by dchph in collaboration with Copilot Một ngườinôngphu theo trâu đicày trên đồngruộng bậcthang trong buổi banmai sươngmù giănggiăng vùng thunglũng. (creAited by dchph with Jetpack)
I. Dẫnnhập: khi cảmgiác trởthành lậpluận
Trong khônggian mạng Việtngữ, một hiệntượng thúvị đang lanrộng: những người theo thuyết “TiếngViệt có nguồngốc NamÁ” liêntục đưara tháchthức nhằm phủnhận ảnhhưởng của Hánngữ đốivới tiếngViệt. Họ (1) thường mởđầu bằng một câu tươngtự đầy tínhkhiêukhích:
“Xin các ông Hàn lâm chỉ cho tôi một chữ Tàu trong đoạn văn này.”
Và để tăngphần kịchtính, họ sángtác một đoạnvăn thônquê, mộcmạc, tưởngnhư “thuầnViệt” đến từng hạtbụi, chắc họ đã nặng nát cả óc để nghĩra đoạnvăn sau:
“Thằng bé lom khom theo bố, trong tay là 2 nắmcơm vừng, cùng con trâu ra đồng cầy ruộng.
Trong khi bố nó lẽo đẽo theo con trâu, nó leo trèo hái vài quả sấu, nhai nhồm nhoàm. Chán, nó leo xuống xoi lỗ bắt cáy, bắt còng.
Chợt bố nói gọi, nó tất tả mang cơm và nước vối đến cho bố.
Con trâu thì chậm rãi nằm nhai lại đám cỏ cắn vội trong lúc kéo cày.
Hai bố con vừa ăn cơm vừa kể chuyện xóm làng cùng bữa cơm độn khoai tối nay, chuyện cày bừa cấy lúa từ thời ông bà truyền lại.
Ở cái ao bên cạnh, một con cá lóc bỗng quẫy mình kḥỏi mặt nước.”
Đoạnvăn này đượcdùng như bằngchứng rằng tiếngViệt là ngônngữ NamÁ thuầnkhiết, không vaymượn Hánngữ, và rằng mọi phântích Hán-Việt chỉlà “gánghép”.
Nhưng ngữnguyênhọc không vậnhành bằng cảmgiác. Nó vậnhành bằng đốichiếu âmvịhọc, vănbản Hán-Nôm, lịchsử, và quátrình biếnđổi ngữâm qua nhiều thếkỷ.
Và khi ápdụng phươngphápluận nghiêmngặt, đốivới họ là một kếtquả phũphàng lại hoàntoàn tráingược với niềmtin “thuầnViệt”.
II. Đoạnvăn thônquê — và 99.9% từ gốcHán
Để phântích, đoạnvăn được đưara nhưsau đãđược đaâmtiếthoá:
“Thằngbé lomkhom theo bố, trongtay là hai nắmcơm vừng, cùng contrâu rađồng càyruộng. Trongkhi bố nó lẽođẽo theo contrâu, nó leotrèo hái vài quảsấu, nhai nhồmnhoạm. Chán, nó leoxuống xoilỗ bắt cáy, bắt còng. Chợt bố nó gọi, nó tấttả mang cơm và nướcvối đến cho bố. Contrâu thì chậmrãi nằm nhailại đám cỏ cắnvội tronglúc kéocày. Hai bốcon vừa ăncơm vừa kểchuyện xómlàng cùng bữacơm độnkhoai tốinay, chuyện càybừa cấylúa từ thời ôngbà truyềnlại. Ở cáiao bêncạnh, một con cálóc bỗng quẫymình khỏi mặtnước.”
Theo phântích ngữnguyên, 99.9% từ trong đoạnvăn đềucó gốcHán, ngoạitrừ 3 từ chưa xácđịnh đíchxác:
quảsấu (酸果 suānguǒ),
nướcvối (水翁 shuǐwēng),
cálóc (鱧魚 lǐyú).
Điềunày khôngcónghĩalà ba từ ấy “thuầnViệt”, mà chỉ có nghĩa: chúng chưađược giảimã hoànchỉnh, nhưng 88% là chúng có khảnăng có gốc Hán!
III. Phươngphápluận: từ đaâmtiếthoá đến đốichiếu Hán‑việt
A) Bước 1 — Đaâmtiếthoá
Đây là bước cơbản trong quytrình của bạn: gom các đơnvị nghĩa thành cụm từđaâmtiết để đốichiếu.
Vídụ:
thằngbé
lomkhom
trongtay
nắmcơm
cơmvừng
rađồng
càyruộng
nướcvối
cálóc
B) Bước 2 — Đốichiếu từng từ với Hánngữ
Dướiđây là bảng đốichiếu đầyđủ cho những từvựng liệtkê trên (phần 1).
Bảng 1 – Đốichiếu Hán‑Việt
Từ Hán-Nôm
Chữ Hán
Âm Quanthoại
Ghichú (Hán-Việt /Hán-Nôm)
thằngbé
小把戲
xiǎobǎxì
tiểubảhí
lomkhom
卷婁
quánlóu
dạng đồngnguyên HN: ‘lúicúi’
theo
隨
suí
tuỳ
bố
父
fù
phụ
trongtay
手中
shǒuzhōng
thủtrung
là
是
shì
thị
hai
二
èr
nhị
nắmcơm
飯團
fàntuán
phạnđoàn
mèvừng
芝麻
zhīmá
chima
cùng
跟
gēn
cân
con
子
zǐ
tử
trâu
丑
chǒu
sửu
rađồng
下地
xiàdì
hạđịa
càyruộng
耕田
gēngtián
canhđiền
C) Phảnbiện họcthuật (phần 1)
“ThuầnViệt” ởđây trởthành một ảoảnh của nhậnthức. Trong ngônngữ học lịchsử, “thuần” khôngphải là một thuộctính, mà là một cảmgiác. Cảmgiác ấy được hìnhthành bởi:
cảmtính
thóiquen ngữâm,
sựquenthuộc ngữcảnh,
kýức tậpthể,
và sựmờhoá của tầng Hán–Việt qua nhiều thếkỷ.
Một từ như thằngbé nghe rất Việt, nhưng khi phântích, nếu chỉ nói về kháiniệm thằng, ta có từđơnaâmtiết mà ngàyxưa HánNôm cổ dùng Hántự chínhquy ghi 尚 QT shàng, HV thượng.
Ngàynay Hán-Nôm với thằng ta cóthể chọn khẩungữ Quanthoại vì đaphần từ Hán-Nôm là những từ pháisinh dângian chora những từ thườngdùng trong lờiăntiếngnói hằngngày thời Annamcổ Bắcthuộc đếnnay:
thằng童 tóng (HV đồng) [ < 小童 xiǎotóng (hợpâm của dạng Háncổ chỉ HV ‘tiểuđồng’]
Hoặc cũng cóthể từpháisinh từ:
丁 dīng (HV đinh),
姓 xìng (HV tính),
傖 cāng (HV sanh),
囝 jiǎn (HV kiễn)
漢 hàn (HV hán),
小把戲 xiǎobǎxì (HV tiểubảhí)
+bé < 微小 wéixiǎo (hợpâm của t,ừ HN ‘béxíu’).
Sựbiếnâm của ‘thằng+bé’ qua thờigian khiến ngườithờinay không nhậnra nguồngốc.
Tâmthời ta cóthể dịch câuvăn trên nhưsau:
小把戲 卷婁 地 隨著 父親, 手中 拿的 是 兩份 芝麻 飯團 牽 一 頭牛 下地 耕田 去 了. Xiǎobǎxì quánlóu de suízhe, shǒuzhōng náde shì liǎngfèn zhīmā, qiān yī tóuníu xiàdì gēngtián qù le. »» Thằngbé lomkhom theo bố, trongtay là hai nắmcơm vừng, cùng contrâu rađồng càyruộng.
D) Tầng Hán‑Việt: cấutrúc, cơchế, và quyluật biếnâm (phần 1)
1) Hán-Việt không phải “tiếngTàu đọcsai”
Một ngộnhận phổbiến trong tranhluận trênmạng là:
“Nếu là từ Hán thì phải nghe giống tiếngTàu.”
Nênbiếtrằng Hán-Việt là một hệthống ngữâm độclập, được chuẩnhoá vào thời nhàĐường, rồi Việthoá qua nhiều thếkỷ (vì Việtnam đã trảiqua 1060 năm Bắcthuộc bị Tàu đôhộ.). TiếngHán-Việt khôngphải là:
Quanthoại,
Quảngđông,
Ngô-Việt,
hay bấtkỳ phươngngữ Hán hiệnđại nào.
Hán-Việt là vănnói, là một ngưngđọng lịchsử, đóngbăng âmvị Hán-Trungcổ (MC) vào thếkỷ VII-IX, rồi trôinổi tự biếnđổi thành Hán-Nôm do ảnhhưởng ngônngữ giaodịch từ Quanthoại mà thành tiếngViệt. (Xem Nguyễn Tài Cẩn. 1979)
2. Cơchế biếnâm: từ Hán-Trungcổ → Hán-Việt → Hán-Nôm → Việt hiệnđại
Đâylà phần mà nhiều người tranhluận thường bỏqua. Họ nhìnvào tiếng Quanthoại hiệnđại rồi sovới tiếngViệt, thấy khônggiống, và kếtluận:
“Khônggiống → khôngphải gốcHán.”
Nhưng đólà một sailầm về quanniệm và phươngpháp.
3. Hán-Trungcổ (MC) là tầng đốichiếu với Hán-Việt
Hán-Việt (HV) được chuẩnhoá vào thời nhàĐường, tứclà dự trên âm Hán-Trungcổ (MC), khôngphải Quanthoại hiệnđại.
Vídụ:
耕田 /kajŋdien/ (MC) → canhđiền (HV)
芝麻 /tɕɨma/ (MC) → chimà (HV)
手中 /ɕuwʈuwŋ/ (MC) → thủtrung (HV)
E) Tầng Hán‑Nôm: cấutrúc, cơchế, và quyluật biếnâm
1. Quanthoại (Mandarin) là tầng đốichiếu với Hán-Nôm: từ ngônngữnói Quanthoại → Hán-Nôm → Việt hiệnđại
Nếu đốichiếu với Hán-Trungcổ, nếu bạn khôngphải là nhà ngônngữhọc chuyênmôn cólẽ bạn sẽ khó nhậnthấy mối quanhệ của chúng. Nhưng nếu bạn mang chúng ra đốichiếu với âmtừ Quanthoại (M) hiệnđại, với mọithứ sẽ trởnên sángtỏ.
耕田 gēngtián (M) → canhđiền (HV) → càyruộng (HN)
芝麻 zhīmá (M) → chimà (HV) → mèvừng (HN)
手中 shǒuzhōng (M) → thủtrung (HV) → trongtay (HN)
隨 suí (M) → tuỳ (HV) → theo (HN)
飯團 fàntuán (M) → phạnđoàn (HV) → nắmcơm (HN)
2. Biến đổi phụâmđầu: quyluật, khôngngẫunhiên
a. /g- → c-(k-)/
gēngtián → canhđiền → càyruộng
gēn → cân → cùng
b. /zh- → gi-, d-, v-/
zhīmá → chimà → vừng
zhì → chí → đến
c. /f- → ph- → b-/
fù → phụ → bố
fàn → phạn → bữa(cơm)
d. /k- → l-/
lǒng → lổng → lỗ (xoilỗ < záolǒng)
e. /z- → t- → c-/
zǐ → tử → con
f. /sh- → th-/
shì → thị → (thì)là
Những biếnđổi này khôngphải “ngẫunhiên”, màlà theo quyluật ngữâmhọc.
F) Biếnđổi từ Quanthoại sang Việtngữ
1. Biếnđổi vậnmẫu
a) /-ing → -inh → -ăng/
dīng → đinh → thằng
b) /-eng → -anh / -ay/
gēng → canh → cày
c) /-uan → -oan / -ăm/
tuán → đoàn → nắm
2. Biếnđổi thanhđiệu: dấuvết của Hán-Trungcổ
Thanhđiệu Hán-Trungcổ → thanhđiệu Hán-Việt hiệnđại theođúng quyluật, nhưng thanhđiệu tươngứng Quanthoại ~ Hán-Việt lại khônghạnchế:
VII. Tầng Hán‑Nôm: lớp Việthoá sâu nhưng vẫn truynguyên được
A) Đặcđiểm của tầng Hán-Nôm
Tầng này:
khôngcòn giữ âm Hán-Việt chuẩn,
nghĩa đã dângianhoá,
âmđọc đã Việthoá mạnh,
nhưng vẫn cóthể truynguyên qua vănbản.
Vídụ:
lẽođẽo < 尾隨
tấttả < 急切
nhồmnhoàm < 嚼嚼
quẫymình < 搖身
B) Vìsao tầng Hán-Nôm dễ bị nhầm là “thuầnViệt”?
Vì nó:
gầnvới tiếngnói dângian,
mang sắcthái khẩungữ,
âmđọc “mềm”,
nghĩa cụthể,
và xuấthiện trong vănchương bìnhdân.
Nhưng nguồngốc vẫnlà gốcHán.
VII. Tầng Hán‑Nôm: lớp Việthoá sâu nhưng vẫn truynguyên được
A) Tầng Hán-Nôm là một “mảng mờnhạt” trong nhậnthức hiệnđại
Tầng Hán-Nôm là lớp từ:
khôngcòn giữ âm Hán-Việt chuẩn,
nghĩa đã dângianhoá,
âmđọc đã Việthoá mạnh,
nhưng vẫn cóthể truynguyên qua vănbản.
Đây là lớp từ nguyhiểm nhất đốivới những ai tin vào “thuầnViệt”, vì nó:
nghe Việt,
viết Việt,
dùng Việt,
nhưng gốc vẫnlà Hán.
Ví dụ:
nướcvối < 水翁
tấttả < 急切
bốcon< 父子
làngxóm < 鄉村
B) Tầng Hán-Nôm và sự hìnhthành “cảmgiác thuầnViệt”
Người Việt hiệnđại thường nhầm tầng Hán-Nôm với “thuầnViệt” vì:
nó xuấthiện trong truyện dângian,
nó gắnvới đờisống thônquê,
nó mang sắcthái khẩungữ,
nó khôngcòn giống Hán-Việt chuẩn.
Nhưng đó chỉlà cảmgiác, khôngphải thựctế từnguyên.
IX) Phụlục mởrộng: 200 mục từnguyên (tiếptục)
Từ Việt
Chữ Hán
Âm Quanthoại
Ghichú (Hán-Việt / Hán-Nôm)
đi
去
qù
Nôm. 𠫾 đi (去+多 = ‘đi’)
đến
至
zhì
= ‘tới’ < 到 dào (đáo)
về
回
huí
= 歸 guī (quy)
mang
將
jiāng
mang
kéo
牽
qiān
kéo, dắt
đẩy
推
tuī
đẩy
nhai
咬
yáo
nhai
nhồmnhoàm
嚼嚼
jiáojiáo
nhồmnhoàm
leo
攀
pān
leo < lên
trèo
登
dēng
trèo
18. TRIẾTLÝ NGÔNNGỮ — PHẦN 2
‘ThuầnViệt’ là một kýức, khôngphải thựctế từnguyên.
Ngônngữ không thuần. Ngônngữ là dòngchảy.
Cái mà ngườiViệt gọilà “thuầnViệt” thựcra là:
lớp Hán-Việt đã Việthoá,
lớp Hán-Nôm đã mờhoá,
lớp Háncổ đã hoàtan vào tiếngViệt.
“ThuầnViệt” là cảmgiác, không phải dữliệu thựcchất.
(1) Cảmgiác:
Từ Việt
Chữ Hán
Âm Quanthoại
Ghichú (Hán-Việt / Hán-Nôm)
đồng
田
tián
điền = 甸 diàn (điện)
ruộng
壤
rǎng
= 田 tián (điền)
bừa
耪
pǎng
= càybừa 備耕 bèigēng
khoai
塊
kuài
= ‘củ’ 薯 shǔ (thự) → khoai
lúa
稻
dào
= 來 lái (Háncổ)
(2) Dữliệu:
Từ Việt
Chữ Hán
Âm Quanthoại
Ghichú (Hán-Việt / Hán-Nôm)
xóm
村
cūn
thôn
làng
鄉
xiāng
làng = ‘xóm’ 村 cūn (thôn)
ao
坳
ào
= ao 澳 ào (úc)
nước
水
shuǐ
= đák 淂 dé (đắc)
quẫy
搖
yáo
nguẫy
XI. Tìmlại lớpnền bị chephủ
A) “Tầng NamÁ thựcsự là tầng BáchViệtcổ trong tiếngViệt”
Lýthuyết NamÁ lậpluận rằng nếu tầng Hán trong tiếngViệt là lớp phùsa dày hàngnghìn năm, thì tầng NamÁ là lớp đấtnền BáchViệtcổ — cổhơn, sâuhơn, và khónhìnthấyhơn. Nó không nằm ở những từ “nghe Việt”, mà nằm ởchỗ:
cấutrúc hìnhthái,
hệthống thanhđiệu,
lớp từ cơbảnnhất của đờisống,
và những từ chỉ tứchi thânthể, độngtác nguyênsơ, hiệntượng tựnhiên mà có.
B) Tầng NamÁ khôngphảilà “nhữnggì phi gốcHán!”
NamÁ là là một hệthống có quyluật, cóthể nhậndiện bằng:
đốichiếu Mon-Khmer,
đốichiếu Munda,
đốichiếu Khmer cổ,
và các ngônngữ NamÁ còn tồntại.
XII. Vậy tầng NamÁ làgì?
Trong ngônngữhọc lịchsử, “NamÁ” (Austroasiatic) là họ ngônngữ gồm:
Mon-Khmer (Cambốt)
Munda (Ấnđộ)
Việt-Mường (Việtcổ)
Jrai, Khmu, Bahnar, Sedang, Mạ, Stiêng, v.v.
Nếu TiếngViệt thuộc nhánh Việt-Mường nằm trong ngữhệ NamÁ, thì tầng NamÁ trong tiếngViệt phảilà:
Tầng BáchViệt khôngphải là NamÁ trong tiếngViệt không nằm ở những từ “nghe Việt” vì tiếngViệt nghe phảicó thanhđiệu, thanhđiệu có hệthống.
Từ NamÁ chỉ cóthể hiện diện ở lớp từ cổnhất của đờisống. Đólà những từ chỉ:
thânthể,
tựnhiên,
độngtác nguyênsơ,
cảmxúc,
cấutrúc cúpháp,
Nếu khôngphải là tầng NamÁ, nó phảilà thuộc tầng Hán, dùcho đólà lớp phùsa bồiđắp phíatrên tầng BáchViệt (Taic-Yue) là địatầnggốc, nơi tiếngViệt cắmrễ sâunhất.
KẾTLUẬN
Đoạnvăn thônquê tháchthức của đềbài này không chứngminh tiếngViệt “thuần NamÁ”.
Nó chứngminh điều ngượclại: Hánngữ đã thấmvào mọi tầnglớp từvựng tiếngViệt, kểcả những từ tưởngnhư “quêmùa” nhất.
Ngữnguyên học không hỏi:
“Từ này nghe Việt hay nghe Tàu.”
Nó hỏi:
“Từ này xuất hiện ở đâu trong vănbản cổ?
Âm đọc của nó khớp với tầng Hán nào?
Nghĩa của nó biến đổi ra sao qua các thếkỷ?”
Và khi trảlời bằng dữliệu, khôngbằng cảmgiác, ta thấyrõ khi dịchsát suônsẻ ra Quanthoại hiệnđại nhưng chúngta vẫncòn nhậnthấy cấutrúc âmvận gầngiốngnhư tiếngViệt. Đố ai dịchra tiếng Campuchia mà còn nghe giốngnhư tiếngViệt! Phũphàng thay, bẽbàng thay! 99.9% đoạnvăn ‘thuầnViệt’dướiđâylà Hánhoá!
Trongkhi bố nó lẽođẽo theo contrâu, nó leotrèo hái vài quảsấu, nhai nhồmnhoạm. 父親 慢吞吞 地 跟著 水牛, 他 卻 爬上樹 摘了 幾顆 酸果, 邊嚼 邊咬 得 滿嘴 都是。 Fùqīn màntūntūn de gēnzhe shuǐniú, tā què páshàngshù zhāile jǐkē suānguǒ, biān jiáo biān yǎo de mǎnzuǐ dōushì.
Chán, nó leoxuống xoilỗ bắt cáy, bắt còng. 厭了, 他 又 溜下來, 在 洞裡 挖抓 田蟹、 抓 螃蟹。 Yànle, tā yòu liūxiàlái, zài dònglǐ wāzhuā tiánxiè, zhuā pángxiè.
Chợt bố nó gọi, nó tấttả mang cơm và nướcvối đến cho bố. 猝然 父親 叫他, 他 便 急急忙忙 把 飯 和 水翁茶 送過去。 Cùrán fùqīn jiàotā, tā biàn jíjímángmáng bǎ fàn hé shuǐwēngchá sòngguòqù.
Contrâu thì chậmrãi nằm nhailại đám cỏ cắnvội tronglúc kéocày. 水牛 則 慢慢 躺著 倒嚼 剛才 拉著 犁 時 咬下 的 草。 Shuǐniú zé mànman tǎngzhe dǎojiáo gāngcái lāzhe lí shí yǎoxià de cǎo.
Hai bốcon vừa ăncơm vừa kểchuyện xómlàng cùng bữacơm độnkhoai tốinay, chuyện càybừa cấylúa từ thời ôngbà truyềnlại. 父子倆 一邊 吃飯 一邊 聊著 村裡 的 事, 還有 今晚 的 番薯飯, 以及 從 祖輩 傳下來 的 耕田 插秧 的 故事。 Fùzǐliǎ yìbiān chīfàn yìbiān liáozhe cūnlǐ de shì, háiyǒu jīnwǎn de fānshǔfàn, yǐjí cóng zǔbèi chuánxiàlái de gēngtián chāyāng de gùshì.
Sáchthamkhảo
Alves, Mark. The Vietic Languages: A Phylogenetic Overview. 2015.
Baxter, William H., and Laurent Sagart. Old Chinese: A New Reconstruction. Oxford: Oxford University Press, 2014.
Campbell, Lyle. Historical Linguistics: An Introduction. Cambridge, MA: MIT Press, 2013.
Cao Xuân Hạo. Tiếng Việt: Sơ thảo ngữ pháp chức năng. Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội, 1991.
Diffloth, Gérard. “The Contribution of Linguistic Palaeontology to the Homeland of Austroasiatic.” 2005.
Edgerton, Franklin. Buddhist Hybrid Sanskrit Grammar and Dictionary. New Haven: Yale University Press, 1953.
Ferlus, Michel. “Nouvelles données sur l’histoire de la langue vietnamienne.” 1992.
Fox, Anthony. Linguistic Reconstruction. Oxford: Oxford University Press, 1995.
Haudricourt, André-Georges. “De l’origine des tons en vietnamien.” Journal Asiatique, 1954.
Jenny, Mathias, and Paul Sidwell, eds. The Handbook of Austroasiatic Languages. Leiden: Brill, 2015.
Maspero, Henri. Études sur la phonétique historique de la langue annamite. 1912.
Monier-Williams, Monier. Sanskrit–English Dictionary. Oxford: Oxford University Press, 1899.
Nguyễn Lang. Việt Nam Phật Giáo Sử Luận. Hà Nội: NXB Văn học, 1992.
Nguyễn Quang Hồng. Chữ Nôm: Nguồn gốc – Cấu tạo – Diễn biến. Hà Nội: NXB Giáo dục, 2008.
Nguyễn Tài Cẩn. Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán–Việt. Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội, 1979.
Norman, Jerry. Chinese. Cambridge: Cambridge University Press, 1988.
Pulleyblank, Edwin G. Middle Chinese: A Study in Historical Phonology. Vancouver: University of British Columbia Press, 1984.
Shorto, Harry L. A Mon–Khmer Comparative Dictionary. Oxford: Oxford University Press, 2006.
Sidwell, Paul. The Austroasiatic Languages: A Typological Overview. 2015.
Thomason, Sarah, and Terrence Kaufman. Language Contact, Creolization, and Genetic Linguistics. Berkeley: University of California Press, 1988.
CƯỚCCHÚ
(1)^ Đạitừ “họ” dùng ở sốít: Về cáchdùng đạitừ, một trong những ứngdụng ngoạilai đã trởthành của riêngmình, một tácgiả ghinhận rằng họ ở sốít ngàycàng được côngnhận như một lựachọn thựctiễn thaythế cho nhiều đạitừ chỉ sốtít hay sốnhiều, có tínhphái hay trungtính, thídụ, “nó”, “ổng”, “bả”, “ngườita”, “chúngnó”, “bọnhọ”… trong nhiều ngữcảnh khácnhau. Ta phải ghinhậnrằng đâylà một thănghoa trong sựpháttriển ngônngữ. Tácgiả hyvọng là mộtngày nào đó tiếngViệt sẽ lại tiếpnhận hoặc sángtạo thêm một đạitừ ngôinhất và ngôihai nữa tươngtự như “je”, “moi”,“Vous”, “toi”, “I”, “you”, “s/he” của tiếng Anh hay Pháp để thănghoa phát thêm những ýniệm mới trong tiếngViệt ngoài tiếng “mày”, “tao”… đãcó rồi.
Về từ dùng ở sốtít nầy cáchdùng này rất giống cách dùng they trong tiếngAnh. The Washington Post đã chínhthức đưa cáchdùng này vào sổtay biênsoạn của họ vào tháng 12 năm 2015, và U.S. Examiner cũng làmtheo vào ngày 22 tháng 9 năm 2016. Thêmvàođó, they được Hiệphội Phươngngữ Hoakỳ (American Dialect Society) bìnhchọn là “Từ của Năm” vào năm 2015.
Leave a Reply