tươngứng cóthể ứngdụng để giảithích bổsung thêm về các từ đadạng đồng gốc baogồm:

    Việt       Nghĩa   Tạngcổ              Ghichú                 

    cẳng          chân         rkań          Tươngứng ngữâm

    mắt            mắt          mig           Cf. Malay /mata/

    sông          sông         kluń          Cf. Việt‑Mường */krong/

    bò            bò            ba            Tươngứng ngữâm

Những tươngứng này gợiý rằng các từ trên cóthể đã tồntại trong Việt‑Mường nguyênthuỷ hoặc pháttriển độclập trướckhi có ảnhhưởng Hánvăn vềsau. Chúng mởra những chiềuhướng nghiêncứu mới về mốiliênhệ của tiếngViệt với ngữhệ Hán‑Tạng sẽ được minhhoạ ở các phầnsau qua bảng từvựng cơbản sosánh của Shafer (1966–1974). (5)

Bảng 5 – Trườnghợp “Năm Mèo”

Theo Nguyễn Cung Thông, mốiliênhệ giữa Mão, Mẹo và mèo khá trựctiếp: các âm này đều thuộc nhóm thanh “thấp” và cùng mang nguyênâm e (như trong Mẹo, mèo), vốnlà dạng cổhơn sovới nguyênâm a (như trong Mão). Các vídụ trong đốiứng HV/HN baogồm: hè/hạ, xe/xa, keo/giao, vẽ/hoạ, mè/ma, chè/trà, beo/báo, v.v. Sựnhầmlẫn giữa mèothỏ trong vănhóa Hán thểhiện rõ trong trườnghợp thốtôn (兔猻), một loài mèorừng đang dần biếnmất. Loài này phânbố tại TrungÁ, Siberia, Kashmir, Nepal, Thanhhải, NộiMông, Hàbắc, Tứxuyên, Tâytạng và Tâncương; còn được gọi là xálịtôn (猞猁孫) hay steppe cat trong tiếngAnh, và thường sinhsống ở vùng hoangmạc.

Khi ngườiHán mởrộng xuống phươngnam và về phíatây, hiệntượng “nhầmlẫn mèo với thỏ” (tươngtự thànhngữ Việt “nhầm gà ra cuốc”) trởnên rõrệt, thểhiện qua tên gọi thốtôn.

Sựnhầmlẫn này phầnnào giảithích vìsao Địachi thứtư (Mão, Mẹo) trong ngữcảnh nguyênthuỷ lại gắnvới mèo chứ không phải thỏ. Thốtôn (兔猻) còn đượcgọi là dươngxálị (洋猞猁), ôluân (烏倫), mãnão (瑪瑙), hay mãnãotặc (瑪瑙勒). Từ xálị (猞猁) chỉ một loài mèorừng (lynx). Từ Hán‑Việt miêu (貓) nghĩa là “mèo”, nhưng trong Háncổ, miêu lại chỉ một dạng “hổ ít lông”, khôngphải mèonhà. Điềunày củngcố giảthuyết rằng Mão (卯) vốnlà một dạng phiênâm của một từ ngoạilai (nhiều khảnăng là một từ Việtcổ) được dunhập vào tiếngHán.

Địnhnghĩa miêu trong Nhĩnhã (爾雅) chép: “Hổ ít lông gọi là 虦貓 (sạnmiêu)”. Theo Ngọcthiên, sạn/sàn (虦) cũng chỉ “mèo”. Chữ 虦 (biếnthể hiếm viết là 虥) chỉ một loài mèorừng có vằn. Trongkhi đó, thố/thỏ (鵵) trong nghĩa cổ lại chỉ một loài chim, còn mãn (梚, một chữ hiếm) chỉ một loàicây trong thưtịch Háncổ. Trong phươngngữ Hẹ, thỏ đọc là t’u2 (gần với thổ), khác với cáchđọc của mão (mèo) và thố/thỏ.

Để hiểu vìsao ngườiViệt gán mèo cho Địachi Mão (卯), một giảithích phổbiến trong nguồn Hán là âm Mão khi dunhập vào tiếngViệt nghe giống mèo hoặc miêu (HV “mèo”). Tuyvậy, nếu nóirằng vì âm mèo giống Mão nên ngườiViệt chọn mèo làm biểutrưng, thì khó giảithích vìsao nga (ngỗngtrời, chim biển) — gắnbó mậtthiết với đờisống Việt (đánhcá, sống venbiển), và có dạng cổ ngwa gần với Ngọ (午) — lại không được chọn làm biểutrưng cho Địachi Ngọ. Tươngtự, âmcổ của Mùi (未) gần với muỗi, nhưng ngườiViệt lại chọn dê chứ không chọn muỗi. Còn rấtnhiều cặp tươngứng ngữâm tươngtự nhưvậy.

Mặcdù chữ Nôm còn khá “trẻ” để phântích các liênhệ ngữâm của 12 con giáp, mộtsố điểm đángchúý baogồm việc dùng mèo (và meo) với chữ Hán‑Việt miêu (貓), như trong Bạchvân Thitập của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585): “Lẻo lẻo doành xanh con mắt mèo”. Trongkhi đó, méo trong Nôm lại dùng chữ Mão (卯), đôikhi kèm dấu phụ, như trong Hồngđức Quốcâm Thitập (Lê Thánh Tông, 1442–1497): “Tròn tròn méo méo in đòi thuở”. Nhưvậy, sựphânbiệt giữa Mão và mèo đã tồntại ítnhất từ thời Lê, và khảnăng nhầmlẫn giữa Mão (âm Hán-Trungcổ được táidunhập vào Việt thời Đường‑Tống) và mèo (âm Việtcổ) là rất thấp.

Quytắc pháttriển tựnhiên của hệ chữviết loàingười là từ cụthể-đơngiản sang trừutượng-phứctạp. Chẳnghạn, tên độngvật thường được mởrộng sang nghĩabóng: “mặtchuột” (so với “mặtrồng”), “thântrâu”, “ăn như mèo ngửi”, “tính như rắn”. Vìvậy, giảithuyết mèo → Mão hợpquytắc luật hơn nhiều sovới Mão → mèo. Hệ thống đặt tên độngvật (đơngiản) quenthuộc với nôngdân được tíchhợp vào vănhóa Hán và chuyểnhóa thành hệ thống ghi thời-bóitoán (trừutượng, phứctạp). Hệ thống 12 congiáp nởrộ khi vănhóa Hán đạt đỉnh (Tần, Hán, Đường, Tống) và lantoả sang các vùng lâncận, baogồm Việtnam. Hiệntượng “vayngược” này thường bị bỏqua trong trườnghợp Việt.

Thựctế, ngườiViệt không cần phântích quámức mốiliênhệ tựnhiên giữa Mão, Mẹo và mèo, cũng như họ khônghề thắcmắc về mốiliênhệ giữa Tý (chuột), Ngọ (ngựa), Hợi (heo), hay Sửu (trâu). Khác với vănhóa Hán — nơi dùng các tổhợp đẳngthức như Mão Thố (卯兔, “Thỏ của Mão”), Tý Thử (子鼠, “Chuột của Tý”), hay Sửu Ngưu (丑牛, “Trâu của Sửu”) để nhấnmạnh mốiliênhệ của từng cặp bàitrùng — vănhóa Việt mặcđịnh nhậnbiết các cặp Mão–mèo, Tý–chuột, Sửu–trâu như những liênhệ tựnhiên.

Source: Nguyễn Cung Thông “Nguồn gốc Việt (Nam) của tên 12 con giáp – Mão/Mẹo/mèo”

Giảthiết đãđược trìnhbày về mặt từnguyên ởtrên đãđược hiệuđính lại và củngcố thêm với các từnguyên tiếngViệt cho thấy quanhệ đồngnguyên trựctiếp với cộirễ Hán‑Tạng. Những từnguyên này cóvẻ xuấtphát từ các ngônngữ Hán‑Tạng khác chứ không điqua kênh truyềnthống Hánvăn. Tầnsuất và tính nhấtquán của các tươngứng này quálớn để cóthể xemlà ngẫunhiên. Vìvậy, tácgiả đềxuất một phânloại ngônngữ mới: một phạmtrù riêngbiệt gọilà Hán‑Nôm (Sinitic‑Vietnamese). Phânloại này cóthể xứngđáng được đặt nganghàng với chính nhánh Hánngữ, khi xétđến tiềnđề lịchsử lậpluận rằng trong tiếngViệt tầngnền BáchViệt (Yue) tồntại trước Háncổ nguyênthuỷ, như đã thảoluận ở các bàiviết khác. Hơnnữa, các từ cơbản tiếngViệt được tríchdẫn trong Vietnamese Parallels with the Sino-Tibetan Languages chothấy những quanhệ đồngnguyên rõrệt với các từnguyên Hán‑Tạng, càng làm tăng sứcthuyếtphục cho giảthuyết này.

IV) Việc phântích và những khókhăn trongviệc phânloại

Vềmặt phântích, bảng khảosát từnguyên được trìnhbày ởđây kếthợp gócnhìn lịchsử đã phácthảo ở trên, xemxét tiếntrình pháttriển ngônngữ theo cả trục đồngđại lẫn trục lịchsử. Phươngpháp này giốngnhư việc chụplại từng “khunghình” trong một cuộnphim lịchsử — chophép ta tua nhanh, tua lùi, phóngto hay thunhỏ để đặt sựtiếnhóa từvựng vào đúng ngữcảnh. Tuyvậy, vịtrí niênđại của mộtsố từnguyên vẫncòn mơhồ.

Chẳnghạn, “béo” (肥 féi , HV phì) còn tươngứng với 油 yóu, như trong ngữcảnh 油膩 yóunì (HN béongậy), thểhiện mẫuhình /y‑ ~ b‑/ giữa Quanthoại và tiếngViệt (thídụ, 郵 yóu ~ HV bưu, 柚 yóu ~ HN bưởi, hoặc 游 yóu ~ HN bơi) — tấtcả đều phùhợp với điệpthức biếnđổi ngữâm Hán‑Việt. Mặcdù những hoánđổi này cóthể chấpnhận được, việc xácđịnh giaiđoạn tách-âm muộnnhất phụthuộc vào các phươngpháp sosánh sẽđược giớithiệu ở những bàiviết kếtiếp.

Xétrằng tấtcả các ngônngữ “bàcon” của tiếngViệt tại “Hoanam Trungquốc” baogồm các phươngngữ Hán khuvực nhưlà tiếng Quảng, tiếng Tiều, tiếng Hảinam, đều được xếpvào họ Hán‑Tạng, thì vìsao tiếngViệt lại được phânloại vào họ NamÁ, cụthể là nhánh Môn‑Khmer? Việc phânloại này làmsao hoàigiải với các chứngcứ từ đồngnguyên Hán‑Tạng và Hán-Nôm như trong bài nghiêncứu Vietnamese Parallels with the Sino-Tibetan Languages?

Tháchthức không nằm ở dữliệu mà nằm ở tưduy của những người gắnchặt với các khungphânloại kếthừa. Việc đánhgiálại phânloại cách tiếngViệt đòihỏi phải đốidiện với những giảđịnh đã ănsâu và thừanhận tính phứctạp của phảhệ ngônngữ Việt.

Kếtluận

Những chứngcứ được tổnghợp trong nghiêncứu này chothấy tiếngViệt không đơnthuần là một ngônngữ NamÁ, cũng khôngphải một ngônngữ Hán‑Tạng theo nghĩa trựctuyến, màlà nó mangtính “kếthừa lưỡngtính”. Đồngthời, hàng thếkỷ Hánhoá đã chồnglớp lên từvựng Hán Trungcổ, hệthống thanhđiệu và các đặctính ngữâm lên tiếngViệt, hìnhthành nên các tầng Hán‑Việt và Hán‑Việt học thấmđẫm trong lờinói hằngngày.

Phântích sosánh chothấy tiếngViệt táchbiệt khỏi tiếngQuảng và các phươngngữ phươngnam khác không phải vì thiếu ảnhhưởng Hánngữ, mà vì nó đitheo một lộtrình lịchsử riêng sau khi giành độclập năm 939  SCN. Tiếng Quảngđông ởlại trong lụcđịa Trunghoa và ngàycàng Hánhoá sâuhơn, trongkhi tiếngViệt cânbằng các yếutố Việtcổ (Yue) với những lớp vaymượn kếtiếp từ Hán, Nhật, và vềsau ngaycả từ các ngônngữ Ấn-Âu. Chính độnglực này đã tạo nên một ngônngữ vừa độcđáo Việtnam, vừa gắnkết mậtthiết với các lânbang.

Khókhăn trong phânloại không nằmở dữliệu mà ở các khungphânloại đã ănsâu vào trínão của người nghiêncứu. Tuynhiên tiếngViệt khôngthể bị giảnlược vào một hệ ngônngữ duynhất. Nó thíchhợp nhất là khi đượchiểunhư một phạmtrù Hán-Nôm độclập: một hệthống laighép nẩysinhra từ tiếpxúc với các ngônngữ thuộc Hán, thích-ứng, táitạo, và sángtạo. Việc thừanhận disản lưỡngkế này táiđịnhvị tiếngViệt như một ngônngữ hộitụ, nơi tiếngnói với tầngnền Việtcổ, tiếng Hán-Trungcổ, vănbản thuộcđịa và các cảicách hiệnđại cùng cộnghưởng.

Theo nghĩa đó, tiếngViệt khôngchỉlà một trườnghợp từnguyênhọc ngoạilai. Tưthân nó là một môhình mà bước tiếnhóa ngônngữ đã kinhqua lịchsử chồnglớp, địnhhình thành căntính với kýức vănhóa bềnbỉ tồntại trong từng âmtiết nhỏnhất qua nhiều thếkỷ tiếpxúc. Câuchuyện của tiếngViệt vìvậy là câuchuyện của sự tiếpthu để sinhtồn: một ngônngữ mang dấuấn Việtcổ, gồnggánh sứcép ngônngữ của đếquốc Hán đôhộ đènặng lên đôi vai của nó, cộng với sựsángtạo hoàđiệu của chính cộngđồng didân từ mẫuquốc đó đã đến địnhcư và bồidưỡng tiếngnói Việtnam đó.

Sách Thamkhảo:

Baxter, William H., and Laurent Sagart. 2014. Old Chinese: A New Reconstruction. Oxford: Oxford University Press.

Boltz, William. 1991. The Origin and Early Development of the Chinese Writing System. New Haven: American Oriental Society.

Ěryǎ 爾雅. n.d. Ěryǎ. Early Chinese lexicon. Various editions.

Ferlus, Michel. 2013. “Proto‑Vietic and Austroasiatic Reconstructions.” Various publications.

Guǎngyùn 廣韻. n.d. Guǎngyùn. Song‑dynasty rime dictionary.

Herrmann, Albert. 1935. History and Commercial Atlas of China. Berlin: Dietrich Reimer.

Huáinánzǐ 淮南子. n.d. Huáinánzǐ. Western Han philosophical text.

Jíyùn 集韻; Yùnhuì 韻會; Zhèngyùn 正韻. n.d. Jíyùn; Yùnhuì; Zhèngyùn. Classical rhyme books.

Kāngxī Zìdiǎn 康熙字典. 1716. Kāngxī Zìdiǎn. Commissioned by the Kangxi Emperor, Qing Dynasty.

Jerry Norman & Mei, Tsu‑Lin. 1976. “The Austroasiatic in Ancient South China: Some Lexical Evidence”. Various internet publications.

“Nanyue Kingdom (南越)”. 2025. Wikipedia. Accessed 2025.

Nguyễn Bỉnh Khiêm. 16th c. Bạch Vân Thi tập. Various internet editions.

Nguyễn Cung Thông. n.d. Studies on the Vietnamese Zodiac and Yue Substratum. Various internet publications.

Nguyễn Tài Cẩn (1979), Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội; tái bản: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002.

Norman, Jerry. 1985. Studies on Chinese dialects and Austroasiatic connections. Various publications.

Proto‑Austroasiatic, Proto‑Mon‑Khmer, Proto‑Vietic Reconstructions. n.d. Various sources.

Schuessler, Axel. 2007. ABC Etymological Dictionary of Old Chinese. Honolulu: University of Hawai‘i Press.

Shafer, Robert. 1966–1974. Introduction to Sino‑Tibetan. Wiesbaden: Harrassowitz.

Shānhǎijīng 山海經. n.d. Shānhǎijīng (Classic of Mountains and Seas). Various editions.

Shuōwén Jiězì 說文解字. n.d. Shuōwén Jiězì. By Xu Shen (許慎), Eastern Han dynasty.

STEDT (Sino‑Tibetan Etymological Dictionary and Thesaurus). n.d. University of California, Berkeley.

Starostin, Sergei. 1953–2005. Sino‑Tibetan and Old Chinese reconstructions. Moscow: STARLING database.

Zhuang, Lao, Thai, Bouyei, Saek Comparative Forms. n.d. Various linguistic surveys.

CHÚTHÍCH


(1)^ Thuậtngữ chỉ “heo” trong tiếngViệt và nguồngốc BáchViệt (Yue): Đốivới “heo”, ngườiViệt miềnBắc dùng lợn (豚 tún, HV độn), trongkhi ở miềnNam gọi là heo (亥 hài, HV hợi). Dạng sau là một từ Việtcổ đíchthực, mang tính bảnđịa Yue, xuấthiện trong cả hệthống 12 Congiáp của Việt lẫn Hán, nơi 亥年 Hàinián (HN ‘NămHợi’ hoặc ‘NămHeo’) tươngứng với “Năm ConHeo”. Trongkhi đó, lợn 豚 tún (HV độn), được ghi trong Khanghi Tựđiển, thựcchất là một dạng songđẳng của 豘 tún, vốn mang cùng nghĩalà “heo”.

Điểm thenchốt cần nhấnmạnh là các yếutố ngônngữ Yue cótrước Hánngữ: 亥 hài nhiều khảnăng là dạng phiênâm của một từ Việtcổ chỉ heo, cả về mặt từnguyên lẫn vănhóa. (Xem APPENDIX D, E, F, G)

(2)^ NamViệt (NanYue) là một vươngquốc cổ, baogồm một phần các vùng QuảngĐông, Quảngtây, và Phúckiến của Trunghoa, cùng với miềnbắc Việtnam ngàynay. Hiệntại, dukhách vẫn cóthể thamquan những tàntích nguynga của các lăngmộ từng được các Vua NamViệt xâydựng, nằm tại Thànhphố Quảngchâu, tỉnh QuảngĐông, Trungquốc.

(Nguồn: https://en.wikipedia.org/wiki/Nanyue)

(3)^ Truyềnthuyết chung giữa vănhóa Choang (Nùng) và Việt:  Truyện dângian Thầncung Bảokiếm của ngườiChoang và truyềnthuyết Việt về Trọng Thuỷ – Mỵ Châu kể những câuchuyện tươngtự một cách đángkinhngạc, đều môtả quátrình chuyểntiếp lịchsử từ ÂuLạc (歐雒) sang Vươngquốc NamViệt.

(Xem Truyệncổ Dòng BáchViệt and https://vi.wikipedia.org/wiki/Mỵ_Châu.)

(4)^ Dê và các liênhệ ngônngữ của nó:  ChữHán 未 wèi cóthể được phiênâm thành cả Hán‑Việt vị (“sắptới”) lẫn Hán‑Việt mùi, như trong Năm ẤtMùi 乙未年 Yǐwèinián (“Năm ConDê”). Trong HánViệthọc, dê tươngứng với 羊 yáng (HV dương, HN dê), phùhợp với âm Triềuchâu /jẽ/, tấtcả đều mang nghĩalà “dê”. Têngọi hoàngđạo 羊年 Yángnián (“Năm ConDê”) tươngứng với HN NămDê.

Một điểm cần triểnkhai thêm là: 未 wèi có nguồngốc là một từvaymượn từ ngữhệ BáchViệtcổ (Yue), trongkhi 羊 yáng là một chữ tượnghình môphỏng đầu dê hoặc cừu. Vềmặt ngônngữ, 未 wèi và 羊 yáng cóthể xemnhư một cặp songđẳng, liênhệ vớinhau cả về ngữnghĩa lẫn ngữâm. Mốiliênhệ này thểhiện rõ trong chữ 美 měi (SV mỹ, “đẹp”), nơi 羊 yáng đặt trên 火 huǒ (“lửa”) tạo nên nghĩabóng “hươngvị đẹp”, “mỹvị”. Hơnnữa, 美 měi và 未 wèi (sosánh mùi) còncó những liênhệ ngữâm–ngữnghĩa sâu hơn.

Có khảnăng rằng một dạngcổ của “dê” đã đi vào tiếngHán dưới hai hìnhthức khácnhau để dùng trong hệthống 12 chi, cóthể mang âm gần với 未 (wèi) hàng thếkỷ trướckhi được táidunhập trởlại vào cộngđồng Việtcổ thuộc Vươngquốc NamViệt hoặc Annam.

(5) ^ Thídụ kinhđiển của từnguyên Hán-Nôm nhưlà 江 jiāng (HV giang, HN “sông”), một từ vay cổ từ dạng Yue /krong/; hoặclà 目 mù và HV mục (HN “mắt”). Sựkhẳngđịnh tươngtự với danhxưng trong tiếngViệt của những congiáp khác như năm ‘Mão’ 卯 măo (mão, tứclà ‘mèo‘ = 貓 māo (HánViệt miêu), ‘Dê’ 羊 Yáng (HV ‘Dương’, Triềuchâu /yẽo/, chứ khôngphải là ‘cừu’ (xem ‘Mùi’ 未 wèi (vị = ‘dê’). Từ ‘sửu’ từ nầy tiếngHán vaymượn từ phươngngữ phươngNam (BáchViệt) để chỉ âm ‘trâu’, nếuthế thì nguồngốc 12 congiáp có nguồngốc phươngnam (ngoạitrừ conthỏ). Nhũng thídụ kểtrên cho ta thấy chúng cóthể cùng bắtnguồn từ một cộirễ chung, nhiều khảnăng truyngược về một lớptầng ngữhệ tiền‑Thái trong tiềnsử xaxưa.

Khuynhhướng ngườiViệt dùng hệthống hoàngđạo địachi rất phổbiến và thôngdụng vì nó nằmtrong tâmthức tậpthể của dântộc. Dođó khôngcógì ngạcnhiên khi thấy ngườiTrungquốc thườngphải dùng từghép để hiểu, nghĩalà chữ sau dùngđể giảithích chữ trước và tạothành những từghép mới. 

Thídụ, khi ngườiViệt nói ‘sửu’ là biếtngay đâylà ‘contrâu’ (‘丑 (丒) chǒu’ tuy trong tiếngHánViệt đọclà ‘Sửu’ nhưng theo hệthống ngữâm lịchsử 丑 (丒) chǒu = ‘trâu’), ‘nămSửu’ tươngứng là ‘nămTrâu’. 

Tómlại, địachi ‘tý, sửu, dần…’ trong tiếngHán không gợi gì để nhớ tên cầmthú, ngườiTrungquốc cầnphải nói thành từng cặp từ cho dễhiểu. Những vídụ từ hoàngđạo 12 congíáp minhhoạ rõ ýtưởng trên (cáchgọi mỗi congíáp trong tiếng Quanthoại theo điệpthức [ danhtự + bổtự ] (sovới cách diễngiải Hán-Nôm và tiếngAnh để minhhoạ ngữâm-ýnghĩa tươngđồng):

  • 子鼠 Zǐshǔ → Týchuột (“ rat”)
  • 丑牛 Chǒuníu → Sửutrâu (“Sửu buffalo”)
  • 寅虎 Yínhǔ → Dầncọp (“Dần tiger”)
  • 卯貓 Mǎomāo → Mãomẹo (“Mão cat”) [ khôngainói 卯兔 Mǎotù → Mão ‘thỏ‘ (“Mão rabbit”) ]
  • 辰龍 Chénlóng → Thìnrồng (“Thìn dragon”)
  • 巳蛇 Sìshé → Tỵrắn (“Tỵ snake”)
  • 午馬 Wǔmǎ → Ngọngựa (“Ngọ horse”)
  • 未羊 Wèiyáng → Mùidê (“Mùi goat”)
  • 申猴 Shēnhóu → Thânkhỉ (“Thân monkey”)
  • 酉雞 Yǒujī → Dậugà (“Dậu chicken”)
  • 戌狗 Xūgǒu → Tuấtchó (“Tuất dog”)
  • 亥猪 Hàizhū → Hợitrư (“Hợi pig”)


Những tươngứng này làmnổibật các thuậtngữ hoàngđạo của 12 ConGíáp trong tiếngViệt vừa bảotồn các liênhệ tầngnền BáchViệtcổ (Yue), đồngthời vừa tiếpnhận các dạng tiếng Hán Trungcổ. Sựkhácbiệt giữa Mãomẹo (“Năm ConMèo”) và Mãothố 卯兔 (“Năm ConThỏ”) đặcbiệt có ýnghĩa, nhấnmạnh việc Việtnam giữlại các biểutượng vănhoá Yue cổxưa hơn. 

Leave a Reply

Discover more from ziendan.com

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading