Truce in Forest

by Fritz Vincken

Giảithưởng dịchthuật hạngnhất
do Bộ Giáodục traotặng vào năm 1975
trướckhi VNCH mấtnước

Sliced bread and sausages on plates with a lit candle on a wooden table by a frosty window
Hình minhhoạ một khônggian trongnhà ấmcúng, với ổbánhmì xắtlát và xúcxích trong dĩa đặt trên bàngỗ cạnh ôcửa đóngtuyết, sẵnsàng dọnra ăn. (creAited by dchph with Jetpack)

Bài dịchthuật này vềsau đãcó nhiều dịchgiả hiệuđính chỉnhsửa, đăngtải, pháttán trênmạng, và inlại trongnước, dưới nhiều dạngthức khácnhau.
Cuộchưuchiến Trongrừng
Fritz Vincken
Phan Chánh Đông dịch: Truce in Forest

Đêm Noel năm đó, năm mà những trậnchiến bớtvật, tuyếtvọng, cuốicùng của quânđội Đức QuốcXã – đệnhi ThếChiến… gầmthét phẫnnộ quanh cănnhà chúngtôi. Bấtngờ có tiếng gõcửa…

Lễ GiángSinh năm 1944, khi chúngtôi nghe tiếng gõcửa, cả tôi và mẹ tôi không một chút kỷniệm gì về nỗi lạlùng thẳm hoặc trong lòng mỗingười. Năm đó tôi mườihai tuổi, và chúngtôi đang sống trong một cănnhà nhỏ ở khu rừng Hurtgen gần biêngiới Đức Bỉ. Ba tôi trước ở tại cănnhà này dùng làm nơi trúngụ trong những lần sănbắn vào dịp cuốituần trước thờichiếntranh, đến khi những cuộc oanhtạc của ĐồngMinh tanphá một phần thành Aachen chúngtôi ở, ông đem chúngtôi về đây. Ông được lệnh gianhập lựclượng phòngthủ đansự tại thịtrấn Monschau vùng biêngiới. Ông nói với tôi:
— Sống trong rừng con sẽ được antoàn hơn. Bâygiờ chỉ còn con là ngườiant oàn trong giadình. Hãy giữ đó mẹ…

Nhưng vào khoảng thờigian chính ngày trước lễ GiángSinh, ThốngChế von Rundstedt đã khởisự những cuộc chốngtrả với tuyếtvọng của quân Đức, và tiếng gầmthét của pháo bên ngoài cửa giaochiến của Đức đã vangđộng khắp quanh chúngtôi. Đêm ấy nghe tiếng gõ mà không ngừng của khẩu pháo đã chiến; về đêm, những viên quansát chọc xuyên qua màn đêm dầydặc. Hàng ngườilính Đức và ĐồngMinh đang làmtrận và đang được ngảxuống gần đó.

Khi tiếng gõcửa đầutiên vang lên, mẹ tôi nhanhnhẹn thổi tắt mấy ngọn nến; tôi bước ra cửa, mẹ tôi lăn lên và bắt một cánhcửa. Bên ngoài, hai ngườilính đang đứng đó, một người bị thươngnặng và một người đang đỡ bạn mình. Họ là lính Mỹ trước khi tôi biết được điều ấy. Mẹ tôi đứng bấtđộng, imlặng, cánh tay runrẩy. Họ vộivã vào nhà, và một người ngã xuống vì mấtmáu. Ngườibịthương có vẻ chết hơn là sống. Cuốicùng mẹ tôi bảo:
— Bước vào đi. Nó là của Chúa.

Hai ngườilính Mỹ khiêng đồngđội vào và đặt gã nằm dưới giường tôi. 
Không ngườinào hiểu tiếng Đức. Mẹ tôi…

Hai ngườilính Mỹ khiêng đồngđội vào và đặt gã nằm dưới giườnglò. Không ngườinào hiểu tiếng Đức. Mẹ tôi thử dùng tiếngPháp, và một người cóthể đốiđáp bằng ngônngữ này. Khi má tôi đến săn sóc ngườilính bịthương, bà nói với tôi:

-- May ngôn tay ngườinày conglại hết.
Chúngtôi đượcb iết ngườilính hơimập là Jim; bạn gã, caodongdỏng, là Robin. Ngườibịthương là Harry, nằm mêman trên giườngtôi, gươngmặt gã trắngbệt như tuyết. Họ đã lạc tiểuđoàn của họ và đã langthang trong rừng ba ngày nay để trốn tránh lính Đức và dò tìm quânđội Mỹ. Họ để râu, tuy nhiên, khi họ cởi áo choàng lâungày ra, trông họ chỉ là những thanhn iên mớilớn. Mẹ tôi xử sự với họ cũng như với một ngườilớntuổi củabà. Bà bảotôi:
— Đi bắt con Hermann. Và lấy sáu củ khoaitây.

Vậy là những dự tính của đêm Noel đượcsửa soạn. Hermann là con gà bẹotrục (được cái tên nhânvật số hai của Hitler, Hermann Goring, ngườimà bà chẳng ưa chút nào), chúngtôi đã nuôi nó mập từ mùa hè năm nay đành cho Ba tôi vớihyvọng ông về và lễ GiángSinh. Nhưng mấy gày trước đây khi chấc chắn là Ba tôi không thể trở về, mẹ tôi quyết định cho Hermann sống thêm vài ngày nữa, dự là Ba tôi sẽ trở về vào dịp Tết. Bâygiờ bà lại đổi ý một lần nữa: Hermann được chiếu cố một cách đặc biệt.

Trong khi tôi và Jim làmbếp, Robin săn sóc Harry. Anh tạ ơn mẹ tôi vì sự sănbắt và bếp đủ, và anh đang hấphối gà sốt với bắp đậu. Mẹ tôi đặt ngườibịthương trên giường để làmbăng vết thương.

Lát sau, mùi gà quay hấpdẫn bay khắp phòng. Toi đang ngồi ở đàng bàn khi một tiếng gõ cửa nữa vang lên. Tưởng là sẽ lại gặp thêm lính Mỹ lạc đoàn, tôi ra mở cửa chẳng chút do dự. Bốn ngườilính đứng đó, một người đã phong hoàn toàn quân phục với tôi sau năm màn chiếntranh. Họ là Wehrmacht – Lính Đức!

Ngườitôi lẽ cũng đã sợ hãi. Mẹ tôi còn làm một đứa lẻ, nhưng bà biết là luật nghiêm khắc của chiến chưa chắc đã nghiêm hơn sự phản nghịch. Chúng tôi đứng im một lúc, rồi bà cũng sợ hãi không kém. Mặt bà trắng bệt, nhưng bà vẫn bước ra ngoài và mở cánh bình thản:
— Fröhliche Weihnachten. (Chúc các ông một lễ GiángSinh vuivẻ.)

Mấy ngườilính cũng chúc lại bà một lễ GiángSinh tôilành. Một viên sĩ giải thích:
— Chúng tôi bị lạc trung đoàn và muốn được sănbắn đêm nay. Chúng tôi có thể nghỉ đêm lại đây không thưa bà?

Mẹ tôi cố gắng trả lời với một sự bình tĩnh nhưng giấu được nỗi bàng hoàng:
— Dĩ nhiên. Mấy ông cũng có thêm một bữa thịt ngon lành ở bếp.

Mấy ngườilính Đức mỉm cười khi họ nhấychân vào nhà với một thơm lừng bay qua khung cửa. Mẹ tôi thốt lên một lời ngắn:
— Nhưng, chúng tôi còn có ba vị khách khác, là những lính Mỹ đang ở trong nhà này. Tôi mong rằng bâygiờ bà nên nghiêm trang hơn lúc nào hết, đêm nay là đêm Chúa Giángsinh...
Đêm Chúa GiángSinh, và ở đây sẽ không có chuyện súng nổ.

Viên hạ‑sĩ hỏi:
— Ai ở trong nhà vậy? Amerikaner?

Mẹ tôi đưa mắt nhìn từng khuôn mặt lạnh tái. Bà chậm rãi nói:
— Mấy cậu nghe đây. Tuổi mấy cậu bằng con của tôi là cùng, kể cả mấy người trong đó cũng vậy. Có một cậu bị thương vì đạn và đang vật‑lộn với thần‑chết. Còn hai người bạn của cậu ta – cũng lạc đường tới khát và mệt‑nhọc như mấy cậu. Bà quay sang người hạ‑sĩ và nói lên giọng, đây là đêm Chúa GiángSinh, chúng ta hãy tạm quên đi chém‑giết.

Người hạ‑sĩ ngó bà. Hai bà phút trôi qua mà tưởng chừng dài như bất‑tận. Đoạn mẹ tôi khẳng‑quyết:
— Thôi, nói vậy đủ rồi! Bà thốt lên, hai bàn‑tay bà chắp vào nhau vuivẻ xem như không có chuyện gì: mời mấy cậu để súng trên đống củi kia – Lên, người khác ăn hết bữa cơm tối bây giờ!

Một cách máy‑móc, bốn ngườilính đặt vũ‑khí của họ trên đống củi ngay bên trong khung‑cửa: ba khẩu carbine, một cây súng máy loại nhẹ và hai cây bazooka. Liền lúc đó, mẹ tôi nói một tràng tiếng Pháp với Jim, bảo anh lấy mấy điều gì đó bằng tiếng Anh và nhặt lại một điều kỳ‑thú lạ‑lùng đối với tôi lúc bấy giờ. Mẹ tôi cũng trao tất‑cả vũ‑khí của họ cho mẹ tôi.

Và bây giờ, mẹ tôi mau‑mắn khi mấy ngườilính Đức và lính Mỹ chen‑chúc nhau trong một căn‑phòng nhỏ. Nụ‑cười trên môi bà không bao‑giờ tắt, bà cố thu‑xếp chỗ‑ngồi cho mọi người. Nhà chúng tôi chỉ vỏn‑vẹn ba chiếc‑ghế, nhưng chiếc‑giường của mẹ tôi không nhỏ, và những người vào được bà xếp cho họ ngồi xen‑kẽ nhau với Jim và Robin trên giường.

Để tránh bầu không‑khí căng‑thẳng, mẹ tôi bắt‑tay vào việc dọn bữa‑tối cho mọi người. Hermann chẳng lớn gì bao‑nhiêu mà giờ đây trông béo‑mịn như đứa‑trẻ con.

Chạy đi lấy thêm khoai và đậu lèn. Mấy cậu thanhn iên này đói rồi, và mẹ tôi nói như thế bằng một giọng vuivẻ.

Trong khi tôi sục‑sạo thức‑ăn trong kho, tôi nghe tiếng Harry rên‑rỉ, khi quay trở lại tôi thấy một ngườilính Đức mang kính vào để khám‑nghiệm vết‑thương của ngườilính Mỹ. Mẹ tôi hỏi gã:
— Cậu có chân bên quân‑y không?
— Không, nhưng tôi có học ngành y‑khoa ở Heidelberg một vài tháng trước đây. Nói bằng giọng ngập‑ngừng, ngườilính Đức nói tiếng Mỹ bằng tiếng Anh khá lưuloát, vẻ ngượng của Harry không bị làm đỏ. Và gã giảithích với mẹ tôi, anh ta cần nghỉ‑ngơi nhiều. Anh ta cần sụp ngồi ngơi và bớt đau‑đớn.

Sự thoải‑mái đang bắt‑đầu thay‑thế thái ngờ‑vực của mọi người. Ngày đó, với tôi, mọi người trông rất trẻ và rất tươicười, trừ người đang chờ‑chết. Heinz và Will thì nói về một chuyến dulịch ở Cologne, trong đó Người là sĩ Đức, haimươi‑ba tuổi, và Will haimươi‑mốt. Anh ta trong bữa‑ăn rót thêm rượu‑chát, và Heinz sang‑sục bày ra mấy món ăn.
...khúc bánhmì. Má tôi cắt ra từng khoanh nhỏ để dùng bữatối; tuy nhiên còn một nửa phần rượu, bà cất đi – cho các lính bịthương. Má tôi nói một cách xúcdộng:
— Kemm, Herr Jesus. Cầuxin Chúa hãy đến với chúngtôi.

