Thêm Mộtvài Nguyêntắc trong Việc Truytìm Từnguyên Hán‑Nôm
by dchph in collaboration with Copilot
Việtnam được ghinhớ mộtcách đặcbiệt trong lịchsử vì đã balần đánhbại các
cuộcxâmlăng của quân Môngcổ do Thànhcáttư Hãn và những người kếvị chỉhuy — những
kẻ trướcđó đã tiêudiệt nhàTống và lậpnên triều Nguyên (元朝) trên đất
Trunghoa, một chếđộ tồntại gần một thếkỷ.
Trong bốicảnh này, chủnghĩadântộc đượchiểu là tinhthần bấtkhuất của ngườiViệt
và nền độclập khókhăn lắm mới giànhlạiđược — một tinhthần mà họ luôn kiênđịnh
bảovệ. Chính lòng dântộc mãnhliệt ấy đã địnhhình bảnsắc nhânchủng của họ,
đặcbiệt trongđó có ngônngữ dântộc. Điềunày giúp lýgiải vìsao nhiều ngườiViệt
bácbỏ mốiliênhệ huyếtthống với ngườiHoa và đặtlại vấnđề đốivới thuyết NamÁ,
thayvàođó khẳngđịnh mốiliênhệ tổtiên với ngườiViệtcổ (Yue), một dòngdõi
khôngthuộc Hán, một cách hiểu được nhiều họcgiả yêunước Việtnam kiêntrì bảovệ.
I) Bảnsắc dântộc và quátrình hìnhthành ngônngữ
Trong một xãhội đadạng về chủngtộc, những yếutố được hoànhập vào
“nồinấuchảy” Việtnam đều đúckết nên thànhphẩm Việttộc, bấtkể họ có nguồngốc
Tày, Nùng, Mèo, Hoa, Chăm hay Khmer. Lịchsử của quốcgia mang tên Việtnam là
một biênniênsử của những hậuduệ BáchViệt đến đây hoặc với tưcách kẻ
chinhphục, hoặclà những người tịnạn chạytrốn đóinghèo và ápbức từ phươngBắc.
Cuộc hànhtrình Namtiến dài dằngdặc của họ, kếtthúc ở mũi cựcNam của bánđảo
Đôngdương, kéodài gần mười thếkỷ, trongđó họ liêntục tiến hành các cuộcchiến
chống kẻthù phươngBắc lẫn phươngNam, bắtđầu sớmnhất từ năm 939 SCN, trong
hànhtrình khôngngừngnghỉ nhằm giành chủquyền dântộc.
Lịchsử Việtnam khôngchỉ được địnhhình bởi các cuộckhángchiến màcòn bởi
những lànsóng tỵnạn và dicư liêntục, tươngtự như những gì đã và đang xảyra
tại Trungquốc. Đàiloan là một vídụ songhành: nhiều lànsóng ngườiHoa từ
lụcđịa chạyloạn hay dicư sang quanhiều thếhệ, trongkhi hàng trămnghìn phụnữ
Việtnam kếthôn với đànông Đàiloan. Sựgiaolưu lâuđời này vẫn tiếptục cho đến
hômnay.
NgườiViệt cũng là hậuduệ của những nhóm didân phatrộn chủngtộc từ miềnnam
Trungquốc. Những nhóm này gồm người tịnạn trốnchạy khỏi các vùng chiếnloạn,
cũngnhư tầnglớp bầncố bị gạtra bênlề từ các tỉnh mới phấtlên. Điều đáng
chúý, những trungthành nhàMinh chạy trốn sựtrừngphạt sau cuộcchiến xâmlấn
của ngườiMãn và sự thànhlập nhàThanh (1644–1912) đã đóng góp vào bứctranh di
dân của Việtnam. Điều này thểhiện qua sựphổbiến của họ ngườiHoa trong
cộngđồng ngườiKinh.
Bước sang thếkỷ thứ 21, Việtnam vẫn tiếptục tiếpnhận luồng didân đếntừ
Trungquốc bênkia biêngiới phíabắc, gồm những laođộng nghèokhó và những “côngnhân kỹthuật”, mà theo mộtsố
nhà phêbình, nhiều người trongsố họ trởthành “đạoquân thứnăm” saukhi hếthạn
hợpđồng laođộng và đáohạn thịthực. Bấtkể gốcgác và thờiđiểm, họ đã cốgắng
hoànhập vào dòngsống của những ngườiHoa xuống miềnđất phươngnam trướcđây
địnhcư trước họ đã xem mình là ngườiViệt. Từ thậpniên 1990 đến cuốinăm 2025,
hơn một triệu didân mới từ Trungquốc đạilục đã địnhcư vĩnhviễn tại Việtnam,
thường thôngqua hônnhân với ngườiViệt, một xuhướng được ghinhận rõ tại các
hộinghị thườngniên của cộngđồng Hoakiều.
Quátrình hìnhthành cộngđồng ngườiKinh khôngchỉ do didân từ bênngoài mà còn
do sựdịchchuyển dâncư trongnước. Thídụ câuchuyện của hai thànhphố về
thànhphần nhânkhẩu thànhphố Hànội và Sàigòn, tươngtự như Thượnghải, chúng đã
trảiqua những biếnđộng thờicuộc đángkể khi cưdân gốcBắc rờibỏ thànhphố
Namtiến trong cuộc dicư lớn 1953–54 và thêm người đitrận chết trong
chiếntranh Nambắc 1965-75, và số khác l=địnhcự tại miềnNam lại rờibỏ đấtnước
sau thángtư 1975. Khi tầnglớp thịdân trunglưu của Hànội hoặc Sàigòn rờibỏ
quêhương tiếptục rađi sau chiếntranh để tìm cơhội mới ở hảingoại,
khoảngtrống họ đểlại dần được lấpđầy bởi những ngườidân từ nôngthôn đổvề,
trởthành lànsóng laođộng mới lấpvào những vịtrí trống trong thànhphố.
Chuyệnxưa này liêntục xảyra khắpnơi trên mọimiền đấtnước Việtnam
từxửatừxưa.
Tổngthể những biếnđộng nhântố này cho thấy bảnsắc ngườiViệt hiệnđại và
tiếngViệt khôngthể quayvề nguồngốc sắctộc nào, Hoa hay Môn‑Khmer. Thayvàođó,
Việtnam đươngđại là một bứctranh tổhợp phứctạp. Côngdân của nó phầnlớn mang
dòngmáu phatrộn với ngườiHoa, truyngược về tổtiên Việtcổ (Yue) của các
chưhầu nhàChu và nhóm ngườiHán chịu ảnhhưởng dân BáchViệt ở vùng nướcSở
cáchđây hơn 2130 năm. Họ cũng mang thànhphần ditruyền từ cưdân bảnđịa baogồm
Môn, Chăm và Khmer từ thếkỷ 12 trở đi, cùngvới những lớp phatrộn muộnhơn,
chẳnghạn conlai Âu‑Á sinhra từ sự hiệndiện của lính Mỹ trong chiếntranh
Việtnam (1965–1975), bổsung hơn 55.000 người vào dânsố 20 triệu của MiềnNam
vào thờiđiểm năm 1975. Sựhoàtrộn sâurộng này chothấy mứcđộ phatrộn chủngtộc
đặctrưng của Việtnam như từng consóng vỡbờ cũngnhư bồid8áp phùsa tận mũiđất
Càmau.
Về mặt ngônngữ, các nhànghiêncứu NamÁ thường việndẫn những từ cơbản
Môn‑Khmer trong tiếngViệt làm bằngchứng cho giảthuyết của họ. Chẳnghạn,
hệthống sốđếm từ một đến năm không tươngứng với cáchđếm từ sáu đến mười của
tiếngViệt, và chúng khôngcó liênhệ ditruyền với lớp từvựng lõi. Như mọi
ngônngữ sống, tiếngViệt đã tiếpthu nhiều lớp từ vaymượn qua thờigian, baogồm
từ hệ Daic, Thái, Mãlai, cũng như tiếngAnh và tiếngPháp, bêncạnh các yếutố
NamÁ.
Về mặt thốngkê, mứcđộ xâmnhập từvựng ngoạilai phươngtây trong tiếngViệt vẫn
ở mức khiêmtốn. Ngaycả mười năm hiệndiện mạnhmẽ của người Mỹ trong
chiếntranh Việtnam cũng không làm thayđổi đángkể diệnmạo ngônngữ, chỉ đểlại
mộtsố ít từ tiếngAnh tồntại daidẳng như
hello, okay, bye‑bye, number‑one, one‑two‑three, snack‑bar, cowboy,
(bus)boy, hippy, jeep, v.v., hoàn toàn tươngphản với ảnhhưởng Hánngữ bềnvững.
Tìnhhình trởnên cóphần khôihài khi mộtsố cơquan Pháp tàitrợ cho các họcgiả
Việtnam thời đổimới xuấtbản côngtrình về ảnhhưởng tiếngPháp trong tiếngViệt,
trongđó có một nghiêncứu lậpluận rằng mộtsố từ Việt có nguồngốc Pháp (Cao
Xuân‑Hạo, 2001). Nếunhư thời thuộcđịa Pháp ở Annam kéo dài hơn 100 năm,
cóthể khoảng 400 từ Pháp đã đivào sửdụng phổthông. Tínhtheo tỷlệ, số từngữ
Pháp, tàndư của 96 năm đôhộ kếtthúc ngày 20/7/1954, chỉ ở mức vài trăm.
Những từ như moi (tôi), toi (mày), monsieur (ông),
madame (bà), cùng mộtsố cấutrúc ngữpháp hiệnđại, không tạo nên một
mốiliênhệ từnguyên đậmnét nào.
Điềunày đốilập rõ với những cáchđọc Hánngữ ănrễ sâuxa trong tiếngViệt, như
anh (兄 xiōng, SV huynh,), em (俺 ǎn, SV am), chị (姊 zǐ, SV
tỷ), cô (故 gū, SV cô), mẹ (母 mǔ, SV mẫu), cùng nhiều từ Hán hiệnđại vẫn
thịnhhành như bảotrọng 保重 (bǎozhòng, vớiýnghĩa “giữsứckhoẻ”),
đảmbảo 擔保 (dànbǎo, với ýnghĩa “bảolãnh”), thịphạm 示范
(shìfàn, “làmmẫu”), đạocụ 道具 (dàojù, “đồkịch”), giaođãi 交待
(jiāodài, “căndặn”), phátbiểu 發表 fābiǎo (với ýnghĩa
“xuấtbản”).
II) Tổtiên BáchViệt và bảnsắc ngườiViệt
Vềmặt nhânchủnghọc, khi giảithích nguồngốc từnguyên tiếngViệt, tácgiả đưara
một lậpluận độclập dựatrên phântích dữliệu nhằm phảnbiện những tuyênbố của
trườngphái ngônngữ NamÁ, mà ông cho rằng đã đưa một nghịtrình gây tranhcải
vào cuộc tranhluận. Những người ủnghộ trườngphái này tiếpcận vấnđề từ gócđộ
địalý vùngmiền phươngNam, tậptrung vào những khuvực nơi ranhgiới NamÁ
giaothoa với tầngnền Namđảo, đặcbiệt trong cộngđồng Chăm trên bánđảo
Đôngdương, và mởrộng sang các quầnđảo Mãlai, Namdương, các đảo phíaTây
Philuậtân, và Đàiloan (từng đượcgọilà Formosa).
Vìsao các nhà NamÁhọc thoạtđầu lại xếp tiếngViệt vào ngữhệ Môn‑Khmer? Giảthiết
này bénrễ phầnlớn vì cưdân Môn‑Khmer từng chiếmưu thế trên bánđảo Đôngdương và
thấm sâu vào cơcấu dâncư địaphương. Thêmvàođó, giảthuyết này xuất hiện trong
thời lên cơnsốt “đàivàng” của ngônngữhọc lịchsử vào cuối thếkỷ 19, khi các
nhàngônngữhọc phươngTây vẫn chưahề biết đến người BáchViệt (Bod hay Yue) và
disản ngônngữ của họ. Ngượclại, các cộngđồng nói tiếngMôn‑Khmer ở ĐôngnamÁ lại
gợi liêntưởng đến sựhuyhoàng của Đếchế Khmer cổ, một quákhứ gây ngưỡngmộ và
đốkỵ. Điềunày dẫn đến việc hìnhthành ngữchi Việt‑Mường trong ngữhệ Môn‑Khmer
của NamÁ khi các họcgiả tìmcách kếtnối các nhóm này lạivớinhau.
Để đáplại, tácgiả khẳngđịnh vữngchắc rằng ngườiViệt chủyếu xuấtthân từ
tổtiên ngườiBáchViệt (Yue) cổ ở miềnNam Trungquốc, đã hoàtrộn với cưdân Hán
trongsuốt mộtngàn năm Bắcthuộc kểtừ năm 111 TCN. Khi nhànước Annam mởrộng
xuống phươngNam vào vùng nay là miềntrung Việtnam, sựhoàtrộn tiếptục diễnra
với cưdân Namđảo Chăm và NamÁ Môn‑Khmer. Hậuquả là cộngđồng ngườiViệt
hiệnđại tạothành một dòngdõi hỗnhợp được địnhhình qua nhiều thếkỷ didân,
hộinhập và tổnghợp vănhóa.
Lậptrường này là phảnđề của tácgiả đối với các nhàhọcgiả ngành NamÁ
Môn‑Khmer, những người chorằng quátrình Hánhoá cưdân Môn‑Khmer bảnđịa ở
Annam mới là cơchế thậtsự tạonên ngườiViệt. Quanđiểm đó phầnlớn bỏqua lịchsử
thànhvăn của ngườiBáchviệt — tổtiên của cưdân Annam sơkỳ — những người đã
tiếnbước xuống phươngNam và lấpđầy khoảngtrống nhânchủng dẫn đến sựhoàtrộn
Việt hiệnđại. Theo trườngphái NamÁ, sựgiaohoà giữa các nhóm Môn‑Khmer với
người Hán táiđịnhcư trong thời kỳ thuộcđịa mới là nguồngốc của ngườiViệt. Họ
cho rằng cưdân Môn‑Khmer trên bánđảo Đôngdương là tổtiên trựctiếp của
ngườiViệt ngàynay. Điều thenchốt là yếu tố “Việthoá người Môn‑Khmer”
dườngnhư bị bỏqua, cólẽ vì thờiđiểm mà các nhóm Môn‑Khmer được cholà đã đến
châuThổ SôngHồng — vốn đãcó cưdân Tày bảnđịa sinhsống — vẫncòn mơhồ.
Những phát hiện khảocổ ở miềnTrung Việtnam càng khẳngđịnh rằng cưdân trước
các lànsóng didân này không có liênhệ tổtiên với ngườiViệt. Về mặt lịchsử,
những nhóm ngườiViệt sớm nhất chỉ tiếnbước xuống phần Nam bánđảo Đôngdương
sau thếkỷ 12, nơi họ hoàtrộn lầnđầu với cưdân Chăm. Sựhoàtrộn này được
thúcđẩy bởi việc nhượnglại hai châu nướcChăm cho nhàTrần thôngqua cuộc
hônnhân chínhtrị giữa Quốcvương Champa và Côngchúa Huyềntrân. Đólà lýdo
vìsao các cộngđồng Việt muộn xuấthiện dọc duyênhải miềnTrung và vùng
TâyNam.
Điều thúvị là giảthiết NamÁ lại ănkhớp mộtcách kỳlạ với những vùng lãnhthổ
vốnđược ghinhận trong cổthư Trunghoa là thuộcvề người BáchViệt khiến
sựtrùnglắp ranhgiới địalý giữa Yue và NamÁ trởnên mờnhạt. Các nhà NamÁ
Môn‑Khmer âmthầm tiếpnhận sựtrùngkhớp này trongkhi nétránh những phứctạp của
ngành ngônngữhọc Hán‑Việt. Đốivới họ côngviệc nghiêncứu sẽ dễdàng hơnnhiều
khi chỉ cần tìm một bộ từ cơbản chung giữa Môn‑Khmer và tiếngViệt rồi
kếtluận về mốirễ chung, thayvì đốidiện với những tháchthức từnguyên phứctạp
hơn.
Đối với nhiều họcgiả được đàotạo theo môhình phươngTây, việc đisâu vào
cổthư Trunghoa để truytìm từnguyên tiếngViệt là một nhiệmvụ khókhăn. Dù họ
có thể xuấtsắc trong ngữâmhọc tiền‑Hán, Hán Thượngcổ và Hán Trungcổ, cách
tiếpcận này lại không đủ để giảithích tiếngViệt, cả về mặt lịchsử lẫn
hiệnđại.
Chođến đầu thếkỷ 20, Hánhọc mới trởthành một ngành nghiêncứu độclập, và
ngaycả khiđó, rấtít họcgiả cóthể chứngminh mốiliênhệ giữa Hánhọc và
tiếngViệt có gốc BáchViệt. Những nhàngônngữhọc lừngdanh như De Lacouperie,
Maspero, Haudricourt, Shafer, Forrest và Karlgren là sốít những người chỉra
rằng Hánhọc là chìakhóa thiếtyếu để hiểu từnguyên tiếngViệt. Khôngcó
kiếnthức sâu về tiếngHán và lịchsử Trunghoa, khôngai có thể đưara một
cáinhìn toàndiện về nguồngốc ngônngữ Việt.
Dù tồntại những khung lýthuyết cạnhtranh, bứctranh tổngthể cóthể được
tổnghợp bằngcách kếtnối gócnhìn BáchViệt và NamÁ Môn‑Khmer vào một kháinệm
duynhất: Bod (Terrien De Lacouperie, 1887). Cóthể các nhàlýthuyết
Ấn‑Âu đã cốý thaythế thuậtngữ Yue bằng NamÁ để táiđịnhvị các thựcthể Yue
bảnđịa theo một trục phùhợp với môhình ngônngữhọc lịchsử đươngthời.
Sựchuyểnđổi diễngiải này— dù cốý hay phươngpháp — phảnánh những môhình
loạihìnhhọc trướcđó trong các côngtrình của T. D. Lacouperie (1887) và R. A.
D. Forrest (1948).
Vềmặt địalý‑nhânchủng, bằngcách thaythế thuậtngữ NamÁ bằng Yue (Bod hay
BáchViệt), tácgiả lầntheo hànhtrình của những nhóm BáchViệt (Yue) bảnđịa
sơkỳ gồmcó LạcViệt (雒越), ÂuViệt (歐越) hay TâyÂu (西甌), và MânViệt (閩越)
hay ĐôngÂu (東甌) cùngvới các nhómlaicăn — kếtquả của nhàThục bị Tần
triệttiêu (巴蜀 Bāshǔ, HN Bathục), Sở bị “Yuehoá” (楚 Chǔ, Sở), Hán bị
“Yuehoá” (漢), Hakka (客家 Kèjiā, Cácchú), Phúckiến, Hảinam, QuảngĐông — từ
miềnNam Trungquốc trànxuống vùng BắcViệt và khắp vùngmiền ĐôngnamÁ. Những
nhóm hỗnhợp này tiếnbước xuống phươngNam, táiđịnhcư, hoàtrộn với cưdân
bảnđịa trong suốt cuộchànhtrình, và trong trườnghợp Việtnam vềmặt địalý, họ
hoàtrộn với cưdân Chăm và Môn‑Khmer.
Trên một nghĩa nào đó, quátrình này vềsau được kếttinh trong têngọi
chínhthức Việtnam, xuất hiện lầnđầu năm 1802. Danhxưng này cũng có thể được
hiểulà dạng nghịchđảo của kháiniệm từ NamViệt, nghĩalà “người Việt
phươngNam”, thường bị hiểusai thành “vượtxuống phươngNam” hay “tiếnvề
phươngNam”. Những liêntưởng này phảnánh môhình didân của tổtiên ngườiYue,
những người rờikhỏi miềnNam Trungquốc mạnhmẽ hơn vào khoảng năm 300 TCN để
tránh sựbànhtrướng của nhàTần (Lu Shih Peng, 1964).
Hình 1 — Bảnđồ didân tiềnsử của dân HánTạng Cổđại
III) Hướng didân về phươngnam và sựbànhtrướng của tộc BáchViệt
Quanđiểm của tácgiả về hànhtrình didân địalý theo trục Namtiến của tộc
BáchViệt, khởiđầu là từ trục phươngBắc và lantoả xuống các vùngmiền
hảiđảo của Nambáncầu, cóthể được triểnkhai mà khôngcần việndẫn các
giảthuyết khác về nguồngốc các sắcdân Namđảo. Quátrình phânbố dânNamđảo
kéodài trên toàn vùng Đôngbáncầu trong khoảng 3.000 đến 4.000 năm, dựatheo các tưliệu lịchsử.
(1) Khung lýthuyết này phùhợp với bằngchứng
khảocổ chothấy dânBáchViệt khôngphảilà nhóm duynhất chếtạo trốngđồng.
Những hiệnvật tươngtự cũngđược pháthiện tại nướcThục (蜀國) ở Tứxuyên và
nhiều vùng thuộc Indonesia. Tại các khuvực này, cách giảithích Namđảo đã
hìnhthành những giảthuyết thaythế, baogồm thuyết Nam‑Thái. Về cănbản, mọi
hànhtrình didân phươngNam đềucó nguồngốc từ phươngBắc.
Về mặt thựctế, giảthuyết NamÁ thường bỏqua các gócnhìn khác về
sựhiệndiện của nhóm tiền‑BáchViệt (pre-Bod), vốntừng trảirộng đếntận
vùng đôngbắc Sông Dươngtử và thượngnguồn lưuvực sông Hoànghà. Chẳnghạn,
các nhóm tiền‑BáchViệt từng hiệndiện tại nướcLỗ (魯國) thuộc Tỉnh
Sơnđông (山東), theo khung nhânchủng trảirộng của dòng Thái-Việt
(Taic‑Yue) khởinguồn từ nướcSở (楚國) gần vùng Hồbắc (湖北) và Anhuy
(安徽) ngàynay. Truyềnthuyết nướcViệt cũng kểrằng tổtiên sơkhai của họ
xuấthiện từ khuvực Độngđìnhhồ (洞庭湖) thuộc Tỉnh Hồnam (湖南),
phíanam Tỉnh Hồbắc. Các vùng quanhđây hợpthành một vànhđai liênkết
đạidiện cho vùng ngữtộc Thái (Taic).
Khung lýthuyết của tácgiả bàiviết này về cả BáchViệt lẫn NamÁ đều được
đồngbộhoá với truyềnthuyết và lịchsử cổđại Trunghoa. Các bộtộc
tiền-BáchViệt toảđi về hướng đông và tây, dinhập vào thànhphần dântộc
thời tiền‑Tần (先秦). Bằngchứng baogồm các mẫu hoáthạch ngườisơkhai được
pháthiện tại vùng Tứxuyên cổ, nơi từng là nước Bathục (巴蜀). Các bộtộc
này đã cùngnhau tạonên những yếutố vănhóa mới cho cưdân tiền‑Hán (前漢),
với sựkhácbiệt thểhiện qua các danhxưng thayđổi theo thờiđại. Điểm đáng
chúý là gốcgác của vị hoàngđế đầutiên của nhàHán là LưuBang, cùng các
tướnglĩnh và thuộccấp của vịvua nầy, vốnlà thầndân nướcSở (楚). Nếunhư
côngtước cuốicùng của Sở, Hạng Vũ (項羽), đánhbại được Lưu Bang trong
trận quyếtđịnh, triềuđại hậu Tần cólẽ đã mang tên Sở thayvì Hán.
Saukhi quân Hán đánhbại nướcSở, các thầndân ở vùngbiên của đếquốc Hán
dầndần tựnhận mình là ngườiHán (漢人 Hànrén), và đólà một quátrình
kéodài khálâu. Đâylà bước hìnhthành của dântộc Hán Trungquốc từ một
cộngđồng chủngtộc hỗnhợp gồm cưdân tiền‑Hán và hậuduệ BáchViệtcổ
(Taic‑Yue). Các nhóm này baogồm thầndân của sáu nước cổ bị nhà Tần
thôntính và hợpnhất vào năm 221 TCN. Thànhphần chủngtộc của cưdân nước
Sở chủyếu là hậuduệ Thái-BáchViệt (Taic‑Yue), và chính họ đã sinh ra các
bộtộc BáchViệt (百越 BǎiYuè, tức ‘Bod’) phươngNam qua các giaiđoạn
lịchsử từ Chu, Tần đến Hán. (2)
Về cănbản, quátrình hìnhthành dântộc Việtnam là một quátrình từng
giaiđoạn: bắtnguồn từ tổtiên BáchViệtcổ ở miềnNam Trungquốc, sauđó
hoàtrộn với cưdân Hán trong suốt một thiênniênkỷ Bắcthuộc kể từ năm
111 TCN. Trong quátrình didân ngườiAnnam tiếnbước vào vùng miềnTrung và
miềnNam Việtnam hiệnnay. Sựhoàtrộn tiếptục diễnra với cưdân Namđảo Chăm
và NamÁ Môn‑Khmer. Kếtquả là một bứctranh nhânkhẩu ngườiViệt hiệnđại
được địnhhình qua nhiều thếkỷ didân, hộinhập và tổnghợp vănhóa.
Quátrình tiếnhoá nhânkhẩu của cưdân Annam cổđại banđầu tươngđồng với
các nhóm BáchViệt khác ở Hoanam của Trungquốc ngàynay, baogồm người
Quảngđông (粵), người Phúckiến (閩越, tức ‘Hokkien’), và hai nhóm
Ngô-Việt (吳越). Tuynhiên, sựtươngđồng này kéodài khônglâu. Hànhtrình
ngườiViệt rẽnhánh thoát áchđôhộ kéodài của đếquốc Trunghoa, từ năm
235 TCN đến 939 SCN, chỉ bị giánđoạn bởi vài giaiđoạn tựchủ ngắnhạn. Sau
thếkỷ 12, nhànước Annam mới bắtđầu một cuộcNamtiến liêntục vượtqua
vĩtuyến 16, dầndần củngcố lãnhthổ trongsuốt hơn mộ thiênniênkỷ tiếptheo.
Hànhtrình này kếtthúc vào năm 1989, khi nhànước Việtnam rútquân khỏi
Cambốt (tức Kampuchea cũ) và khôiphục đường biêngiới trước năm
1979.
Bảng 2 — Sựphânbố các ngônngữ bảnđịa trướckhi TiếngViệt hìnhthành
Hình 2 – Bảnđồ ngônngữ NamÁ theo lýthuyết NamÁ
Tínhchất của tiếngmẹđẻ của một dântộc, theo cáchhiểu
thôngthường, thường phảnánh thànhphần chủngtộc của họ, và
ngượclại. Giảthiết NamÁ Môn‑Khmer về tiếngViệt dườngnhư phùhợp
với quanđiểm này. Mộtcách diễnđạt dídỏm là ví tiếngViệt như
sảnphẩm của một “cuộc hônnhân cưỡngép” giữa ảnhhưởng Môn‑Khmer
và Hánngữ. Dưới gócđộ nhânchủnghọc, thờikỳ đôhộ kéodài đốivới
cưdân Annam sơkhai cóthể phảnánh một quátrình “đảongược vaitrò”:
những “vịkhách” (các nhóm Kinh sơkhai) rốtcuộc trởthành tầnglớp
chủthể mới, trongkhi cưdân bảnđịa trởthành tầnglớp phụthuộc ngay
trên chính mảnhđất của mình, nay đã bị sápnhập vào một thểchế
ngoạilai.
Với cuộcsống nơi địnhcư mới dầndần ổnđịnh, táchbiệt khỏi
lụcđịa Trungquốc, hãy hìnhdung một kịchbản “nếunhư”. Hãy
tưởngtượng một giađình chủnhà mới dọn vào cănnhà từngcó chủ.
Trong lúc ổnđịnh chỗở, họ pháthiện những hiệnvật vănhóa chôn
dưới nềnđất. Chủnhà mới hoàntoàn cóthể tuyênbố sởhữu những
hiệnvật ấy, nhưng sẽ không trungthực nếu xem chúng như bảovật
tổtiên họ đểlại, làmnhưthể những báuvật đó được truyềnlại cho họ
qua nhiều thếhệ. Trongkhiđó concháu họ mang những họtộc mới như
Phạm hay Trần, trừ những trườnghợp có gốc Chăm hay Khmer thểhiện
qua các họ như Chế hay Thạch. Điều này minhhoạ cách mà bảnsắc
ngườiViệt tiếpthu khôngchỉ tênhọ gốc Hán rộngrãi, mà còn cả
những họ có nguồngốc Chăm hoặc Khmer.
Về mặt ngônngữ, tiếngnói của một dântộc khôngphải lúcnào
cũng phảnánh tiếngnói của tổtiên họ. Hiệntượng này xuấthiện ở
nhiềunơi trên thếgiới: chẳnghạn, tiếngPháp hiệnđại kháchẳn tiếng
Gaul cổ của nướcPháp xưa, và cưdân tại các thuộcđịa cũ của Pháp
như Marốc hay Haiti vẫn tiếptục dùng tiếngPháp dù nó mang giọng
địaphương đặcthù. Để quanđiểm NamÁ — dựatrên giảđịnh rằng
ngônngữ được truyềntừ chủngtộc — có sứcthuyếtphục, ngườiViệt
phảilà “thuầnchủng” Môn‑Khmer, hoặc ítnhất tươngđương với nhóm
chitộc Mường. Tuynhiên, điềunày khôngphùhợp với bằngchứng,
cũngnhư việc người QuảngĐông hay Phúckiến vẫnđược xếp là
phươngngữ trong ngữhệ Hán dù có nhiều dịbiệt. Ápđặt một
tiêuchuẩn nhưvậy sẽ làm suyyếu kháiniệm dântộc rộnghơn, đặcbiệt
đốivới những quốcgia lớn như Trungquốc.
Cũng nên nhớrằng tiếngViệt hiệnđại, với tưcách một ngônngữ
hoànchỉnh, chỉ hìnhthành saukhi Việtnam giành độclập khỏi
Trungquốc vào thếkỷ thứ 10.
IV) Tiếpxúc ngônngữ, từnguyên, và các luậnthuyết tráichiều
Vềmặt từnguyên, những điểm tươngđồng trong mộtsố từ cơbản cóthể được
giảithích như kếtquả của sựtiếpxúc ngônngữ. Từvựng của các ngônngữ
Môn‑Khmer đã lansang các phươngngữ Mường, và từđó tácđộng ngược trởlại
tiếngViệt. Điềunày xảyra bởi sựgầnkề địalý, đặcbiệtlà tại các vùngnúi
phíanam, nơi cưdân bảnđịa rútlui trước lànsóng chiếmđóng và Hánhoá của
Trungquốc. Mặcdù mứcđộ thônghiểu lẫnnhau giữa Việt và Mường đã giảm mạnh
lâulâu saukhi nhánh Mường tách ra khỏi khối Việt-mường vẫngiữ mốiliênhệ
nhânchủng và vănhóa mậtthiết với ngườiKinh như những cộngđồng cậncư.
Ngoài ra, các từ cơbản chung lantruyền giữa tiếngViệt và các ngônngữ
Môn‑Khmer thôngqua sinhhoạt hằngngày: buônbán, traođổi, canhtác
nôngnghiệp, sảnxuất thủcông, và các hìnhthức cộngtác chung. Nóicáchkhác,
trongkhi người Kinh hợptác với quanlại đôhộ Tàu, họ đồngthời duytrì
mốiliênhệ với các cộngđồng khác trong lãnhthổ của mình. Sựtiếpxúc này đã
bắtcầu những khoảngcách ngônngữ giữa tiếngViệt và Môn‑Khmer. Những
tươngtác nhưvậy cóthể truyngược về thời tiền‑sử, bắtđầu từ lànsóng
Môn‑Khmer đầutiên tiếnbước vào châuThổ SôngHồng từ vùng Hạ-Lào tâynam
(Nguyễn Ngọc‑San 1993: 43).
Về mặt phươngpháp, các nhàngônngữhọc NamÁ đã gom các từnguyên cơbản
liênquan trong nhiều ngônngữ Môn‑Khmer vào một phổ rộng các yếu ố hỗnhợp.
Tuyvậy, mộtsố từ cơbản Môn‑Khmer trong tiếngViệt cũng có từnguyên đồnggốc
trong tiếngHán và các ngônngữ Hán‑Tạng, ởđây được gọi là Hán‑Việt
(Sinitic‑Vietnamese). Nhiều từnguyên cơbản trong tiếngViệt chothấy gốcrễ
từ các ngônngữ liênquan đến BáchViệt như Quảngđông, Triềuchâu, Hảinam,
Phúckiến, cũngnhư từ các nguồn Hán‑Tạng, khiến giảthuyết NamÁ càng thêm
phứctạp. Cóvẻ như các nhà NamÁ đã gom tấtcả những yếutố này vào nhóm
Môn‑Khmer mà không xemxét khảnăng chúng có nguồngốc khác, trongkhi
ảnhhưởng mạnh của tiếngKhmer thường đượcxem như một cơsở không cần
tranhbiện.
Lýthuyết NamÁ, với trọngtâm là ngữhệ Môn‑Khmer, cũng từng bácbỏ lýthuyết
Hán‑Tạng cổhơn, vốn đềxuất một nguồngốc khác cho tiếngViệt. Vấnđề phânloại
ngônngữ vìthế không chỉ là đốilập giữa NamÁ Môn‑Khmer và BáchViệt, mà còn
giữa Hán‑Việt và Hán‑Tạng. Tìnhthế này càng phứctạp hơn bởi sốlượng lớn
các từnguyên Hán‑Tạng trong lớp Hán‑Việt, cùng những đặctrưng ngônngữ
độcđáo mà tiếngViệt chiasẻ với tiếngHán. Mặcdù cóthể dễdàng chấpnhận rằng
cưdân Annam cổ pháttriển từ một nềntảng ngônngữ BáchViệt đặttrên một tầng
cơbản Taic, giảthuyết chorằng mộtsố từ cơbản trong các phươngngữ
Việt‑Mường là từvaymượn từ các ngônngữ Môn‑Khmer lâncận lại phùhợp với
nhậnđịnh rằng các ngônngữ này từng thuộcvề một ngữhệ rộnghơn trảidài khắp
miền Nam Trungquốc cáchđây nhiều thếkỷ.
Dùsaođinữa, bấtkể tiếngViệt có thuộc ngữhệ Hán‑Tạng haykhông, các nhà
NamÁ Môn‑Khmer vẫn tậptrung vào phânloại di truyền, chorằng NamÁ Môn‑Khmer
là ngônngữ mẹ sinh ra tiếngViệt. Trongkhiđó, trườngphái Hán‑Tạng nhấnmạnh
sựgầngũi với tầng Hán‑Việt trong tiếngViệt, truyngược nềntảng lịchsử của
nó về khoảng 3.000 năm — một mốc thờigian hoàntoàn vắngbóng trong khung
tiềnsử NamÁ Môn‑Khmer.
Về mốcthờigian trong ngônngữhọc lịchsử và các mốiliênhệ của chúng,
Merritt Ruhlen trong The Origin of Language (1994 [1944]) dẫn
lời Hans Henrich Hock (bảndịch tiếngViệt):
“Chúngta khôngbaogiờ cóthể chứngminh rằng hai ngônngữ bấtkỳ khôngcó
quanhệ nhau. Luôn có khảnăng rằng chúng thựcsự có liênhệ, nhưng
mốiliênhệ ấy thuộc về một thờiđiểm quá xaxưa đến mức hàng thiênniên kỷ
của những biếnthiên ngônngữ đã xoánhoà hoàntoàn dấuvết
banđầu.Cuốicùng, vấnđề này gắnliền với câuhỏi liệu ngônngữ (theo
nghĩarộng) có một hay nhiều nguồngốc? Và câuhỏi này chỉ cóthể được
giảilập bằng những giảđịnh khôngthể kiểmchứng, vì ngaycả với độsâu
thờigian mà phươngpháp phụcnguyên cungcấp, hiểubiết của chúngta về
lịchsử các ngônngữ nhânloại cũng không vượtquá khoảng 5.000 năm TCN
— chỉ là một “látcắt” nhỏ trong tiềnsử dàiđằngđẵng của ngônngữ.”
(Hock 1986:566)
V) Nếpkhung tiếpcận ngữhệ Hán‑Tạng
Trong côngtrình này, tácgiả khảosát đồngthời hai bìnhdiện nghiêncứu —
quanhệ đồngnguyên và bốicảnh lịchsử — và chỉra hơn 400 từngữ cơbản trong
tiếngViệt tươngứng với từnguyên Hán‑Tạng. Những từnguyên đồnggốc này
được củngcố thêm bằng việc phântích các đặcthù ngônngữ Hán thấmsâu
vàotrong tiếngViệt, quađó làm vữngchắc lậpluận trungtâm của thuyết
Hán‑Tạng mà bàiviết này đềxuất.
Tácgiả đặt nềnmóng phươngpháp mới cho cách tiếpcận khung Hán‑Tạng trong
lớp Hán‑Việt. Tráivới khảnăng thuthập thôngtin tăngtốc của thờiđại
Trítuệ Nhântạo (AI), nghiêncứu của ông bắtnguồn từ thờikỳ tiền‑internet
và dựatrên họcthuật truyềnthống. Các kếtquả được ghinhận theo lối
cổđiển: đọc trựctiếp hàngtrăm đầusách in, lậtlại từngtrang, từngdòng.
Mỗi pháthiện được ghichép thủcông lên các thẻ mụclục, tríchtừ một kho
tưliệu đồsộ.
Trong hơn hai thậpniên, tácgiả đã tíchluỹ hơn 20.000 phiếu nghiêncứu
ghichép trước năm 2000, đúngvàolúc thờiđại thôngtin‑internet bùngnổ. Những
phiếu này tuy chưađược mãhoá lưutrữ nhưng thựctế đãđược nộitâmhoá sâusắc,
hìnhthành một khungnhậnthức bềnvững tiếptục địnhhình cách ông phântích
dữkiện. Hiếmkhi tácgiả cần tralại thẻ gốc vì ông đã xâydựng trong tâmtrí
một cáinhìn tổngthể về cấutrúc và ngữnghĩa của từnguyên tiếngViệt, nhờđó
đã khôiphục một disản ngônngữ từng bị khuấtlấp khỏi giới họcthuật vì họ
còn thiếusót cảmtính. Ngượclại, dovì nhiều việndẫn xuấtphát chủyếu từ
tâmthức ngườiviết nhưng về nộithức lại thiếutính khoahọc vì ngườiđọc sẽ
đặt nghivấn khônghiểu tácgiả căncứ vào đâu. Tính đến năm 2026, chỉkhoảng
mộtphầnnhỏ số đầusách đã nộitthứchoá này được nhậpvào thưmục thamkhảo;
phầncònlại sẽ vẫncòn biênmục — một côngviệc vừa tốnthờigian vừa đòihỏi
sựtỉmỉ của phụtá người biêntậpviên thời mựcin và giấymá, trong khiđó
trênmạng chỉcần gõ trên bànphiếm và phútgiây AI sẽ cốnghiến ngay cho
ngườinghiêncứu hàngtrăm đầusách liênhệ.
Tuynhiên, giốngnhư hộichứng Hồsơ Epstein, việcgìcòncóđó, với khối
bằngchứng đồsộ này, hệthốnghoá dữliệu đốichiếu nằm nhannhãn trên mạng
cóthể chứngminh rằng phầnlớn từngữ Hán‑Tạng trong lớp Hán‑Việt đều cóthể
truyvết đến ítnhất một từnguyên đồnggốc trong tiếngHán, quađó củngcố tính
liêntục lịchsử và ngônngữ giữa hai truyềnthống.
Đượcthúcđẩy bởi niềmđammê bềnbỉ, tácgiả đã dành hàng thậpniên đắm mình
trong việc tựhọc ngônngữhọc lịchsử Việt–Hán. Nỗlực ấy kếttinh thành việc
xâydựng một từđiển trựctuyến về các từ Nôm gốc Hán — một kho tưliệu
từnguyên Hán‑Việt có chúgiải, được biênsoạn từngmục một.
Nhưvậy cóthể nói vềmặt sốhoá, tácgiả đã bướcvào thờiđại điệntử và
tiếptục pháttriển dựán từngphần, liêntục được cậpnhật trên trênmạng, dành ưutiên khảnăng truycập trên
mànhình diđộng với cáchtrìnhbày theo từng mãng môhình nộithức (xem thídụ
bằng Bảng 3 trong bàiviết này). Địnhdạng này vừa mởrộng khảnăng tiếpcận
côngchúng, vừa giữđược biêntập với độ rõràng và chínhxác ngữnghĩa, chophép dựán mởrộng mà khônglàm suygiảm
tínhnghiêmtúc phươngpháphọc.
Mụctiêu tốihậu vẫnlà xuấtbản trong hệthống ấnphẩm chínhthống, nhằm
thúcđẩy một luậnđề khuyếnkhích táikhảosát ngônngữhọc đốivới trục
Hán‑Tạng. Trọngtâm của luậnđề này là giảthiết chorằng các phươngngữ
tiếngHán hiệnđại hìnhthành như những nhánh được địnhhình chủyếu bởi
sựhoàtrộn giữa tầngnền Taic‑Yue (Thái-BáchViệt) và tiền‑Tạng
(proto-Tibetan), kếttinh thành tiền‑Hán và các tầng ngônngữ tiền‑Tần–Hán
trên toàn cươngthổ Trungquốc cổđại. Tươngtự, sựhoànhập của yếutố
BáchViệt vào khônggian Annam trong thời Tần–Hán cólẽ đã gópphần vào sự
hìnhthành tiếngViệt sơkỳ, địnhhình rõnét vào khoảng thếkỷ thứ 10.
Vềmặt phươngpháp trìnhbày, bàiviết này được thiếtkế để thuhút cả người
mới tìmhiểu ngônngữhọc lịchsử Việt lẫn các chuyêngia Hánhọc và Việtngữhọc.
Người họctiếngViệt có nềntảng vững về tiếngQuanthoại (QT), còngọilà tiếng
Quanhoả hay 官話 Guānhuà, nay chínhthức mangtên Putonghua (普通話), cùng
với kiếnthức cơbản về ngônngữhọc lịchsử, sẽ thấy côngtrình này đặcbiệt
hữuích. Mộtsố đoạn giảithích cóthể cóvẻ chitiết hoặc lặplại nhằm nhấnmạnh
những điểm quenthuộc với giới chuyêngia, hoặc mộtsố khoảngtrống cóthể gây
khókhăn cho độcgiả phổthông — nhưng tấtcả đều nhằm cânbằng nhucầu của
nhiều nhóm độcgiả khácnhau. Tàiliệu nhậpmôn về ngônngữhọc lịchsử được
liệtkê trong thưmục thamkhảo. (3)
Dođó, bấtkể câuchuyện cuốicùng có hìnhthức rasao, tácgiả chủtrương rằng ngônngữ phảiđược tiếpcận như những hệthống
sinhđộng và toàndiện, đượchiểu với biểuthức phứchợp hiệnđại của chúng,
thayvì bị giảnlược về những tầng phụcnguyên xaxưa 3.000 hay 5.000 năm.
Quanđiểm này tươngtự cách ta nhìn tiếngAnh: khôngchỉ như một tàndư Ấn‑Âu,
màlà một hợpthể năngđộng của Anglo‑Saxon, Germanic, Norman, Romance,
Latin, Greek, và nhiều ảnhhưởng khác đã địnhhình diệnmạo hiệnnay.
Những mốiquantâm chung tạodựng nên niềmtin và sựđồngcảm, giốngnhư
sựgắnkết giữa những người cùng một truyềnthống. Một lýthuyết mới thường
khởidầu bằng những tiềnđề nềntảng: dữkiện, tríchdẫn, bằngchứng hỗtrợ,
quyluật, môhình, phép loạisuy và lậpluận. Từ đó, ta hìnhthành một
quanđiểm chung, chấpnhận chúng làm cơsở cho biệnluận tiếptheo. Chẳnghạn,
nếu ta đềxuất rằng [ 雞 (jī, SV kê) = gà ] và [ 蛋 (dàn, SV đản) = trứng
] là những từnguyên đồnggốc khôngthể phủnhận, nhiều khảnăng đều xuấtphát
từ gốcViệt (Yue) cótrước tiếngHán, thì khôngcần phải bỏ côngsức ra để
chứngminh quámức. Mộtkhi đã chấpnhận tiềnđề, vấnđề trọngtâm là
chuyểnsang việc xemxét congà đến từ phươngNam hay phươngBắc — hoặc
thậmchí câuhỏi muônthuở: trứng cótrước hay gà cótrước.
Bàiviết này nhằm thiếtlập mốiliênhệ với độcgiả và làmrõ quanđiểm của
tácgiả để xâydựng tiềnđề cho các bàiviết tiếptheo của côngtrình được
phátbiểu, quađó tạo một kênh kếtnối họcthuật cho những ai tìmkiếm
hiểubiết về nguồngốc ngônngữ tiếngViệt. Nó không trìnhbày như một
bàinghiêncứu khoahọc theo chuẩn hìnhthức với bảngsốliệu và môhình
thốngkê; thayvàođó, nó đưara một hànhtrình tựsự về ngônngữ giúpcho người
đọc theobước truytìm như được đềra gợiý kháiniệm của phụđề
tiếngViệt Ýthức Mới về Nguồngốc TiếngViệt — một sắcthái cóthể
hiểulà “sựhoàgiải mới giữa các luậnthuyết tráichiều về nguồngốc
tiếngViệt”, ítra là nhưvậy.
VI) Hướngtới sựdấnthân sâuhơn vào từnguyên Hán‑Việt
Tuynhiên, cuốicùng khi được trìnhbày dưới dạng inấn tưliệu cóthể được
tiếpcận với mứcđộ kháchquan caohơn, được hỗtrợ bởi các dẫncứ cóthể
tríchdẫn, và tấtnhiên kếtquả vẫncòn tuỳthuộc vào việc tácgiả có tìmđược
một nhàxuấtbản uytín haykhông. Đốivới những độcgiả vẫn còn hoàinghi nhưng bị cuốnhút bởi các mốiliênhệ
từnguyên giữa tiếngViệt và tiếngHán, cólẽ đáng để chờđợi bản in đầyđủ của
côngtrình này. Sách inấn thường khuyếnkhích ngườiđọc sựdấnthân sâuhơn và một
tháiđộ cởimở vữngtin hơn đốivới các lậpluận phứctạp. Khócó khảnăng toànbộ
chiềusâu của cuộckhảocứu này cóthể được tiếpnhận trọnvẹn qua hìnhthức
trựctuyến vì quá dàidòng để ngườiđọc tậptrung.
Bảnchất conngười thường thiênvề những ýtưởng phùhợp với cảmnhận bằng
trựcgiác. Để thựcsự thấuhiểu những nhậnđịnh được trìnhbày ởđây, lýtưởng
nhất là độcgiả nên có chútit hiểubiết về lịchsử tươngtác giữa Việtnam và
Trungquốc. Dẫuvậy, ngườimới bắtđầu vẫnđược chàomừng, miễnlà họ thựcsự tòmò
muốnbiết. Cốtlõi của côngtrình này là tườngthuật lịchsử — một câuchuyện
ngônngữ và vănhóa hấpdẫn, cóthể cuốnhút cả họcgiả lẫn độcgiả phổthông
quantâm đến vấnđề.
Dưới gócđộ ngônngữhọc lịchsử, sự tiếpxúc giữa hai cộngđồng ngônngữ thường
dẫn đến việc ngônngữ mạnhhơn đồnghoá ngônngữ yếuhơn theo thờigian. Chitiết
của quátrình này phụthuộc vào các yếutố như sứcmạnh quânsự, quymô dânsố và
mứcđộ pháttriển vănhóa. Chẳnghạn, ngônngữ của một cộngđồng chinhphục, sau
một thờikỳ songngữ kéodài, cuốicùng sẽđược cộngđồng bị chinhphục tiếpnhận
(Roberts J. Jeffers et al. 1979: 142).
Trong bốicảnh Hán‑Việt, quátrình Hánhoá ở Annam kéodài nhiều thếkỷ.
Tácgiả không có ýđịnh tranhluận với những người phảnđối lậpluận của mình,
cũng không tìmcách thuyếtphục những ai vốn không thiệncảm với giảthuyết
Hán‑Việt. Ngônngữhọc lịchsử không manglại chânlý tuyệtđối; nó được
địnhhình bởi diễngiải những quanđiểm. Niềmtin thường ănsâu, được dẫndắt
bởi trựcgiác hoặc cảmgiác. Những phảnứng quenthuộc như “Đồtuyêntruyền
Chinazi!” (bởilẽ nhắcđến gốcTàu), “Wikipedia không đángtin!”, “Bogus!”,
v.v., là mộtphần của diễnngôn trong thờiđại internet. Với những độcgiả có
phảnứng nhưvậy, tácgiả xinmời dờibước rakhỏi diễnđàn hơnlà tranhcãi.
Đến giaiđoạn này trong hànhtrình truytìm từnguyên của mình, tácgiả
bàiviết nầy sẽ tiếptục làmgì? Thựctình, ông khôngđược đàotạo chínhquy với
tưcách một nhàngônngữhọc lịchsử chuyênvề Việtngữhọc. Nhưng hànhtrình của
ông bắtđầu từ những khoáhọc ngônngữhọc nhậpmôn do ban giảnghuấn Anhngữ
tôiluyện từ những họcviện quốctế nổitiếng trước thángtư 75, và cộngthêm
ngônngữhọc chuyênđề tiếngViệt do ba họcgiả lớn Việtnam của thếkỷ 20
giảngdạy: Giáosư Nguyễn Tài Cẩn, Hoàng Tuệ, và Bùi Khánh Thế — những
têntuổi hàngđầu của Đạihọc Sàigòn thời Vănkhoa còn sánglạng. Điều khởidầu
đó như một sựtòmò họcthuật đã dần trởthành niềmđammê suốtđời đốivới
từnguyên tiếngViệt và nềntảng Hánhọc của nó.
Tácgiả vẫn nhớrõ đềtài đầutiên được Giáosư Hoàng Tuệ giao: khảosát từ
tiếng trong tiếngViệt. Từ tưởng như đơngiản này mà nó lại baohàm
một chùm nghĩa: âmthanh, hìnhvị, âmtết, từ và ngônngữ.
Nghiêncứu đốichiếu của ông với từ tươngứng trong tiếngHán 聲 (shēng, HV
thanh, HN tiếng) đã trởthành bướcngoặt trong sựnghiệp ngữhọc trên 30 năm
của tácgiả. Bềrộng ngữnghĩa của 聲 shēng, đặcbiệt trong các tổhợp như 蠻聲
(Mánshēng) — chỉ tiếngMôn trong các phươngngữ Shaozhou Tuhua (韶州
土話) của các tỉnh Quảngđông, Hồnam và Quảngtây ngàynay — chitiết nầy hélộ
chothấy một sựcộnghưởng ngônngữ sâusắc vượtqua giớihạn vănhóa.
Đốivới tácgiả, tiếng và 聲 shēng đã trởthành Đạo (道 Dào, HN
“đường”) mởra khotàng từnguyên Hán‑Việt. Chính nguyêntắc dẫnđạo này
đã thôithúc ông khảosát những chữHán khác có phạmvị nghĩa vượtxa các
trườngnghĩa thôngthường. Đó chínhlà sứcquyếnrũ của ngônngữ: một hệthống vừa
cứng vừa mềm, vừa lịchsử vừa sốngđộng. đặcbiệt là các phươngngữ Kadai‑Daic
hiệnđại. TiếngViệt, tuynhiên, khôngthể bị giảnlược nhưvậy. Lịchsử và cấutrúc
ngônngữ của nó đòihỏi một sựcôngnhận độclập và tinhvi hơn. Và tácgiả đã
vùimàikinhsử trên 30 năm trong lãnhvực này.
VII) Mộtvài triếtlý truytìm từnguyên Hán‑Nôm
Vìsao tácgiả lại tựtin cổvũ cho luậnthuyết nguồngốc Hán (Sinitic) trongkhi
hoàinghi các môhình NamÁ? Sựtươngtác giữa tiếngHán và tiếngViệt vốn
phứctạp, và ông tiếpcận nó bằng cả sựnghiêmtúc họcthuật lẫnchút hómhỉnh
châmbiếm — một giảthiết được hunđúc từ quansát lâudài và kinhnghiệm sống.
Ít có họcgiả nào sẵnsàng lặnsâu vào những tranhluận vốnkhó đạtđến kếtluận
dứtđiểm này. Các lýthuyết phânloại ngônngữ môphỏng theo môhình Ấn‑Âu
thường tỏra kém hiệuquả khi ápdụng vào bốicảnh NamÁ. Những người bấtđồng
với quanđiểm chínhthống đôikhi bị xemlà “yếunền,” nhưng ngônngữhọc là
lĩnhvực nơi khoahọc, lịchsử và trựcgiác nhânloại giaonhau. Tiếnbộ thường
đến từ những người thếcô dám tháchthức các tựsự đang chiếmưu thế.
Trong hơn bamươi năm, sựtiếpxúc của tácgiả với tiếngHán ngàycàng sâurộng,
cả trong họcthuật lẫn đờisống. Khảnăng Quanthoại hiệnđại (Putonghua) của
ông được địnhhình qua những cuộc tròchuyện hằngngày với người vợ bảnxứ
Trungquốc, qua việc đọc rộng vănhọc Trunghoa, và qua việc thườngxuyên
theodõi các phươngtiện truyềnthông Trungquốc — từ truyềnhình vệtinh đến
phimbộ hiệnđại. Sựđắmmình liêntục này gọtdũa trựcgiác của ông về mốiliênhệ
từnguyên giữa tiếngHán và tiếngViệt. Điều khiến ông saymê nhất là sự
gầngũi đángkinhngạc — vượtxa mứcđộ trùnglặp từvựng — giữa các cách diễnđạt
Quanthoại hiệnđại và các cách nói tươngứng trong tiếngViệt đời thường.
Những tươngđồng này, được quansát trong khẩungữ và phimhài, củngcố niềmtin
của ông rằng mốiliênhệ ngônngữ giữa hai thứ tiếng sâuhơn nhiều sovới điều
mà ngônngữhọc Hán truyềnthống thường thừanhận. Sựtươngứng này cũng
hiệndiện trong vănhọc Trunghoa cổđiển từ thếkỷ 12, cóphảilà đã gợiý một
đốithoại liên vănhoá và lâudài không.
Tácgiả tin rằng bấtkỳ họcgiả Việtnam nào thôngthạo Quanthoại hiệnđại và
có lăngkính từnguyên đều sẽ nhậnra giátrị của quanđiểm này. Tuyvậy, ông
cảnhbáo không nên giảnlược tiếngViệt thành một biếnthể hậu‑Việt (Yue)
tươngtự Quảngđông, Phúckiến, Choang hay các ngônngữ Daic. Những ngônngữ
này, được địnhhình qua hàng thếkỷ Trunghoatrị, đã trảiqua một quátrình
Hánhoá sâurộng và thường bị xếpvào phạmvi phânloại Hán‑Tạng, đặcbiệt là
các phươngngữ Kadai‑Daic hiệnđại. TiếngViệt, tuyvậy, không chấpnhận sự
giảnlược nhưthế. Hànhtrình lịchsử và cấutrúc ngônngữ của nó đòihỏi một sự
côngnhận tinhvi và độclập hơn.
Dĩnhiên, hànhtrình này khôngphải lúcnào cũng hứngkhởi. Tácgiả nhiềulần
tựhỏi vìsao mình lại dấnthân sâu đếnvậy? Không có phầnthưởng vậtchất nào
chờđợi ông phíatrước. Rốtcuộc, đã có ai thựcsự quantâm đến việc một
từnguyên Hán có gốcViệt hay ngượclại? Bấtkể kếtquả rasao, tiếngViệt cólẽ
vẫn sẽđược xếpvào họ NamÁ hoặc Hán‑Tạng. Nhưng chừngnào tácgiả còn đủ
nănglượng và đam mê để tiếptục, ông vẫn khẳngđịnh: hãy cùng đitiếp
hànhtrình này, chođến ngày ông khôngthể nữa.
Như một hànhgiả tìmkiếm mặckhải, hànhtrình tácgiả tiếpcận từnguyên này
với sự kinhngạc và quyếttâm. Mỗi pháthiện — dùlà độtphá hay bếtắc — đều
làm sâusắc thêm hiểubiết của ông về cảnhquan ngônngữ Việt. Nhiều năm
nghiêncứu ngônngữhọc lịchsử Trunghoa đã khơidậy tòmò của tácgiả về
quákhứ của ngônngữ Trungquốc. Trảinghiệm này, tươngtự niềmsaymê của
ngườihọc tiếngAnh khi khámphá tiếng Hylạp, Latinh và các ngônngữ Rôman,
vì nó đã mởrộng hiểubiết của ông về từnguyên tiếngViệt đồngthời làmgiàu
thêm kiếnthức của ông về tiếngHán.
Trong giaiđoạn đầu nghiêncứu, tácgiả chấpnhận quanđiểm chínhthống của
giới chuyêngia Việtnam vốn nhấnmạnh mốiquanhệ Môn‑Khmer. Nhưng quanđiểm
ấy nay đã thuộc về quákhứ. Qua thờigian, kinhnghiệm và sựtruycứu bềnbỉ,
ông hìnhthành một cáchhiểu vấnđề tinhvi hơn. Khi đisâu vàongành, ông
nhậnthấy tiếngViệt có nhiều điểm tươngđồng với các ngônngữ Hán hơnlà
ngaycả các ngônngữ Hán‑Tạng có với nhau trong cùng một ngữhệ. Những
tươngđồng này vượt khỏi từvựng cơbản, lansang các lềlối diễnđạt và
đặctrưng cấutrúc — những yếutố mà ngônngữhọc lịchsử dùng để xáclập
quanhệ ditruyền.
Trườngphái NamÁ tậptrung chủyếu vào các yếu tố chung giữa tiếngViệt và
các ngônngữ Môn‑Khmer. Nhưng họ bỏqua nhiều phát hiện quantrọng trong
từnguyên Hán‑Tạng, đặcbiệt là những từ cơbản xuất hiện ổnđịnh trong cả
tiếngHán và tiếngViệt qua thờigian — những từ mà họ thường gán cho
Môn‑Khmer. Xét đến sốlượng lớn từViệt phùứng (‘cognate’) với từnguyên
Hán‑Tạng, các mốiliênhệ Môn‑Khmer được đềxuất thiếu những đặctrưng
ngônngữ thiếtyếu — như tính đaâmtiết và thanhđiệu — vốnlà đặctrưng chung
của tiếngViệt và tiếngHán. Những đặctrưng này vượttrội sovới bằngchứng
mà trườngphái NamÁ đưara.
Nếunhư các đặctrưng ngônngữ tiếngViệt được hệthốnghoá và sosánh chitiết
với ngônngữhọc lịchsử tiếngHán, sẽ thấyrằng tiếngViệt, ở nhiều
phươngdiện, là một dạng biếnthể của tiếngHán. Niềmtin này đã thúcđẩy
tácgiả xửlý những phứctạp ấy và biênsoạn côngtrình này trong hơn
haimươilăm năm. Thuyết Hán‑Nôm mà ông đềxuất khôngchỉ dựatrên danhsách
hơn 400 từnguyên đồnggốc Hán‑Tạng được trìnhbày trong bàiviết về
Hán‑Tạng, mà còn được củngcố bởi bằngchứng từ nhânchủnghọc, khảocổ và
tưliệu lịchsử.
Do sự khanhiếm tưliệu lịchsử, các chuyêngia NamÁ thường buộcphải
giảđịnh dựa thuần tuý vào quy luật biếnâm. Vìthế, họ tậptrung vào việc
sosánh các từ cơbản Môn‑Khmer — nhiều từ trongsốđó dầndần được
táiphânloại sang các họ ngônngữ khác. Khi thiếu bằngchứng ngônngữ
thuyếtphục, họ đôikhi chuyểnhướng sang các ngônngữ lâncận, một xuhướng
làmsuyyếu lậpluận của họ về mốiliênhệ từnguyên Việt–Hán.
Hãy xét vídụ từ “vịt”. Nó khôngcó từnguyên đồnggốc trong
Môn‑Khmer. Để giảithích, một số họcgiả NamÁ đềxuất liênhệ với tiếng Thái
เป็ด /pĕd/, dù họ biếtrằng tiếng Thái xuấtphát từ ngữchi
Daic (thídụ tiếngTày), mà Daic lại có gốctừ Taic — chínhlà
dòng ngônngữ đã sinh ra các ngônngữ BáchViệt (Yue), tổtiên của tiếng
Việt‑Mường cổ!
Nếunhư ta giảđịnh mốiliênhệ giữa “vịt” và 鴨 yā (HV áp), tưliệu lịchsử
cóthể cungcấp bằngchứng hỗtrợ. Đổng Tác-Bân (董作賓, 1933), trong
Luậnđàm (《譠》), tr. 162, nhắcđến một địađiểm thuộc nướcĐàm thời Thương
(nay thuộc Tỉnh Sơnđông) gọilà 武原城 Vũnguyênthành. Dânđịaphương gọi nó
là 鵝鴨城 Ngaápthành (tức “Thành Nganvịt”), cólẽ vì sựtươngđồng ngữâm
trong phươngngữ địaphương lúcbấygiờ.
Chiềuhướng lịchsử này của từnguyên Hán‑Việt — thểhiện qua các trườnghợp
như “vịt,” “ngan,” “ngỗng” (được dùng để phụcnguyên 原, 源 yuán →
“nguồn,” “dòng”) — cho thấy độsâu của mốiliênhệ Việt–Hán, một lĩnhvực mà
giảthuyết NamÁ Môn‑Khmer khôngthể giảithích.
Dựatrên khung lịchsử nêu trên và được mởrộng trong các chương tiếptheo,
côngtrình này trìnhbày một cách toàndiện quátrình hìnhthành tiếngViệt
hiệnđại — cả theo trục lịchsử (diachronic) lẫn trục đồngđại (synchronic)
— và mốiliênhệ của nó với các phânnhánh Hán trong họ Hán‑Tạng.
Bảng 3 – DânViệt gốc NamÁ đưara tháchthức trên mạng
“Xin các ông Hàn Lâm, chỉ cho tôi 1 chữ Tàu, hoặc lai Tàu trong câu
này ??
Vậy tại sao ông dám viết như câu ở trên ?? Câu dưới đây có dựa chữ nào vào chữ, nghĩa Trung Hoa hay không
??”
“Thằng bé lom khom theo bố, trong tay là 2 nắmcơm vừng,
cùng con trâu ra đồng cầy ruộng.
Trong khi bố nó lẽo đẽo theo con trâu, nó leo trèo hái vài quả
sấu, nhai nhồm nhoàm. Chán, nó leo xuống xoi lỗ bắt cáy, bắt còng.
Chợt bố nói gọi, nó tất tả mang cơm và nước vối đến cho bố.
Con trâu thì chậm rãi nằm nhai lại đám cỏ cắn vội trong lúc kéo
cày.
Hai bố con vừa ăn cơm vừa kể chuyện xóm làng cùng bữa cơm độn khoai tối
nay, chuyện cày bừa cấy lúa từ thời ông bà truyền lại.
Ở cái ao bên cạnh, một con cá lóc bỗng quẫy mình kḥỏi mặt nước.”
TRÀLỜI: Dạthưa ông NamÁ, 99.9% của tấtcả từ tiếngViệt
tríchdẫn trên đềulà từ có gốc “Tàu” ạ, ngoạitrừ 3 từ sauđây mà
tácgiả tạm ghi trong ngoặcđơn tạmthời chưa xácđịnh ngọnngành đó thôi: ‘quảsấu’ (酸果 suānguǒ), ‘nướcvối’ (水翁 shuǐwēng), ‘cálóc’ (鱧 魚 lǐyú).
Đâylà côngđoạn mà anhbạn NamÁ phải thựchiện để truytìm từnguyên
Hán-Nôm:
1. Chuyểnđổi nguyênvăn sang hìnhthức songtiết / đaâmtiết”, thídụ:
“Thằngbé lomkhom theo bố, trongtay là hai nắmcơm vừng, cùng contrâu rađồng càyruộng,” et cetera.
2. Vô trang Từđiển Việt-Tàu và đánh từng từ vào để tìm từnguyên! Thídụ:
a. Từnguyên: (tuyểnchọn từ thíchhợp)
Thằngbé = 小把戲 xiǎobǎxì, lomkhom = 卷婁 quánlóu, theo = 隨 suí, bố = 父 fù, trongtay = 手中 shǒuzhōng, là = 是 shì, hai = 二 èr, nắmcơm = 飯團 fàntuán, cơmvừng = 芝麻 zhīmācā, cùng = 跟 gēn, con = 子 zǐ, trâu = 丑 chǒu, rađồng = 下地 xiàdì, càyruộng = 耕田 gēngtián
b. Dịchthuật: (chungchung với cáchnói hiệnđại bằng kỹthuật AI)
小把戲 卷婁 地 隨著 父親 ,手中 拿的 是 兩份 芝麻 飯團 牽 一 頭牛 下地 耕田 去 了。
Xiǎobǎxì quánlóu de suízhe, shǒuzhōng náde shì liǎngfèn zhīmā, qiān yī tóuníu xiàdì gēngtián qù le.
vânvân và vânvân…
Một đónggóp quantrọng khác của tácgiả là làmrõ cáchdùng thuậtngữ “Hán”
(Sinitic), được dùng như một quyước tiệnlợi để chỉ các yếu tố thuộc phạmvi
ngônngữ và vănhóa Hán. Như đã nêutrước, “Hán” khôngphải là một địnhdanh
tôngiáo hay chủngtộc như “Dothái,” mà là một kiếntạo vănhóa, tươngtự “Mỹ”
(America). Về mặt ngônngữ, kháinệm “Hán” chỉ xuấthiện khi nhà Tần
thốngnhất Trungquốc, khi một biếnthể tiền‑Tạng được đặtlên tầngnền
Taic‑Yue. Ngônngữ mà ta gọilà “tiếngHán” ngàynay mangtên theo sựkiện tụhội
chínhtrị đó, và vìthế mang một hànhtrình lịchsử riêng gắnvới tiếntrình
hìnhthành thựcthể Trunghoa.
Thuậtngữ “Hán” hay “Chinese” theo nghĩarộng, bắtnguồn từ sự thốngnhất các
nước cổ vào đếquốc nhàTần — một sựkiện có quymô tươngtự Liênminh ChâuÂu
ngàynay. Trong giaiđoạn này, tànlưu của các yếutố ngônngữ Taic‑Yue
(Thái-Việt) bảnđịa đã thấmvào từvựng đếquốc mới, bấtkể các nhàHánhọc có
thừanhận hay không. Các ngônngữ BáchViệt phươngNam như Quảngđông,
Phúckiến, Ngô… từđó được xếpvào họ Hán‑Tạng, thường qua các quyếtđịnh
hànhchính của triềuđình. Vềmặt từvựng, “Hán” đã trở thành nhãnchung cho
tấtcả các phươngngữ này (xem Tang Lan, 1965, tr. 184).
Giảsử lịchsử đã diễntiến theo một hướng khác — chẳnghạn, nếu nướcSở giành
thắnglợi trước cả Tần lẫn Hán trong những chiếndịch quyếtđịnh — thì cólẽ
Trungquốc ngàynay đã được biến tên thành “Sở”. Tưliệu lịchsử cho thấy Sở
là một nhànước Thái-Việt (Daic‑Yue), nhiều khảnăng có gốctích Taic, tổtiên
của các dântộc Tày (Daic) và Nùng (Choang). Cưdân của nó cólẽ đã từng nói
một biếnthể của thứtiếng “Sở” cổ, thayvì dạng ngônngữ mà ngàynay ta
quengọi là “Hán”. Tươngtự, nếu nước NamViệt từng thànhcông trongviệc
tiếpthu đếquốc nhà Hán, thì danhxưng chủđạo cólẽ đã trởthành “Việt”, hoặc
/Jyut6/, hoặc “Yue” theo cáchđọc Quanthoại (xem Lỗ Thế‑Bằng, 1964; Bó
Dương, 1983–93).
Tựutrung, “Hán” hay “Chinese” khôngphảilà một địnhdanh tộc‑chủng cốđịnh,
mà là một kiếntạo vănhóa được giớihạn trong những biênđộ thayđổi theo
thựcthể nhànước Trungquốc. Têngọi cóthể thayđổi theo triềuđại, nhưng
sựliêntục ngônngữ của nó vượtlêntrên mọi nhãnhiệu. Những giảđịnh lịchsử
này nhấnmạnh tínhngẫubiến của việc đặttên: các quyước thuậtngữ được
chốtlại bởi kẻchiếnthắng và tiếntrình củngcố chínhtrị, trongkhi tầngnền
ngônngữ sâuhơn thường vẫn tồntại qua nhiều lần thayđổi triềuđại. Chẳnghạn,
dưới Triều Mãn-Thanh (1644–1911), quốchiệu chínhthức là “Thanh”, nhưng lõi
vănhóa và ngônngữ của nó vẫn mang bảnchất Hán, vì ngườiMãnchâu đã trởthành
một phần của thựcthể chínhtrị ấy.
Hãy xétthêm một giảđịnh khác: nếu Đếquốc Nhật đánhthắng trong Thếchiến II
và đổitên Trungquốc thành “Đại ĐôngÁ” thì trong kịchbản đó, thuậtngữ
“Sinitic” cóthể đãbị thaythế bởi một danhxưng hoàntoàn khác “phi‑Sina”.
Thínghiệm tưduy này chothấy danhxưng ngônngữ thường là sảnphẩm của
tiệndụng, tấtyếu do quyềnlực hơnlà phảnánh một thựctế ngônngữ nộitại. Khi
đặt cạnh các khung (Thái-Việt) Taic‑Yue hay NamÁ Môn‑Khmer, những quyước
đặttên nhưvậy cóthể chekhuất những liêntục sâuhơn. Saucùng, bảnchất
ngônngữ vượtlêntrên mọi nhãngọi ápđặt lên nó.
Về tínhnguyênbản của khảocứu này, tácgiả khẳngđịnh rằng đâylà côngtrình
do conngười biênsoạn, đặcbiệt trong bốicảnh nó được trìnhbày dướidạng một
dựán nghiêncứu đang tiếpdiễn. AI chỉ được dùng như côngcụ để giámsát lỗi
và hiệuđính ngônngữ bềmặt. Khôngcó trítuệ sángtạo và camkết họcthuật của
đầuóc con, côngtrình này sẽ không, và khôngthể, tồntại. Ởđây tríchdẫn câunói của Descartes rấtưlà thíchhợp “Tôi nghĩ nên tôi hiệnhữu.” — “Je suis donc j’existe” (nguyênngữ Latinh “ego sum, ego existo”)
Cũng cần thừanhận sựhoàinghi của một số độcgiả đối với các côngtrình
họcthuật chỉ xuấtbản trựctuyến, thường bị xemlà “giả” hoặc cókhảnăng do AI
tạora. Dù hìnhthức kỹthuậtsố mang lại lợithế về khảnăng tiếpcận và mởrộng,
những longại về độtincậy và tínhbềnvững vẫn là chínhđáng. Tácphẩm
trựctuyến luôn cóthể bị sửađổi liêntục, và sựtồntại lâudài của chúng
khônghề được đảmbảo. Qua thờigian, website hay trangmạng có thể biếnmất
khỏi kếtquả tìmkiếm do không hoạtđộng, hoặc biếnmất hoàntoàn khi dịchvụ
lưutrữ hếthạn hay tài khoản khôngcònđược duytrì.
Trong bốicảnh đó, quyếtđịnh côngbố trựctuyến từngphần của tácgiả vừa là tấtyếu, vừa là chủđích: chiasẻ pháthiện hoặc hiệuđính
theo thờigian thực, đồngthời giữlại tiếngnói conngười đứng đằngsau
côngtrình. Giátrị bềnvững của khảocứu này dođó không nằm ở hìnhthức, mà ở
tínhđộcđáo của những nhậnđịnh và độ nghiêmtúc của phươngpháp.
Tàiliệu này nênđược xem như lời mởđầu cho ấnbản in sắptới. Trong lĩnhvực
ngônngữhọc, không có kếtluận nào là tuyệtđối, và côngtrình này cũng không
ngoại lệ, bấtkể sau cùng nó có được đóng thành sách hay không. Tácgiả cho
rằng độcgiả thường ítcó xuhướng đọc trọnvẹn một côngtrình trựctuyến, như
cách họ cóthể làm với một đầu sách-in mua được với giátrị giatăng.
Trên thựctế, tácgiả tiếpcận các tàiliệu thamkhảo trong thưmục với cùng
sựtrântrọng, dẫu nhưđã nêutrước, thưmục vẫn chưa hoànchỉnh. Hàng trăm
đầusách vẫncòn nằm imlìm trên giásách cánhân, nhưng chúng được sửdụng để
tracứu thì vịtrí của chúng vẫn trịnhtrọng và có chủđích, tạothành bộ
giàngiáo trithức nângđỡ toànbộ khảocứu này.
Bàinghiêncứu này chọn một hướng tiếpcận phi‑truyềnthống khi không
dànhriêng một bàiviết để liệtkê toànbộ các quyluật biếnâm — tựnhiên hay
cóđiềukiện — giữa Hán‑Việt và các từvaymượn từ tiếngHán. Những khảocứu
toàndiện nhưvậy, tiêubiểu là các côngtrình của Nguyễn Tài Cẩn về hệthống
âm Hán‑Việt (1979, 2000, 2001), thườngđược kỳvọng trong các nghiêncứu có
quymô tươngtự. Thayvàođó, độcgiả sẽ bắtgặp một bản tómlược các môhình
âmvị, được minhhoạ qua vídụ và chúgiải ngắn. Trọngtâm đặtvào các tươngứng
âm bấtquytắc hoặc đặcthù, chẳnghạn môhình ¶ /y‑ ~ b‑/: 由 “bởi”, 油 “béo”,
邮 “bưu”, 柚 “bưởi”, 游 “bơi”, tấtcả đều đọc /yóu/ trong Quanthoại.
Một vídụ khác là 公母 (gōngmǔ), tươngứng với các cách nói tiếngViệt như
“trốngmái”, “sốngmái”, hoặc “chồngvợ”.
Nếu vềsau côngtrình này được đánhgiá tốt, có giátrị họcthuật, các
chuyêngia trong những lĩnhvực như phânloại và bảnghoá dữliệu từvựng cóthể
đảmnhiệm việc xáclập các môhình biếnâm khảdĩ và xâydựng các quyluật
tươngứng. Đâylà một côngviệc đòihỏi độ chitiết rấtcao, thậmchí phứctạp, vì
các biếnâm phụthuộc tầnsuất thường xảyra đồngthời và mang tính bấtquytắc,
chứ không tuânthủ hệthống đềuđặn như trong các ngônngữ Germanic. Dù
hiệntượng này khônghiếm, mứcđộ bấtquytắc trong Hán‑Việt đặcbiệt nổi
bật.
Những độcgiả thích xem vídụ cóthể tựdo dichuyển giữa các phần hoặc tìm
đến những chủđề họ quantâm tới màthôi. Khi làm vậy, họ sẽ gặp những vídụ
rảirác nhưng có liênkết chủđề xuyênsuốt vănbản. Tuynhiên, với các
đồngnghiệp họcthuật, tácgiả đưa ra một lời cảnhbáo: xin đừng tríchdẫn
ngoài ngữcảnh hoặc rútra kếtluận từ những lỗi đơnlẻ hay dữliệu chưa
hoànchỉnh. Những khiếmkhuyết nhưvậy là khôngthể tránhkhỏi trong một
côngtrình tolớn còn đang biênsoạn, và đôikhi lỗi chínhtả vẫn cóthể lọtqua.
Những phánxét vộivàng — như tácgiả từng trảiqua — thường dẫnđến chỉtrích
đángtiếc. Một vídụ điểnhình là mốiliênhệ thăm dò giữa 將 (jiāng) và
tiếngViệt “sẽ”, bị một diễnđàn ngônngữ bácbỏ là “khôngđángtin” và “giả”,
do nhầmlẫn giữa “nướctương” 醬油 (jiāngyóu) và “xìdầu” 豉油 (chǐyóu), một
lỗi phátsinh từ việc xửlý dữliệu bấtcẩn. Trong những trườnghợp nhưvậy,
độcgiả cóthể bị cámdỗ suydiễn các quyluật biếnâm ngoạilệ, chẳnghạn “jiāng”
~> “sẽ” theo môhình ¶ /j‑ ~ s‑/, /‑iang ~ ‑Ø/, /‑iang ~ ‑ʔ/. Consâu cóthể làm rầu nồicanh, tuynhiên, trong họcthuật một saisót đơnlẻ
khôngthể phủđịnh toànbộ tiếntrình khảocứu về các tươngứng ngữâm.
Những từnguyên nổibật đòihỏi phântích chitiết cóthể chiếmlấy nhiều
dunglượng. Các trườnghợp ngoạilệ hoặc bấtthường thường khôngdễ phânloại và
chothấy vìsao việc liệtkê toànbộ quyluật biếnâm cóthể trởnên cồngkềnh,
thậmchí cần một nghiêncứu độclập. Những bấtquytắc này, vốn khôngthể
kháiquáthoá cho các môitrường âmvị tươngtự, đòihỏi sựcânnhắc cẩntrọng.
Mụctiêu là trangbị cho độcgiả khảnăng diễngiải tinhtế này theo các khung
ngônngữhọc truyềnthống, hoặc khámphá các môhình mới qua những phươngpháp
linhhoạt. Saucùng, điều này nhấnmạnh tính giảđịnh của ngônngữhọc lịchsử và
biênđộ diễngiải rộng rãi trong việcphụcnguyên từnguyên.
Thayvì trìnhbày những bảng quyluật biếnâm máymóc, thường bị bỏqua hoặc
không được đọc, côngtrình này ưutiên các nghiêncứu trườnghợp và vídụ
trọngđiểm. Chúng sẽ làm sángtỏ các tiếntrình dẫnđến những kếtluận về
từnguyên Hán‑Việt. Bằngcách vượtrangoài những tươngứng quenthuộc, độcgiả
được mờigọi bước vào thếgiới biếnđổi ngữa6m phứctạp và rènluyện khảnăng tự
rú ra quyluật chung cho nhiều trườnghợp khác.
Dù tínhquyluật chiphối phầnlớn các biếnđổi âmvị, khảocứu này nhấnmạnh
các vídụ liênquan đến những hìnhthức và biếnthể âmvị của từ Hán, nhiều
trongsốđó đã thấmvào tiếngViệt từ thờicổ. Sự thấmnhập này trảidài qua
nhiều giaiđoạn lịchsử, đáng chúý nhất là thiênniênkỷ sau năm 111 TCN,
khi vùng Annam nằm dưới sựcaitrị của Trungquốc chođếnkhi giành độclập
năm 939. Trong cuộcxâmlăng của nhà Minh năm 1410, tiếng Quanthoại
tạmthời táixuất như ngônngữ chínhthức, đóngvaitrò quantrọng trong
giaotiếp ngoạigiao và hànhchính với triềuđình Trunghoa. (4)
Vềmặt ngữâm, có những trườnghợp biếnđổi âmthanh đã làm nẩysinh nhiều
biếnthể tiếngViệt khácnhau từ cùng một từnguyên. Tươngtự, ta cũng thấy
những trườnghợp nhưvậy trong tiếngNhật qua các cáchđọc Kanji và Go‑on của
từng chữHán. Lấy thídụ chữ 道 dào (‘Đạo’) chẳnghạn. Trong tiếngViệt, ta
cóthể nhậnra nhiều “cáchđọc” khácnhau của cùng mộ chữ biếnthành từ và
biểuđạt nhiều ýniệm khácnhau, và thúvị thay, phầnlớn trongsố đó tươngứng
với trườngnghĩa của chữHán gốc. Chẳnghạn:
- “đạo” (mang ýnghĩa đường, đạo, tôngphái, luânlý, kỹnăng, tuyến),
- “dạo” (lần, lượt),
- “đường” (đường, tuyến),
- “nẽo” (lối),
- “nói” (nói),
- “bảo” (bảo, dặn),
- “tưởng” (nghĩ, chorằng), vânvân.
Mỗi từ tiếngViệt này cóvẻ như một bảndịch của chữHán, nhưng
khôngnhấtthiết là nhưvậy. Thựctế, mỗi dạng Hán‑Việt tựphát này là một
biếnthể từnguyên đồnggốc, cùng bắtnguồn từ một từnguyên Hán duynhất: 道.
Hiệntượng này sẽ dễhiểu hơnnhiều nếu các chữNôm dựatrên Hán tự vẫn còn
được dùng rộngrãi trong vănbản tiếngViệt. Đángtiếc, điềunày khôngphải
lúcnào cũng xảyra, nhấtlà khi các âmtiết Quanthoại hiệnđại ngắn hơnnhiều
sovới âmtiết Hán Trungcổ.
Các quyluật biếnđổi ngữâm được minhhoạ trong bàinghiêncứu này không
nhằm mụcđích toàndiện hay trởthành tàiliệu thamkhảo cuốicùng. Vì
côngtrình vẫncòn đang tiếptục, và nó vẫnđược hiệuchỉnh và bổsung, với
dựđịnh sẽ có ấnbản in đầutiên dànhcho mộtsố trường đạihọc — lýtưởngnhất
là những nơi có cộngđồng ngônngữhọc lịchsử đang hoạtđộng. Các phươngpháp
được trìnhbày ởđây có tính thămdò và gợiý hơn là kếtluận, dù những
nguyêntắc nềntảng của chúng vẫn được giữnguyên trừ khi có sửađổi
rõràng.
Vì tínhchất tiếndiễn của côngtrình, các phươngpháp được trìnhbày nên
được hiểunhư những môhình thựctiễn — những vídụ về cách tácgiả đã ápdụng
hai khung từnguyên mới để tạora những kếtquả sơbộ. Độcgiả sẽ thấyrõ
quátrình khảocứu nhằm nhậndiện các từ tiếngViệt có gốcHán (Hán‑Nôm — Sinitic-Vietnamese), và từđó cóthể tựtin ápdụng lại quytrình này.
Những phươngpháp mới này đã tỏra hiệuquả trong việc truytìm từnguyên
Hán‑Việt và xâydựng các quyluật biếnâm tạmthời, theodõi các biếnđổi giữa
các dạng, hoặc xácđịnh “cáigì biếnthành cáigì”. Chẳnghạn, cáchtiếpcận
này chínhlà cơsở cho phântích chữ 道 dào nêutrên. Độcgiả sẽcó cơhội
ápdụng các kỹnăng này trong những bàiviết khác của cùng tácgiả,
đặcbiệt qua các bàitập. Họ cũng sẽ gặp một tậphợp chọnlọc các từnguyên
Hán‑Việt — một phầnnhỏ nhưng cóýnghĩa trong kếtquả tổngthể của
côngtrình.
Cần thậntrọng khi giảithích các từ vaymượn trong những vídụ được nêura.
Nói chung, nếu một từ tiếngViệt giống từ tiếngHán cả về âmthanh lẫn
ngữnghĩa, nhiều khảnăng đólà một từvaynượn trựctiếp. Nhậnra những trườnghợp
nhưvậy là điều thiếtyếu để phânbiệt từnguyên ditruyền với từvaymượn,
và để giữ độchínhxác trong suốt côngtrình. (6)
Dù sựtươngđồng ngônngữ giữa tiếngViệt và tiếngHán sẽđược bàn sâuhơn
trong các chương sau, cũng nên nêura ởđây rằng các tươngđồng về cấutrúc
và từvựng giữa hai ngônngữ này gầngũi hơnnhiều sovới tươngquan giữa
tiếngHán và phầnlớn các ngônngữ Hán‑Tạng khác. Thuậtngữ
Sinitic-Vietnamese (VS), hay HánNôm (漢喃), bao gồm cả tầng Hán
và tầng Nôm, đượcdùng đểchỉ các từ tiếngViệt có gốcHán hoặc các từ
đồnggốc giữa hai ngônngữ cùng bắtnguồn từ một tổtiên chung. Thídụ:
“sông” 江 (jiāng, ‘river’), “ngà” 牙 (yá, ‘tusk’), “dừa” 椰 (yé,
‘coconut’).
Trongsố các đặctrưng chung, vượtlên trên các tươngứng hìnhthái‑ngữâm và
nghĩangữ, hầunhư mọi đặctrưng ngônngữ có trong tiếngHán đềucó một
tươngứng trong Hán‑Việt. Những đặctrưng này thấmsâu đến mức thường bị
hiểunhầm là từViệt bảnđịa hoặc được xem là “thuầnViệt”. Mộtsố được xem
là biếnthể bán‑Hán‑Việt, đặcbiệt những từ được ghi bằng chữNôm có
thànhphần Hán.
Với các từnguyên Hán‑Việt được khảocứu ởđây và được xácđịnh là có
gốcHán, những kếtluận này dựatrên sựtươngứng toàndiện với các đặctrưng
ngônngữ Hán: cấutrúc âmtiết và hìnhtố, đặctrưng ngữâm và nghĩangữ,
tươngứng cúpháp và từvựng, hệthống thanhđiệu, môhình âmtiết CVC
(Consonant+Vowel+Consonant), và cấutrúc ngữpháp trong câu.
Một từ tiếngViệt cànggiống tiếngHán, khảnăng nó là từvaymượn càngcao.
Tuyvậy, côngtrình này cũng đặt câuhỏi liệu sựgiốngnhau có nhấtthiết
đồngnghĩa với vaymượn hay không. Chẳnghạn, tiếngViệt “tếu” (‘khôihài’)
cóthể được giảđịnh là vaymượn từ 笑 xiào (HV “tiếu”, HN ‘cười’), vốn
đồnggốc với HN “cười”. Nhưng “tếu” cũng cóthể đồnggốc với 逗 dòu /tow⁴/
(‘trêu’), HV “đậu” /ɗɐw⁶/, trongđó âm hữuthanh /ɗ‑/ phảnánh một
pháttriển cổhơn, còn âm vôthanh /t‑/ là pháttriển muộnmàng. Từ này cóthể
đã được táidunhập vào tiếngViệt Trungđại qua tiếng Quanthoại khẩungữ,
cólẽ trong thời TriềuMinh. Độcgiả cóthể sosánh cáchdùng hiệnđại của 逗
trong tiếngHán với cách nó xuấthiện trong vănhọc cổ như Hồnglâumộng
(紅樓夢 Hónglóumèng).
Với những kếtquả được trìnhbày trong chương Hán‑Tạng, bao gồm các
tươngđồng ditruyền thểhiện qua những đặctrưng ngônngữ chung và các
từnguyên đồnggốc, việc xemxét tiếngViệt như một thànhviên của họ
Hán‑Tạng trởnên ngàycàng khảtín. Việc táiphânloại này cóthể được
thựchiện qua các phươngpháp được nêura trong côngtrình, vốn mởrộng và
đổimới phạmvi khảocứu. Chúng cóthể được áp dụng songhành với các côngcụ
của ngônngữhọc lịchsử tiếngHán, mởra những gócnhìn mới về từnguyên
tiếngViệt trong các lĩnhvực như nhânchủnghọc, khảocổ và lịchsử, đặcbiệt
liênquan đến nguồngốc và cấutrúc sinhhọc của ngườiViệt và quốcgia của
họ. Tiềnđề nềntảng là: các cộngđồng có chung tổtiên thường nói những
ngônngữ biếnthể của cùng một gốc.
Trong suốt bàinghiêncứu, mỗi từnguyên đều được kèmtheo chữHán và
phiênâm pinyin (拼音) để tiện nhậndiện âmthanh. Trong nhiều trườnghợp,
chỉ cần pinyin là đủ và ít gây rốimắt hơn chữHán, nhấtlà khi chữ đó
thuộc loại “giảtá” (假借) hay “loangraph”, buộc ngườiđọc phải
giảimã các tínhiệu ngữâm ẩn trong cấutrúc chữ. “Loangraph” là chữHán
được mượn thuầntuý vì giátrị ngữâm, rồi được dùng để ghi một nghĩa khác.
Chẳnghạn, tiếngViệt “lại” 來 (lái, ‘đến’) cóthể từng liênquan đến “lúa”
(‘lúa’, ’kê’, ’ngũcốc’). Nếu các loangraph chỉ được ghi bằng Pinyin, chúng
cóthể trông giốngnhư các cặp đồngâm của tiếngAnh, thídụ, ‘yard’,
‘glass’, ‘page’, ‘lie’.
Pinyin — hệthống phiênâm chínhthức của Trungquốc dùng để kýâm
Quanthoại (普通話 Pŭtōnghuà, ‘quốcngữ’) — đãđược sửdụng rộngrãi trên
thếgiới, kể cả tại Đàiloan, nơi nó bắtđầu được tíchhợp gần bamươi năm
trước.
Để kýâm chínhxác, côngtrình này chủyếu dùng Bảng Kýhiệu Ngữâm Quốc tế
(IPA). Các kýhiệu IPA được dùng để ghi các cáchphátâm phươngngữ và
cổđại, cũngnhư các giátrị ngữâm chínhxác, đặt trong ngoặcvuông [“xxx”],
đốilập với các giátrị âmvị gầnđúng đặt trong ngoặcxiên “/xxx/”.
Sựphânbiệt này giúp làmrõ những tinhvi ngữâm trong các từnguyên được
tríchdẫn.
Thídụ:
- “dung” [juŋʷ1], [jowŋʷ1], [zʊŋʷ1] /zowng1/ (khôngphải [duŋ1])
- “thìn” [t’ɨjn2], /tʰɤjn2/, /tʰɨn2/, /tʰejn2/ (khôngphải [thin2])
- “thu” [t’ʊ1], /thow1/, /tʰʊ1/ (không chínhxác là [thu:1] /thu:1/)
Những phânbiệt này đặcbiệt quantrọng trong các trườnghợp có
nguyênâmđôi, nơi phântích sosánh phụthuộc vào việcnắmbắt các biếnthể
âmvị tinhvi. Chẳnghạn:
-
“tin” [tin1], /tin1/, /tɪn1/ (khôngphải [tɤjn1] /tein1/)
(7)
Để tinhgiản cách trìnhbày kiểuchữ, các kýhiệu ngữâm cóthể được thểhiện
dưới dạng rútgọn như [-ow-] và [-ejn], hoặc dưới dạng /-ou-/ và /-ein/,
trong những trườnghợp giátrị âmthanh đã rõràng và không gây nhầmlẫn theo
ngữcảnh. Quyước này sẽđược ápdụng nhấtquán trong các môitrường ngữâm
khác, kèmtheo ghichú và vídụ bổsung xuyênsuốt vănbản nhằm đảm bảo tính
minh bạch và liêntục.
Trong nhiều trườnghợp, kýâm IPA phảnánh chínhxác hơn các giátrị ngữâm
tiếngViệt — đặcbiệt khi sosánh với các đốiứng chữHán — sovới pinyin
thôngthường. Chẳnghạn:
- Pinyin d tươngứng với [t]
- Pinyin t tươngứng với [tʰ] hoặc /th/
- Pinyin r tươngứng với /j/
-
Pinyin gu và ku được phátâm là [ku] và [kʰu], chứ
khôngphải [gu] và [ku]
Cách kýâm này tươngtự phươngpháp của Pulleyblank (1984) trong
phụcnguyên tiếngHáncổ (Old Chinese, OC), nơi ông khảosát các giátrị
ngữâm được ghichép mơhồ trong thưtịch và văncổ.
Để tránh rốirắm về kiểuchữ và nhầmlẫn với các dấuphụ IPA, các số
thanhđiệu (từ 1 đến 9) sẽ được ghépvào mỗi dạng ngữâm. Những con ố này
biểuthị các thanhloại trong nhiều phươngngữ Hán khácnhau — như Quảngchâu (Cantonese),
Phúckiến (Hokkien, Fuzhou, Amoy), Triềuchâu (Teochew), Hảinam — cũngnhư
trong các ngônngữ khuvực khác như Dai (Tày), Thái và tiếngViệt. Hệthống
này đảmbảo độ chínhxác ngữâm và khảnăng sosánh ngônngữ bàcon.
Các kýhiệu số thanhđiệu vốnđược dùng phổbiến trong phiênâm tiếng
Quảngđông, Phúckiến và nhiều phươngngữ Hán khác để biểuthị đườngnét
caođộ và thanhloại. Đốivới tiếngViệt, thanhđiệu được ghitheo hệthống tám thanhđiệu
truyềnthống — chínhxác hơn là sáu hoặc bốn thanhloại, mỗi loại chia thành thanhnặng và thanhnổi. Cấutrúc này dựatrên các
nguồn cổđiển như Quảngvận (Guǎngyùn 廣韻), Chinese của Jerry
Norman (1988, tr. 55), và các côngtrình nềntảng của Việtngữhọc, đặcbiệt
là giáotrình Nguồngốc và Quátrình Hìnhthành Cáchđọc Âm Hán‑Việt
của Nguyễn Tài Cẩn (1979, 2001).
Các loại thanhđệu được phânra như sau:
| 1 | , | 3 | ʔ | 5 | ´ | 7 | ´ -p, -t, -c, -ch |
| 2 | ` | 4 | ~ | 6 | . | 8 | . -p, -t, -c, -ch |
Việc dùng sốthanh sẽ được hạnchế và chỉ ápdụng khi cầnthiết để tránh
hiểulầm giữa các phươngngữ Hán. Giátrị thanhđiệu ứngvới cùng một consố
cóthể khácnhau đángkể giữa các phươngngữ. Chẳnghạn, bốn thanh Quanthoại
(1, 2, 3, 4) khác rõrệt sovới bốn thanh Quảngđông (1, 2, 3, 4) như được
ghinhận trong Wang Li et al. (1953), và lạicàng khácxa hệthống thanh
tiếngViệt.
Để duytrì sựrõràng trong kýâm tiếngViệt, các dấuthanh hiệnđại sẽlà
hệthống chính, dùng songsong với IPA, chẳnghạn [à], [ả], [ã], [á],
vânvân, trừphi việc này sẽ gây nhầmlẫn với giátrị IPA (như /ã/ tỵhóa).
Để diễngiải thanhđiệu chínhxác, độcgiả cóthể thamkhảo dấuthanh Quốcngữ
đốivới tiếngViệt hoặc dấu thanh pinyin đốivới Quanthoại (ā, á, ǎ, à, a),
vốn biểuthị các đườngnét thanh khácnhau dù hìnhthức có phần
tươngtự.
Trong một số trườnghợp, dấuthanh sẽ được cốý lượcbỏ. Điều này phảnánh
quanđiểm của tácgiả rằng thanhđiệu trong nhiều dạng Hán‑Việt và Hán-Nôm,
cũngnhư trong các phươngngữ Hán, đã trảiqua những biếnđổi lịchsử
sâurộng. Những biếnthiên này — thường man tính chukỳ và khó dựđoán —
khôngcó quyluật phụcnguyên ổnđịnh. Đôikhi, thanhđiệu thậmchí cóthể
quaytrởlại đườngnét nguyênthủy như khi từvựng được tiếpthu vào
tiếngViệt. Tínhlinhđộng của thanhđiệu được ghinhận rộngrãi trong
ngữâmhọc lịchsử tiếngHán, cùngvới các biếnđổi hệthống khác như thayđổi
phụâmđầu và phụâmcuối (xem Chao Yuen‑Ren,
Tone and Intonation in Chinese, 1933, tr. 119–134).
Về mặt âmvị, các phụâmđầu và âmđệm bánnguyênâm, tiếngViệt thểhiện nhiều
giátrị cấuâm khôngphải lúcnào cũngđược phảnánh rõ trong chữviết.
Chẳnghạn:
- b‑ → [ɓ]
- d‑ → [ɗ]
- ch‑ → [ʨ]
- kh‑ → [kʰ]
- ph‑ → [pf]
- r‑ → [ʐ]
- th‑ → [tʰ]
- tr‑ → [ʈ]
-
nh‑ → [ɲ] (đôikhi được ghithành /ɲ‑/, /nj‑/, /-jn/, hoặc /nh‑/ tuỳtheo
ngữcảnh trìnhbày.)
Tươngtự, các cụm nguyênâm như /‑uy/, /-ia/ và /‑iê /được kýâm IPA
chínhxác hơn dưới dạng [-wej-] [-iə], và [-je], thay vì [-wi] , [-ia], và [-ie], phảnánh giátrị ngữâm thựctế thayvì
dạng chữviết. Chínhtả tiếngViệt thường chekhuất những khácbiệt này,
đặcbiệt trong môitrường phụâmcuối. (7)
Để đảmbảo tính rõràng và nhấtquán, các phụâmcuối sẽ được kýâm theo IPA
như sau:
- ‑p → [p]
- ‑t → [t]
- ‑ch → [jt]
- ‑c → [k]
- ‑nh → [jŋ]
Trong các trườnghợp có hiệntượng môivòmhóa (labiovelar) — đặcbiệt khi
đứngsau nguyênâm trònmôi (o‑, ɔ‑) hoặc âmđệm /‑w‑/ — các dạng kýâm sau
sẽ đượcdùng:
- [‑kʷ] → ‑kw, ‑wk, hoặc ‑kʷ
- [‑ŋʷ] → ‑wŋ, ‑ŋw, hoặc ‑ŋʷ
Âm mũingạc sau /ng/ sẽ được kýâm là [ŋ] hoặc [ng] tuỳtheo môitrường
ngữâm và yêucầu trìnhbày. Những quyước này sẽ được ápdụng nhấtquán
xuyênsuốt vănbản nhằm duytrì độchínhxác ngữâm và sự mạchlạc
biêntập.
Các chương tiếptheo sẽ triểnkhai chi tiết các yếutố nêutrên và mởrộng
từng vídụ qua hìnhthức đaâmtiết giữa chữHán, pinyin và tiếngViệt.
Baogồm:
- các đốiứng chitiết với vần và loại thanhđiệu Hán-Trungcổ
- các lớp vaymượn theo trìnhtự thờigian
- các chỉdấu chẩnđoán của tầngnền Việt‑Yue
-
một bảngtừ đaâmtiết toàndiện, sắpxếp theo chữHán, dạng pinyin và đốiứng
tiếngViệt,
Mụctiêu tổngthể là xâydựng một bản tổnghợp sẵnsàng xuấnbản — nghiêmtúc
về phươngpháp, chínhxác về thuậtngữ qua cách trìnhbày kiểuchữ, và minh
bạch hoàntoàn trong các luậnđiểm phântích.
Kếtluận
Các cuộc tranhluận lâudài về nguồngốc dânngữ Việtnam chothấy không một
khungphânloại đơnlẻ nào — dù NamÁ hay Hán‑Tạng — cóthể giảithích trọnvẹn
độphứctạp của tiếntrình hìnhthành dântộc này. Trườngphái NamÁ đúng khi
nhấnmạnh sựhiệndiện của cộngđồng Môn‑Khmer và lớp từvựng tầngnền, nhưng
lại đánhgiáthấp chiềusâu disản BáchViệt (Yue) và lớpphủ Hánngữ ápđảo
địnhhình từvựng hiệnđại. Ngược lại, gócnhìn Hán‑Tạng nhấnmạnh ưuthế của
các yếutố Hán‑Việt, nhưng có nguycơ làmmờ đónggóp bảnđịa của cộngđồng
Chăm‑Khmer và các nhóm Thái‑cổ.
Thayvàođó có sựhiệndiện một bứctranh tổnghợp: căngtính Việtnam là
sảnphẩm của nhiều lànsóng dịchchuyển, đồnghoá các tầnglớp vănhóa
chồnglên nhau. Khối đaiđasố Kinh phầnlớn xuấtthân từ các nhóm Việt‑Yue
Hánhoá dicư xuống vùng Châuthổ Sông Hồng và hoàtrộn với cưdân sởtại,
trongkhi các thếkỷ vềsau lại đónnhận thêm cộngđồng Chăm‑Khmer và người
Triềuchâu tịnạn khi triềuThanh lậtđổ nhàMinh vào thếkỷ 17 ở đạilục
Trungquốc. Tưliệu khảocổ xácnhận rằng những nhóm này đónggóp hiệnvật và
từvựng, nhưng bộkhung cấutrúc tiếngViệt vẫn giữ nền BáchViệt (Yue) và
tíchhợp Hánngữ.
Vềmặt vănhóa, Việtnam tiếpthu và táiđịnhghĩa nhiều truyềnthống từ các
lánggiềng — từ 12 congíáp địachi đến các lễnghi — đồngthời duytrì một
tinhthần dântộc riêngbiệt, được hunđúc qua nhiều thếkỷ khángcự các đợt
xâmnhập từ phươngBắc. Sựđốilập giữa căntính Trunghoa — được địnhnghĩa
như một căntính vănhóa hơn là chủngtộc — và căntính ViệtNam — được
địnhnghĩa bởi sứcbền, giữvững chủquyền và kýức tổtiên — làm nổibật hai
lộtrình khácbiệt kể từ khi Vươngquốc NamViệt sụpđỗ và Annam giành độclập
năm 939.
Vìthế, tiếngViệt và ngườiViệt cầnđược hiểunhư một cộngđồng mang căntính
kép: tầngnền Việtcổ (Yue) và lớpphủ Hánngữ, được làmgiàu thêm qua sự
tiếpxúc NamÁ và NamĐảo, được củngcố qua nhiều thếkỷ đấutranh chínhtrị.
Chính disản tầnglớp này giảithích cả những tươngđồng với tiếng Quảngđông
và các phươngngữ phươngnam, lẫn những khácbiệt đặcthù làm tiếngViệt
trởthành một thựcthể riêngbiệt. Rốtcùng, căntính dântộc Việtnam không
dựatrên sự “thuầnkhiết” của nguồngốc, mà dựatrên sựtổnghợp sángtạo của
nhiều truyềnthống, được duytrì bởi ýchí tậpthể nhằm bảotồn bảnsắc vănhóa
qua hàng thiênniênkỷ.
Sách Thamkhảo:
Alves, Mark J. 2001, 2007, 2009. (Works on Sino‑Vietnamese grammatical categories and loanwords.)
Alves, Mark J. 2001. “What’s So Chinese About Vietnamese?” SEALS 9.
Alves, Mark J. 2007. “Categories of Grammatical Sino‑Vietnamese
Vocabulary.” Mon‑Khmer Studies.
An Chi. 2016–2024. Rong chơi Miền Chữ nghĩa (A Journey in the Field of Vietnamese Etymology). Ho Chi Minh: NXB Tổng hợp, TP HCM.
An Chi. 2024. Từ nguyên (Vietnamese Etymology). Ho Chi Minh: NXB Tổng hợp, TP HCM.
Barker, Milton E. 1966. “Viet‑Muong Tone Correspondences”, in Norman Zide (ed.) Studies in Comparative Austroasiatic Linguistics . The Hague: Mouton.
Benedict, Paul. 1975. Austro‑Thai Language and Culture.
Bình Nguyên Lộc. 1987. Nguồn gốc Mã lai của Dân tộc Việt nam (The Malay origins of the Vietnamese). Los Alamitos, Calif: Xuân Thu. Originally published: Saigon: Bách Bộc, 1971.
Bá Dương (Bo Yang). 1983-1993. Modern Chinese edition of 司馬光 Sima Guang’s Zīzì Tōngjiàn (Comprehensive Mirror to Aid in Government) 資治通鍳 (72 volumes, vol. 1 to vol. 72). Taipei: Yuănlíu Chùbăn Gōngsī 遠流出版公司 (Yuan-Liou Publishing Co).
Brodrick, Alan Houghton. 1942.
Little China: The Annamese Lands.
Cao Xuân‑Hạo. 2001. Tiếng Việt Văn Việt Người Việt. Ho Chi Minh City: Nhà xuất bản Trẻ publisher.
Chao, Yuan‑Ren. 1933. “Tone and Intonation in Chinese.”
Bulletin de l’Institut de Historique et Philologique.
Delinger, B. Paul. 1979. “The Ch’ung Niu Problem and Vietnamese.”
Tsing‑hua Journal.
Đổng Tác‑Bân (Dong Zuobin). 1933. Luận Đàm (《譠》).
FitzGerald, C. P. 1972.
The Southern Expansion of the Chinese People.
Forrest, R. A. D. 1948. The Chinese Language.
Haudricourt, André G. 1954. “Comment reconstruire le chinois archaïque,” Word 10 (1954). pp. 351-364) [ Chinese translation by Ma, Xue-Jin 馬學進. “怎樣 擬測 上古 漢語” (in “中國 語言學 論集”, pp. 198-226) 1977 ], Taibei: You Shi Wenhua Shiye Gongshi (幼 獅 文化 事業 公司)
Haudricourt, André G. 1961. “The Limits and Connections of Austroasiatic in
the Northeast” , in Norman Zide (ed.) Studies in Comparative Austroasiatic Linguistics. The Hague: Mouton.
Hock, Hans Henrich. 1986.
Principles of Historical Linguistics.
Jeffers, Roberts J., et al. 1979. Principles and Methods for Historical Linguistics. London and Cambridge: The MIT Press.
Karlgren, Bernhard. 1915 (rev. 1966).
Étude sur la Phonologie Chinoise.
Karlgren, Bernhard. 1957. Grammata Serica Recensa.
Kelley, Liam C. 2012. “The Biography of the Hồng Bàng Clan…”
Journal of Vietnamese Studies.
Lacouperie, Terrien de. 1887 (reprint 1966).
The Languages of China Before the Chinese.
Li Fang‑Kuei. 1928. “Ancient Chinese -ung, -uk, -uong…”
Bulletin of the Institute of History and Philology
(BIHP).
Lu Shih‑P’eng (Lü Shih‑Peng). 1964.
Vietnam During the Period of Chinese Rule.
Lu Shih‑P’eng
(Lu Shih‑Peng). 1964. [Referenced in Yue migration context].
Maspero, Henri. 1916.
Études sur la Phonétique Historique de la Langue Annamite.
Mei, Tsu‑lin. 1970. “Tones and Prosody in Middle Chinese.”
Harvard Journal of Asiatic Studies.
Nguyễn Đình‑Hoà. 1966. Vietnamese‑English Dictionary.
Nguyễn Ngọc‑San. 1993. Tìm hiểu về Tiếng Việt Lịch sử. TP HCM: NXB Giáo dục.
Nguyễn Tài Cẩn. 1979.
Nguồn gốc và Quá trình Hình thành Cách đọc Âm Hán Việt.
Nguyễn Tài Cẩn. 2000. Giáo trình Ngữ âm Lịch sử Tiếng Việt.
Nguyễn Văn Khôn. 1960. Hán Việt Từ Điển.
Nguyễn Văn Khôn. 1967. English‑Vietnamese Dictionary.
Parkin, Robert. 1991.
A Guide to Austroasiatic Speakers and Their Languages.
Pulleyblank, Edwin G. 1962. “The Consonantal System of Old Chinese.”
Ruhlen, Merritt. 1994. On the Origin of Languages: Studies in Linguistic Taxonomy. California: Stanford University Press.
Shafer, Robert. Introduction to Sino-Tibetan (4 volumes). Wiesbaden: Otto Harrassowitz.
Tang Lan. 1965. 唐蘭. Zhongguo Wenzixue (中國 文字學). Hong Kong: 太平 書局 (Taiping Publisher).
CHÚTHÍCH
(1)^ Các lýthuyết phươngTây thường bỏqua những
sựthật lịchsử về ngônngữ và vănhóa BáchViệt (Yue), ưachuộng các môhình mới
thayvì dựatrên trithức sẵncó. Nhiều họcgiả phươngTây dodự khi tiếpcận
sâurộng các nguồn tưliệu cổ, đặcbiệt những nguồn đòihỏi khảnăng đọchiểu
tiếngHán, khiến họ thường tự xâydựng khung lýthuyết mới từ consốkhông thayvì
pháttriển dựatrên những nghiêncứu đã cótrước.
(2)^ “Bod” chỉ là một tên gọi khác của
“Bak”, như trong 百姓 Baixing, 百越 BáchViệt hay BaiYue, theo trìnhbày của
Lacouperie (sđd., xem The Underlying Stratum of Basic Vocabularies) rằng:
“Bak là một tộcdanh và không gì khác.
Ta cóthể dẫnchứng bằng những tên gọi tươngtự — dù được ghinhận bằng các
kýhiệu khác nhau — mà họ đã dùng để đặt cho nhiều kinhđô thời sơkỳ: PUK,
POK, PAK, tấtcả đều được truyền lại đến nay, và sựtươngđồng giữa Pak, Bak là
điều khôngthể phủnhận. Ở vùngđất nơi họ xuấtphát, Bak là một tộcdanh
quenthuộc, thídụ Bakh trong
Bakhdhi (Bactra), Bagistan, Bagdada, v.v., và được giảithích với
ýnghĩalà “maymắn, thịnhvượng”.”
Điềunày bổsung cho những gì cùng
tácgiả đã bàn trong The Languages Of China Before the Chines về tiền‑Hán và Hán, theo Lacouperie (sđd., tr. 116–119), liênquan đến
tổtông Bak của ngườiHán sơkỳ đốinghịch với nhóm tiền‑Hán (pre‑Chinese)..
(3)^ Mộtvài điểm thenchốt trước khi tiếptục: Đốivới độcgiả phổthông, dướiđây là mộtsố hướngdẫn chung trướckhi
đi sâuhơn vào côngtrình này.
-
Đầutư thờigian: Khảocứu này được biênsoạn hướngđến ấnbản in và không thíchhợp cho
việc đọclướt qua mạng. Hãy sẵnsàng dành nhiều thờigian để thựcsự tiếpcận và
nghiềnngẫm nộidung của nó. -
Khung kháiniệm: Nếu bài dẫnnhập banđầu cóvẻ nặngnề hoặc khóhiểu, đừng bỏcuộc. Nếu
bạn thậtsự muốn tìmhiểu, cóthể bắtđầu bằng một gócnhìn đơngiản hơn:
xem NamÁ như một nhánh ngônngữ pháttriển từ các ngônngữ BáchViệtcổ
(pre‑Yue) thuộc ngữhệ Taic, rồi từđó xâydựng hiểubiết của mình.
Hoặc, bạn cóthể khởiđầu bằng giảđịnh rằng “Yue” — táchbiệt khỏi
cả Hán và NamÁ — chínhlà tầngnền của toànbộ thảoluận này.
Cáchtiếpcận ấy giúp lýgiải vìsao các phânloại NamÁ thường mang tính
hồiquy, lầnngược một lộtrình quanhco từ Nam lên Bắc. -
Điều hướng tưliệu NamÁ: Đừng để lượng thôngtin NamÁ trên mạng làm bạn choángngợp. Phần lớn
chỉ lặplại những diễngiải giốngnhau dựatrên cùng một nhóm tưliệu.
Các họcgiả trong vànhđai Hán‑Tạng (đặcbiệt những người nghiêncứu
Yue) đều hiểurõ giớihạn của các phântích ấy. Tácgiả giảđịnh rằng nếu
bạn đã đọc đếnđây, bạn cólẽ tựmình có một gócnhìn về Hán‑Tạng; nếu không, cólẽ bạn đã không đủ
kiênnhẫn để theođuổi những thảoluận này — chứchưanói đến hàngvạn
trang vănbản phíatrước. Để giữ sựrànhmạch, hãy tránh phảnứng tứcthời
trước các lậpluận NamÁ, vì chúng thường dẫn đến lanman hơn là
tiếnbộ. Một vài gợimở ngônngữ dành cho từng nhóm độcgiả -
Một vài gợimở ngônngữ dành cho từng nhóm độcgiả — Đốivới
người chọn ngoạingữ là tiếngViệt: Giống như cảmgiác thúvị khi nếm “phở” lầnđầu, ngườihọctiếng cóthể
ngạcnhiên khi biếtrằng “phở” đồnggốc với 粉 fěn (HV “phấn”, nghĩa là
‘bột’). Từnguyên này đã phânnhánh thành nhiều từ tiếngViệt, thídụ,
“phấn”, “bún”, “bột”, “bụi”... tấtcả đều cùng một gốc
nghĩangữ. (Xem Han‑Viet.com)Mộtvài vídụ khác:
- 雞 jī (HV “kê” ~ HN “gà”)
- 蛋 dàn (HV “đản” ~ HN “trứng”)
- 蒜 suàn (HV “toán” ~ HN “tỏi”, ‘garlic’)
- 打 dǎ (HV “đả” ~ HN “đánh”, ‘strike’)
-
公 gōng (HV “công” ~ HN “ông”, ‘mister’) ~ 翁 wēng (VS “ông”,
‘old man’, đồnggốc với “lông”)
Tuyvậy, đốivới độcgiả phổthông, việc thấuhiểu những liênhệ từnguyên
nhưvậy đòihỏi thờigian và nỗlực. Các phần giảithích cóthể cólợiích,
nhưng mộtsố giảđịnh nên được chấpnhận như tiềnđề cơbản mà không cần
soixét quámức — chẳnghạn như sựtươngứng giữa “đả” (打 dǎ) và
“đánh”.Những chitiết ngữâm sâuxahơn — thídụ
mốiliênhệ giữa 打 dǎ và 丁 dīng (HV “đinh”, ‘chàngtraitrẻ’) — chỉ
làm vấnđề thêm phứctạp. 丁 dīng còn sinhra các từ như 釘 dīng (HV
“đinh”) và 打包 dǎbāo tươngứng với tiếngViệt “đóngbao”. Độcgiả
dĩnhiên cóthể đặt câuhỏi liệu “trai” (‘young man’) có bắtnguồn từ 丁
dīng hay không, nhưng những thảoluận nhưvậy vượtra ngoài phạmvị
trướcmắt của côngtrình này.
(4)^ Diễngiải NamÁ về cáchdùng Hán‑Việt: Mặcdù chưa được chứngminh, gócnhìn này vẫn đángchúý vì nó cungcấp cho các
họcgiả NamÁ một lýdo giảithích việc từ Hán‑Việt được sửdụng rộngrãi trong
lờinói hằngngày của ngườiViệt. Lậpluận của họ chorằng những từ này đivào
sửdụng phổthông thôngqua quátrình tiếnhoá ngônngữ, chứkhôngphải vốn dĩ là
những biểuđạt bảnđịa thuộcvề những ngườinói cùng một ngônngữ.
(5)^ Từ HánViệt đavận gợiý ngữâm dànhcho các nhàHánngữhọc: Các họcgiả Hánngữhọc cóthể tìmthấy điều giátrị khi khảosát những saibiệt
tinhtế trong cấuâm tiếngViệt, vì chúng cóthể gợimở lời giảithích cho những
phứctạp như từ ‘songvận’ 重紐 (‘chóngnǐu’) và các môhình phânchia đẳngthức âmvị (I, II 等) — phânbiệt đẳng thứnhất
và thứhai) trong ngữâm lịchsử Hán-Trungcổ.
(6)^
Đạitừ “họ” dùng ở sốít: Về cáchdùng đạitừ, một trong những ứngdụng ngoạilai đã trởthành của riêngmình, một tácgiả
ghinhận rằng họ ở sốít ngàycàng được côngnhận như một lựachọn
thựctiễn thaythế cho nhiều đạitừ chỉ sốtít hay sốnhiều, có tínhphái hay trungtính, thídụ, “nó”, “ổng”, “bả”, “ngườita”, “chúngnó”, “bọnhọ”…trong nhiều
ngữcảnh khácnhau. Ta phải ghinhậnrằng đâylà một thănghoa trong sựpháttriển ngônngữ. Tácgiả hyvọng là mộtngày nào đó tiếngViệt sẽ lại tiếpnhận hoặc sángtạo th6m một đạitừ ngôinhất và ngôihai nữa tươngtự như “je”, “moi”, “Vous”, “toi”, “I”, “you”, “s/he” của tiếng Anh hay Pháp để thănghoa phát thêm những ýniệm mới trong tiếngViệt ngoài tiếng “mày”, “tao”… đãcó rồi.
Về từ dùng ở sốtít nầy cáchdùng này rất giống cách dùng they trong tiếngAnh. The Washington Post đã chínhthức đưa cáchdùng này
vào sổtay biênsoạn của họ vào tháng 12 năm 2015, và U.S. Examiner cũng
làmtheo vào ngày 22 tháng 9 năm 2016. Thêmvàođó, they được Hiệphội
Phươngngữ Hoakỳ (American Dialect Society) bìnhchọn là “Từ của Năm” vào
năm 2015.
(7)^ Để thamkhảo cách phátâm gầnđúng trong tiếngViệt hiệnđại, xin xem
Vietnamese‑English Dictionary của Nguyễn Đình‑Hoà (1966) hoặc
Nguyễn Văn Khôn (1967).

Leave a Reply