Khi bà nói những tiếng quenthuộc đó, tôi nhận thấy có những giọt lệ longlanh trong cặpmắt của bà… Và khi tôi đưa mắt nhìn quanh bànăn, tôi lại còn bắt gặp những đôimắt ướtđẫm nướcmắt của những ngườilính trận, vài ngườitù Mỹ, vài ngườitù Đức đến, tấtcả đều xanhà.

Trước lễ nửađêm, Má tôi tựa cửa ngóng nhìn về ngôisao Bethlehem, và bà cũng yêucầu chúngtôi làm thế. Tấtcả chúngtôi đều đứng bên cạnh bà ngoại trừ Harry, kẻ đang vùidầu trong giấc ngủ mêmàn. Trong suốt khoảng thờigian imlặng giữa chúngtôi khi cùng ngóng nhìn về một ngôisao sáng nhất in đậm trên nền trời, chiếntranh đã trở nên xaxôi, hoàntoàn chìm vào nỗi lãngquên.

Cuộchưuchiến riêng những cánhân của chúngtôi kéo dài qua sáng hômsau. Harry tỉnh dậy từtừ mở sáng, và ăn chút sụpthịtbò mà tôi đút từng miếng. Anhta trở nên tỉnhtáo và khoẻhơn vào lúc bìnhminh. Má tôi làm thêm một thức uống pha từ phần rượu còn lại với bộtgạo và đườngnâu.

Mọi người cùng dùng một chút bánhanhthánh. Saudó, chúngtôi làm lễ chiatay và dùng chiếc khăn bàn tốt nhất của má để làm thành chiếc cờ trắng.

Thật đến ngạcn gỡ! Sư Đức chỉ dẫn mấy ngườilính Mỹ đườngxá để họ có thể tìm về đơnvị của họ. Đó tìm trên bản đồ của Jim, viên hạsĩ chỉ một giọng súc và nói:
— Cứ đi dọc theo khúc sông này, các anh thấy dọc quán quân thật đang đóng quân phía trên nguồn của giòng sông này.

Trong khi đó gã sinhviên ykhoa dịch lại chitiết bằng tiếng Anh. Jim hỏi chẳng ra:
— Tạisao chúngtôi lại không tiến về tỉnh Monschau?
Viên hạsĩ lớntiếng:
— Ne in! (Không được!) Quânđội chúngtôi đã táichiếm Monschau.

Bâygiờ thì mẹ tôi trả lại vũkhí cho họ và bànói:
— Mấy cậu nên cẩnthận. Tôi mong một ngày nào đây các cậu sẽ được nơi quê nhà như tôi mong được gặplại contrai tôi.

Những ngườilính Mỹ và lính Đức bắttay chàonhau, và chúngtôi nhìn theo họ biến mất về hai hướng đốinghịch.

Khi chúngtôi quay trở vào nhà, tôi mang ra một quyển kinhthánh cổ kỳgià của giadình. Tôi lật đến đoạn nói về “Một quyển kinhthánh được lật ra trang viết về sự rảđời của Chúa GiángSinh.” Trong đó có đoạn nói về các SứThần mang tin vui đến cho nhânloại. Ngọn lửa của má tôi vẫn còn bừng sáng đến cuốicùng của đêm Matthew ấy, và tôi biết rằng chiếntranh đã trở về xứ của bà bằng một ngã khác…

Fritz Vincken
(Giải “First Person” của tạpchí Reader’s Digest)

Nguồn : Đặcsan Xuân Petrus ký 1975
do Hội Áihữu Petrus Ký Úcchâu sưutầm.

– Ngườihiệuđính: dchph vào ngày Nov.25.2024, 14:03 pm

Leave a Reply

Discover more from ziendan.com

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading