Mộtvài Triếtlý và Phươngpháphọc
Truytìm Từnguyên Hán‑Nôm

by dchph in collaboration with Copilot
I) Nếpkhung tiếpcận ngữhệ Hán‑Tạng
Trong côngtrình này, tácgiả khảosát đồngthời hai bìnhdiện nghiêncứu — quanhệ đồngnguyên và bốicảnh lịchsử — với hơn 400 từngữ cơbản trong tiếngViệt tươngứng với từnguyên Hán‑Tạng. Những từnguyên đồnggốc này được củngcố thêm bằng việc phântích các đặcthù ngônngữ Hán thấmsâu vàotrong tiếngViệt, quađó làm vữngchắc lậpluận trungtâm của thuyết Hán‑Tạng mà bàiviết này đềxuất.
Tácgiả đặt nềnmóng phươngpháp mới cho cách tiếpcận khung Hán‑Tạng trong lớp Hán‑Việt. Tráivới khảnăng thuthập thôngtin tăngtốc của thờiđại Trítuệ Nhântạo (AI), nghiêncứu của ông bắtnguồn từ thờikỳ tiền‑internet và dựatrên họcthuật truyềnthống. Các kếtquả được ghinhận theo lối cổđiển: rúttỉa và đúckết trựctiếp từ hàngtrăm đầusách in, lậtlại từngtrang, từngdòng. Mỗi pháthiện được ghichép thủcông lên các thẻ mụclục, tríchtừ một kho tưliệu đồsộ.
Trong hơn hai thậpniên, tácgiả đã tíchluỹ hơn 20.000 phiếu nghiêncứu ghichép trước năm 2000, đúngvàolúc thờiđại thôngtin‑internet bùngnổ. Những phiếu này tuy chưađược mãhoá lưutrữ nhưng thựctế đãđược nộitâmhoá sâusắc, hìnhthành một khungnhậnthức bềnvững tiếptục địnhhình cách ông phântích dữkiện. Hiếmkhi tácgiả cần tralại thẻ gốc vì ông đã xâydựng trong tâmtrí một cáinhìn tổngthể về cấutrúc và ngữnghĩa của từnguyên tiếngViệt, nhờđó đã khôiphục một disản ngônngữ từng bị khuấtlấp khỏi giới họcthuật vì họ còn thiếusót cảmtính. Mộtvài thídụ, từnguyên của ban, buổi, bữa làgi? Chắc ítngười ngờtới là chúng cógốclà 飯 fàn < MC bwan, bʷiɐn < OC *bonʔ, *bons, là ‘bữacơm‘ (sosánh phươngngữ Hảinam /buj1/, Triềuchâu /bɐng1/, Quảngđông /fan2/, etc.) Trongkhiđó ngườita vẫn cóthể quira 白日 báirì > ‘banngày’, 白晝 báizhòu > ‘buổitrưa’, 晚間 wǎnjiān > ‘banđêm’, etc.
Ngượclại, dovì nhiều việndẫn xuấtphát chủyếu từ tâmthức ngườiviết nhưng về nộithức lại thiếutính khoahọc vì ngườiđọc sẽ đặt nghivấn khônghiểu tácgiả căncứ vào đâu. Tính đến năm 2026, chỉkhoảng mộtphầnnhỏ số đầusách đã nộitthứchoá này được nhậpvào thưmục thamkhảo; phầncònlại sẽ vẫncòn biênmục — một côngviệc vừa tốnthờigian vừa đòihỏi sựtỉmỉ của nhiều biêntậpviên phụtá của thời mựcin và giấymá; trong khiđó trênmạng chỉcần gõ trên bànphiếm và chỉ phútgiây AI sẽ cốnghiến ngay cho ngườinghiêncứu hàngtrăm đầusách liênhệ.
Tuynhiên, giốngnhư hộichứng Hồsơ Epstein, việcgìcòncóđó, với khối bằngchứng đồsộ này, hệthốnghoá dữliệu đốichiếu nằm nhannhãn trên mạng cóthể chứngminh rằng phầnlớn từngữ Hán‑Tạng trong lớp Hán‑Việt đều cóthể truyvết đến ítnhất một từnguyên đồnggốc trong tiếngHán, quađó củngcố tính liêntục lịchsử và ngônngữ giữa hai truyềnthống.
Đượcthúcđẩy bởi niềmđammê bềnbỉ, tácgiả đã dành hàng thậpniên đắm mình trong việc tựhọc ngônngữhọc lịchsử Việt–Hán. Nỗlực ấy kếttinh thành việc xâydựng một từđiển trựctuyến về các từ Nôm gốc Hán — một kho tưliệu từnguyên Hán‑Việt có chúgiải, được biênsoạn từngmục một.
Nhưvậy cóthể nói vềmặt mãsốhoá, tácgiả đã bướcvào thờiđại điệntử và tiếptục pháttriển dựán từngphần, liêntục được cậpnhật trên trênmạng, dành ưutiên khảnăng truycập trên mànhình diđộng với cáchtrìnhbày theo từng mãng môhình nộithức (xem thídụ bằng Bảng 3 trong bàiviết này). Địnhdạng này vừa mởrộng khảnăng tiếpcận côngchúng, vừa giữđược biêntập với độ rõràng và chínhxác ngữnghĩa, chophép dựán mởrộng mà khônglàm suygiảm tínhnghiêmtúc phươngpháphọc. (1)
Mụctiêu tốihậu vẫnlà xuấtbản trong hệthống ấnphẩm chínhthống, nhằm thúcđẩy một luậnđề khuyếnkhích táikhảosát ngônngữhọc đốivới trục Hán‑Tạng. Trọngtâm của luậnđề này là giảthiết chorằng các phươngngữ tiếngHán hiệnđại hìnhthành như những nhánh được địnhhình chủyếu bởi sựhoàtrộn giữa tầngnền Taic‑Yue (Thái-BáchViệt) và tiền‑Tạng (proto-Tibetan), kếttinh thành tiền‑Hán và các tầng ngônngữ tiền‑Tần–Hán trên toàn cươngthổ Trungquốc cổđại. Tươngtự, sựhoànhập của yếutố BáchViệt vào khônggian Annam trong thời Tần–Hán cólẽ đã gópphần vào sự hìnhthành tiếngViệt sơkỳ, địnhhình rõnét vào khoảng thếkỷ thứ 10. (2)
Vềmặt phươngpháp trìnhbày, bàiviết này được thiếtkế để thuhút cả người mới tìmhiểu ngônngữhọc lịchsử Việt lẫn các chuyêngia Hánhọc và Việtngữhọc. Người họctiếngViệt có nềntảng vững về tiếngQuanthoại (QT), còngọilà tiếng Quanhoả (官話 Guānhuà), nay chínhthức mangtên Putonghua (普通話), cùng với kiếnthức cơbản về ngônngữhọc lịchsử, sẽ thấy côngtrình này đặcbiệt hữuích. Mộtsố đoạn giảithích cóthể cóvẻ chitiết hoặc lặplại nhằm nhấnmạnh những điểm quenthuộc với giới chuyêngia, hoặc mộtsố khoảngtrống cóthể gây khókhăn cho độcgiả phổthông — nhưng tấtcả đều nhằm cânbằng nhucầu của nhiều nhóm độcgiả khácnhau. Tàiliệu nhậpmôn về ngônngữhọc lịchsử được liệtkê trong thưmục thamkhảo. (3)
Dođó, bấtkể câuchuyện cuốicùng có hìnhthức rasao, tácgiả chủtrương rằng ngônngữ phảiđược tiếpcận như những hệthống sinhđộng và toàndiện, đượchiểu với biểuthức phứchợp hiệnđại của chúng, thayvì bị giảnlược về những tầng phụcnguyên xaxưa 3.000 hay 5.000 năm. Quanđiểm này tươngtự cách ta nhìn tiếngAnh: khôngchỉ như một tàndư Ấn‑Âu, màlà một hợpthể năngđộng của Anglo‑Saxon, Germanic, Norman, Romance, Latin, Greek, và nhiều ảnhhưởng khác đã địnhhình diệnmạo của ngônngữ quốctế này hiệnnay.
Những mốiquantâm chung tạodựng nên niềmtin và sựđồngcảm, giốngnhư sựgắnkết giữa nhữngngười cùng một truyềnthống. Một lýthuyết mới thường khởidầu bằng những tiềnđề nềntảng: dữkiện, tríchdẫn, bằngchứng hỗtrợ, quyluật, môhình, phép loạisuy và lậpluận. Từ đó, ta hìnhthành một quanđiểm chung, chấpnhận chúng làm cơsở cho biệnluận tiếptheo. Chẳnghạn, nếu ta đềxuất rằng [ 雞 (jī, SV kê) = gà ] và [ 蛋 (dàn, SV đản) = trứng ] là những từnguyên Hán–Việt đồnggốc khôngthể phủnhận, nhiều khảnăng đều xuấtphát từ gốc BáchViệt (Yue) cótrước tiếngHán, thì khôngcần phải bỏ côngsức ra để chứngminh quámức. Mộtkhi đã chấpnhận tiềnđề, vấnđề trọngtâm là chuyểnsang việc xemxét congà đến từ phươngNam hay phươngBắc, Việt hay Tàu — hoặc thậmchí câuhỏi muônthuở: Trứng cótrước hay gà cótrước?
Bàiviết này nhắm vàoviệc làmquenvới độcgiả và đưa quanđiểm của mình để xâydựng tiềnđề cho các bàiviết tiếptheo của côngtrình sẽđược phátbiểu, quađó tạo một kênh kếtnối họcthuật cho những ai tìmkiếm hiểubiết về nguồngốc ngônngữ tiếngViệt. Nó không trìnhbày như một bàinghiêncứu khoahọc theo chuẩn hìnhthức với bảngsốliệu và môhình thốngkê; thayvàođó, nó đưara một hànhtrình tựsự về ngônngữ giúpcho người đọc theobước truytìm như được đềra gợiý kháiniệm Ýthức Mới về Nguồngốc TiếngViệt — một sắcthái cóthể hiểulà “sựhoàgiải mới giữa các luậnthuyết tráichiều về nguồngốc tiếngViệt”, ítra là nhưvậy.
II) Hướngtới sựdấnthân sâuhơn vào từnguyên Hán‑Việt
Tuynhiên, cuốicùng khi được trìnhbày dưới dạng inấn, tưliệu cóthể được tiếpcận với mứcđộ kháchquan caohơn, được hỗtrợ bởi các dẫncứ và tríchdẫn; tấtnhiên kếtquả vẫncòn tuỳthuộc vào việc tácgiả có tìmđược một nhàxuấtbản uytín haykhông. Đốivới những độcgiả vẫn còn hoàinghi nhưng bị cuốnhút bởi các mốiliênhệ từnguyên giữa tiếng Việt–Hán, cólẽ đáng để chờđợi bản inấn đầyđủ của côngtrình này. Sáchin thường khuyếnkhích ngườiđọc dấnthân sâuhơn với một tháiđộ cởimở vữngtin đốivới các lậpluận phứctạp. Khócó khảnăng toànbộ chiềusâu của cuộckhảocứu này cóthể được tiếpnhận trọnvẹn qua hìnhthức trựctuyến vì quá dàidòng để ngườiđọc tậptrung.
Bảnchất conngười thường thiênvề những ýtưởng phùhợp với cảmnhận bằng trựcgiác. Để thựcsự thấuhiểu những nhậnđịnh được trìnhbày ởđây, lýtưởng nhất là độcgiả nên có chútít hiểubiết về lịchsử tươngtác chínhtrị giữa hai nhànước Việtnam và Trungquốc. Dẫuvậy, ngườimới nhậpcuộc vẫnđược chàomừng, miễnlà họ thựcsự tòmò muốnbiết. Cốtlõi của côngtrình này là tườngthuật lịchsử — một câuchuyện ngônngữ và vănhóa hấpdẫn, cóthể cuốnhút cả họcgiả lẫn độcgiả phổthông quantâm đến vấnđề.
Dưới gócđộ ngônngữhọc lịchsử, sựtiếpxúc giữa hai cộngđồng ngônngữ thường dẫnđến việc ngônngữ mạnhhơn đồnghoá ngônngữ yếuhơn theo thờigian. Chitiết của quátrình này phụthuộc vào các yếutố như sứcmạnh quânsự, quymô dânsố và mứcđộ pháttriển vănhóa. Chẳnghạn, ngônngữ của một cộngđồng chinhphục, sau một thờikỳ songngữ kéodài, cuốicùng sẽđược cộngđồng bị chinhphục tiếpnhận (Roberts J. Jeffers et al. 1979: 142).
Trong bốicảnh Hán‑Việt, quátrình Hánhoá ở Annam kéodài hằng thiênniênkỷ. Tácgiả không có ýđịnh tranhluận với những người phảnđối lậpluận của mình, cũng không tìmcách thuyếtphục những ai vốn không thiệncảm với giảthuyết Hán–Việt. Ngônngữhọc lịchsử không manglại chânlý tuyệtđối vì dùgì nó cũngđược địnhhình bởi những diễngiải quanđiểm. Niềmtin thường ănsâu, được dẫndắt bởi trựcgiác hoặc cảmgiác. Những phảnứng quenthuộc như “Đồtuyêntruyền Chinazi!” (bởilẽ nhắcđến gốcTàu), “Wikipedia không đángtin!” (bởilẽ độingũ tôitớ của nhànước độctài làm bồibút cho chếđộ viếtbài tuyêntruyền), “Bogus!” (cuốicùng là luậncứ khoahọc giảtưởng), v.v., là mộtphần của diễnngôn trong thờiđại internet. Với những độcgiả có phảnứng nhưvậy, tácgiả xinmời dờibước rakhỏi diễnđàn hơnlà tranhcãi.
Đến giaiđoạn này trong hànhtrình truytìm từnguyên của mình, tácgiả bàiviết nầy sẽ tiếptục làmgì? Thựctình, ông khôngđược đàotạo chínhquy với tưcách một nhàngônngữhọc lịchsử chuyênvề Việtngữhọc. Nhưng hànhtrình của ông bắtđầu từ những khoáhọc ngônngữhọc nhậpmôn do ban giảnghuấn Anhngữ cừkhôi từ những họcviện quốctế nổitiếng trước thángtư 1975 (giáosư Đỗ Khánh-Hoan, Nguyễn Đình Hoà, Lê Duy Diệm, Trương Tuyết Anh, Nguyễn Văn Xiêm… và cộngthêm ngônngữhọc chuyênđề tiếngViệt do ba họcgiả lớn Việtnam của thếkỷ 20 giảngdạy: các giáosư Nguyễn Tài Cẩn, Hoàng Tuệ, và Bùi Khánh Thế — những têntuổi hàngđầu của Đạihọc Sàigòn thời Vănkhoa sánglạng. Điều khởidầu đó như một sựtòmò họcthuật đã dần trởthành niềmđammê suốtđời đốivới từnguyên tiếngViệt và nềntảng Hánhọc của nó.
Tácgiả vẫn nhớrõ đềtài đầutiên được Giáosư Hoàng Tuệ giao: khảosát từ tiếng trong tiếngViệt. Kháiniệm từ tưởngnhư đơngiản này mà nó lại baohàm một chùm nghĩa: âmthanh, hìnhvị, âmtết, từ và ngônngữ. Nghiêncứu đốichiếu của ông với từ tươngứng trong tiếngHán 聲 (shēng, HV thanh, HN tiếng) đã trởthành bướcngoặt trong sựnghiệp ngữhọc trên 30 năm của tácgiả. Bềrộng ngữnghĩa của 聲 shēng, đặcbiệt trong các tổhợp như 蠻聲 (Mánshēng) — chỉ tiếngMôn trong các phươngngữ Shaozhou Tuhua (韶州 土話) của các tỉnh Quảngđông, Hồnam và Quảngtây ngàynay — chitiết nầy hélộ chothấy một sựcộnghưởng ngônngữ sâusắc vượtqua giớihạn vănhóa.
Đốivới tácgiả, tiếng và 聲 shēng đã trởthành Đạo (道 Dào, HN “đường”) mởra khotàng từnguyên Hán‑Việt. Chính nguyêntắc dẫnđạo này đã thôithúc ông khảosát những chữHán khác có phạmvị nghĩa vượtxa các trườngnghĩa thôngthường. Đó chínhlà sứcquyếnrũ của ngônngữ: một hệthống vừa cứng vừa mềm, vừa lịchsử vừa sinhđộng, đặcbiệt là khi sosánh với 400 từnguyên gốc Hán-Tạng. TiếngViệt, tuynhiên, khôngthể bị giảnlược nhưvậy. Lịchsử và cấutrúc ngônngữ của nó đòihỏi một sựcôngnhận độclập và tinhvi hơn. Và tácgiả đã vùimàikinhsử trên 30 năm trong lãnhvực này.
III) Mộtvài triếtlý truytìm từnguyên Hán‑Nôm
Vìsao tácgiả lại tựtin cổvũ cho luậnthuyết nguồngốc Hán (Sinitic) trongkhi hoàinghi các môhình NamÁ? Sựtươngtác giữa tiếngHán và tiếngViệt vốn phứctạp, và ông tiếpcận nó bằng cả sựnghiêmtúc họcthuật lẫnchút hómhỉnh châmbiếm — một giảthiết được hunđúc từ quansát lâudài và kinhnghiệm sống. Ít có họcgiả nào sẵnsàng lặnsâu vào những tranhluận vốnkhó đạtđến kếtluận dứtđiểm này. Các lýthuyết phânloại ngônngữ môphỏng theo môhình Ấn‑Âu thường tỏra kém hiệuquả khi ápdụng vào bốicảnh NamÁ. Những người bấtđồng với quanđiểm chínhthống đôikhi bị xemlà “yếunền,” nhưng ngônngữhọc là lĩnhvực nơi khoahọc, lịchsử và trựcgiác nhânloại giaonhau. Tiếnbộ thường đến từ những người thếcô dám tháchthức các tựsự đang chiếmưu thế.
Trong hơn bamươi năm, sựtiếpxúc của tácgiả với tiếngHán ngàycàng sâurộng, cả trong họcthuật lẫn đờisống. Khảnăng Quanthoại hiệnđại (Putonghua) của ông được địnhhình qua những cuộc tròchuyện hằngngày với người vợ bảnxứ Trungquốc, quaviệc đọcrộng vănhọc Trunghoa, và thườngxuyên theodõi các phươngtiện truyềnthông Trungquốc — từ truyềnhình vệtinh đến phimbộ hiệnđại trên Youtube. Sựđắmmình liêntục này gọtdũa trựcgiác của ông về mốiliênhệ từnguyên giữa tiếngHán và tiếngViệt. Điều khiến ông saymê nhất là sự gầngũi đángkinhngạc — vượtxa mứcđộ trùnglặp từvựng — giữa các cách diễnđạt Quanthoại hiệnđại và các cáchnói tươngứng đờithường với ngữcảnh giốngnhau trong tiếngViệt. Những tươngđồng này, được quansát trong khẩungữ và phimhài, củngcố niềmtin của ông rằng mốiliênhệ ngônngữ giữa hai thứ tiếng sâuhơn nhiều sovới điều mà ngônngữhọc Hán truyềnthống thường thừanhận. Sựtươngứng này cũng hiệndiện trong vănhọc Trunghoa cổđiển từ thếkỷ 12, đóphảilà đã gợiý một đốithoại vănhoá liêntục và dàilâu.
Tácgiả tin rằng bấtkỳ nhàngữhọc Việtnam nào thôngthạo Quanthoại hiệnđại khi nhìn từvựng qua lăngkính nguyêntừ đều sẽ nhậnra giátrị của quanđiểm này. Tuyvậy, ông cảnhbáo không nên giảnlược tiếngViệt thành một biếnthể hậu‑Việt (Yue) tươngtự Quảngđông, Phúckiến, Choang hay các ngônngữ Daic. Những ngônngữ này, được địnhhình qua hàng thếkỷ Trunghoatrị, đã trảiqua một quátrình Hánhoá sâurộng và thường bị xếpvào phạmvi phânloại Hán‑Tạng, đặcbiệt là các phươngngữ Kadai‑Daic hiệnđại. TiếngViệt, tuyvậy, không chấpnhận sựgiảnlược nhưthế. Hànhtrình lịchsử và cấutrúc ngônngữ của nó đòihỏi một sựcôngnhận tinhvi và độclập hơn.
Dĩnhiên, hànhtrình này khôngphải lúcnào cũng hứngkhởi. Tácgiả nhiềulần tựhỏi vìsao mình lại dấnthân sâu đếnvậy? Không có phầnthưởng vậtchất nào chờđợi ông phíatrước. Rốtcuộc, đã có ai thựcsự quantâm đến việc một từnguyên Hán có gốcViệt hay ngượclại? Bấtkể kếtquả rasao, tiếngViệt cólẽ vẫn sẽđược xếpvào họ NamÁ hoặc Hán‑Tạng. Nhưng chừngnào tácgiả còn đủ nănglượng và đam mê để tiếptục, ông vẫn khẳngđịnh: hãy cùng đitiếp hànhtrình này, chođến ngày ông khôngthể nữa.
Như một hànhgiả tìmkiếm mặckhải, hànhtrình tácgiả tiếpcận từnguyên này với sự kinhngạc và quyếttâm. Mỗi pháthiện — dùlà độtphá hay bếtắc — đều làm sâusắc thêm hiểubiết của ông về cảnhquan ngônngữ Việt. Nhiều năm nghiêncứu ngônngữhọc lịchsử Trunghoa đã khơidậy tòmò của tácgiả về quákhứ của ngônngữ Trungquốc. Trảinghiệm này — tươngtự niềmsaymê của ngườihọc tiếngAnh khi khámphá tiếng Hylạp, Latinh và các ngônngữ Rôman — đã mởrộng hiểubiết của ông về từnguyên tiếngViệt đồngthời làmgiàu thêm kiếnthức của ông về Hánhọc cùng tiếngHán.
Trong giaiđoạn đầu nghiêncứu, tácgiả chấpnhận quanđiểm chínhthống của giới chuyêngia Việtnam vốn nhấnmạnh mốiquanhệ Môn‑Khmer. Nhưng quanđiểm ấy nay đã thuộc về quákhứ. Qua thờigian, kinhnghiệm và sựtruycứu bềnbỉ, ở ông đã hìnhthành một cáchhiểu vấnđề tinhtếhơn. Khi đisâu vàongành, ông nhậnthấy tiếngViệt có nhiều điểm tươngđồng với các ngônngữ Hán hơnlà ngaycả các ngônngữ Hán‑Tạng có vớinhau trong cùng một ngữhệ. Những tươngđồng này vượtkhỏi từvựng cơbản, lansang các lềlối diễnđạt và đặctrưng cấutrúc, những yếutố mà ngônngữhọc lịchsử dùng để xáclập quanhệ ditruyền.
Trườngphái NamÁ tậptrung chủyếu vào các yếutố chung giữa tiếngViệt và các ngônngữ Môn‑Khmer. Nhưng họ bỏqua nhiều pháthiện quantrọng trong từnguyên Hán‑Tạng, đặcbiệt là những từ cơbản xuất hiện ổnđịnh trong cả tiếngHán và tiếngViệt qua thờigian — những từ mà họ thường gán cho Môn‑Khmer. Xét đến sốlượng lớn từViệt phùứng (‘cognate’) với từnguyên Hán‑Tạng, các mốiliênhệ Môn‑Khmer được đềxuất thiếu những đặctrưng ngônngữ thiếtyếu — như tính đaâmtiết và thanhđiệu — vốnlà đặctrưng chung của tiếng Việt và Hán. Những đặctrưng này vượttrội sovới bằngchứng mà trườngphái NamÁ đưara.
Nếunhư các đặctrưng ngônngữ tiếngViệt được hệthốnghoá và sosánh chitiết với ngônngữhọc lịchsử tiếngHán đã cho tácgiả thấyrằng tiếngViệt, ở nhiều phươngdiện, là một dạng biếnthể của tiếngHán. Niềmtin này đã thúcđẩy tácgiả xửlý những phứctạp ấy và biênsoạn côngtrình này trong bamươi năm qua. Thuyết Hán‑Nôm mà ông đềxuất khôngchỉ dựatrên danhsách hơn 400 từnguyên đồnggốc Hán‑Tạng được trìnhbày trong bàiviết về Hán‑Tạng, mà cònđược củngcố bởi bằngchứng từ nhânchủnghọc, khảocổ và tưliệu lịchsử.
Do sự khanhiếm tưliệu lịchsử, các chuyêngia NamÁ thường buộcphải giảđịnh thuầntuý dựavào quy luật biếnâm. Vìthế, họ tậptrung vàoviệc sosánh các từ cơbản Môn‑Khmer — mà nhiều từ trongsốđó dầndần được táiphânloại sang các họ ngônngữ khác. Khi thiếu bằngchứng ngônngữ thuyếtphục, họ đôikhi chuyểnhướng sang các ngônngữ lâncận, một xuhướng làmsuyyếu lậpluận của họ về mốiliênhệ từnguyên Việt–Hán.
Hãy xét vídụ từ “vịt”. Nó khôngcó từnguyên đồnggốc trong Môn‑Khmer. Để giảithích, một số họcgiả NamÁ đềxuất liênhệ với tiếng Thái เป็ด /pĕd/, dù họ biếtrằng tiếng Thái xuấtphát từ ngữchi Daic (thídụ tiếngTày), mà Daic lại có gốctừ Taic — chínhlà dòng ngônngữ đã sinh ra các ngônngữ BáchViệt (Yue), tổtiên của tiếng Việt‑Mường cổ! (Sosánh 鴄 pī = HN ‘vịt’)
Nếunhư ta giảđịnh mốiliênhệ giữa “vịt” và 鴨 yā (HV áp), tưliệu lịchsử cóthể cungcấp bằngchứng hỗtrợ. Đổng Tác-Bân (董作賓, 1933), trong Luậnđàm (《譠》), tr. 162, nhắcđến một địađiểm thuộc nướcĐàm thời Thương (nay thuộc Tỉnh Sơnđông) gọilà 武原城 Vũnguyênthành. Dânđịaphương gọi nó là 鵝鴨城 Ngaápthành (tức “Thành Nganvịt”), cólẽ vì sựtươngđồng ngữâm trong phươngngữ địaphương lúcbấygiờ.
Chiềuhướng lịchsử này của từnguyên Hán‑Việt thểhiện qua các trườnghợp như “vịt,” “ngan,” “ngỗng” (được dùng để phụcnguyên 原, 源 yuán → “nguồn,” “dòng”) cho thấy độsâu của mốiliênhệ Việt–Hán, một lĩnhvực mà giảthuyết NamÁ Môn‑Khmer khôngthể giảithích.
Dựatrên khung lịchsử nêu trên và được mởrộng trong các chương tiếptheo, côngtrình này trìnhbày một cách toàndiện quátrình hìnhthành tiếngViệt hiệnđại cả theo trục lịchsử (diachronic) lẫn trục đồngđại (synchronic) và mốiliênhệ của nó với các phânnhánh Hán trong họ Hán‑Tạng.
Bảng 3 – DânViệt gốc NamÁ đưara tháchthức trên mạng
“Xin các ông Hàn Lâm, chỉ cho tôi 1 chữ Tàu, hoặc lai Tàu trong câu này ??
Vậy tại sao ông dám viết như câu ở trên ?? Câu dưới đây có dựa chữ nào vào chữ, nghĩa Trung Hoa hay không ??”
“Thằng bé lom khom theo bố, trong tay là 2 nắmcơm vừng, cùng con trâu ra đồng cầy ruộng.
Trong khi bố nó lẽo đẽo theo con trâu, nó leo trèo hái vài quả sấu, nhai nhồm nhoàm. Chán, nó leo xuống xoi lỗ bắt cáy, bắt còng.
Chợt bố nói gọi, nó tất tả mang cơm và nước vối đến cho bố.
Con trâu thì chậm rãi nằm nhai lại đám cỏ cắn vội trong lúc kéo cày.
Hai bố con vừa ăn cơm vừa kể chuyện xóm làng cùng bữa cơm độn khoai tối nay, chuyện cày bừa cấy lúa từ thời ông bà truyền lại.
Ở cái ao bên cạnh, một con cá lóc bỗng quẫy mình kḥỏi mặt nước.”
TRÀLỜI: Dạthưa ông NamÁ, 99.9% của tấtcả từ tiếngViệt tríchdẫn trên đềulà từ có gốc “Tàu” ạ, ngoạitrừ 3 từ sauđây mà tácgiả tạm ghi trong ngoặcđơn tạmthời chưa xácđịnh ngọnngành đó thôi: ‘quảsấu’ (酸果 suānguǒ), ‘nướcvối’ (水翁 shuǐwēng), ‘cálóc’ (鱧 魚 lǐyú).
Đâylà côngđoạn mà anhbạn NamÁ phải thựchiện để truytìm từnguyên Hán-Nôm:
1. Chuyểnđổi nguyênvăn sang hìnhthức songtiết / đaâmtiết”, thídụ:
“Thằngbé lomkhom theo bố, trongtay là hai nắmcơm vừng, cùng contrâu rađồng càyruộng,” et cetera.
2. Vô trang Từđiển Việt-Tàu và đánh từng từ vào để tìm từnguyên! Thídụ:
a. Từnguyên: (tuyểnchọn từ thíchhợp)
Thằngbé = 小把戲 xiǎobǎxì, lomkhom = 卷婁 quánlóu, theo = 隨 suí, bố = 父 fù, trongtay = 手中 shǒuzhōng, là = 是 shì, hai = 二 èr, nắmcơm = 飯團 fàntuán, cơmvừng = 芝麻 zhīmācā, cùng = 跟 gēn, con = 子 zǐ, trâu = 丑 chǒu, rađồng = 下地 xiàdì, càyruộng = 耕田 gēngtián
b. Dịchthuật: (chungchung với cáchnói hiệnđại bằng kỹthuật AI)
小把戲 卷婁 地 隨著 父親 ,手中 拿的 是 兩份 芝麻 飯團 牽 一 頭牛 下地 耕田 去 了。
Xiǎobǎxì quánlóu de suízhe, shǒuzhōng náde shì liǎngfèn zhīmā, qiān yī tóuníu xiàdì gēngtián qù le.
vânvân và vânvân…
Nếu dịchsát suônsẻ ra Quanthoại hiệnđại nhưng chúngta vẫncòn nhậnthấy cấutrúc âmvận gầngiốngnhư tiếngViệt:
Thằngbé lomkhom theo bố, trongtay là hai nắmcơm vừng, cùng contrâu rađồng càyruộng.
「小童 彎著腰 跟在 父親 後面, 手裡 捧著 兩團 芝麻飯, 和 水牛 一起 下田 耕地。
Trongkhi bố nó lẽođẽo theo contrâu, nó leotrèo hái vài quảsấu, nhai nhồmnhoạm.
父親 慢吞吞 地 跟著 水牛, 他 卻 爬上樹 摘了 幾顆 酸果, 邊嚼 邊咬 得 滿嘴 都是。
Chán, nó leoxuống xoilỗ bắt cáy, bắt còng.
厭了, 他 又 溜下來, 在 洞裡 挖抓 田蟹、 抓 螃蟹。
Chợt bố nó gọi, nó tấttả mang cơm và nướcvối đến cho bố.
猝然 父親 叫他, 他 便 急急忙忙 把 飯 和 水翁茶 送過去。
Contrâu thì chậmrãi nằm nhailại đám cỏ cắnvội tronglúc kéocày.
水牛 則 慢慢 躺著 倒嚼 剛才 拉著 犁 時 咬下 的 草。
Hai bốcon vừa ăncơm vừa kểchuyện xómlàng cùng bữacơm độnkhoai tốinay, chuyện càybừa cấylúa từ thời ôngbà truyềnlại.
父子倆 一邊 吃飯 一邊 聊著 村裡 的 事, 還有 今晚 的 番薯飯, 以及 從 祖輩 傳下來 的 耕田 插秧 的 故事。
Ở cáiao bêncạnh, một con cálóc bỗng quẫymình khỏi mặtnước.
在 旁邊 的 池塘裡, 一條 鱧魚 突然 翻身 躍出 水面。」
99.9% đoạnvăn ‘thuầnViệt’ kia là Hánhoá.
Một đónggóp quantrọng khác của tácgiả là làmrõ cáchdùng thuậtngữ “Hán” (Sinitic), được dùng như một quyước tiệnlợi để chỉ các yếu tố thuộc phạmvi ngônngữ và vănhóa Hán. Như đã nêutrước, “Hán” khôngphải là một địnhdanh tôngiáo hay chủngtộc như “Dothái,” mà là một kiếntạo vănhóa, tươngtự “Mỹ” (America). Về mặt ngônngữ, kháinệm “Hán” chỉ xuấthiện khi nhàTần thốngnhất Trungquốc, trởthành một biếnthể tiền‑Tạng được đặtlên tầngnền Thái-Việt cổ (Taic‑Yue). Ngônngữ mà ta gọilà “tiếngHán” ngàynay mangtên theo sựkiện tụhội chínhtrị đó, và vìthế mang một hànhtrình lịchsử riêng gắnvới tiếntrình hìnhthành thựcthể Trunghoa.
Thuậtngữ “Hán” hay “Chinese” theo nghĩarộng, bắtnguồn từ sự thốngnhất các nước cổ vào đếquốc nhàTần — một sựkiện có quymô tươngtự Liênminh ChâuÂu ngàynay. Trong giaiđoạn này, tànlưu của các yếutố ngônngữ Taic‑Yue (Thái-Việt) bảnđịa đã thấmvào từvựng đếquốc mới, bấtkể các nhàHánhọc có thừanhận hay không. Các ngônngữ BáchViệt phươngNam như Quảngđông, Phúckiến, Ngô… từđó được xếpvào ngữhệ Hán‑Tạng, thườngqua các quyếtđịnh hànhchính của nhànước. Vềmặt từvựng, “Hán” đã trởthành nhãnchung cho tấtcả các phươngngữ này (xem Tang Lan, 1965, tr. 184).
Giảsử lịchsử đã diễntiến theo một hướng khác — chẳnghạn, nếu nướcSở giành thắnglợi trước cả Tần lẫn Hán trong những chiếndịch quyếtđịnh — thì cólẽ Trungquốc ngàynay đã được biến tên thành “Sở”. Tưliệu lịchsử cho thấy Sở là một nhànước Thái-Việt (Daic‑Yue), nhiều khảnăng có gốctích Taic, tổtiên của các dântộc Tày (Daic) và Nùng (Choang). Cưdân của nó cólẽ đã từng nói một biếnthể của thứtiếng “Sở” cổ, thayvì dạng ngônngữ mà ngàynay ta quengọi là “Hán”. Tươngtự, nếu nước NamViệt từng thànhcông trongviệc tiếpthu đếquốc nhà Hán, thì danhxưng chủđạo cólẽ đã trởthành “Việt”, hoặc /Jyut6/, hoặc “Yue” theo cáchđọc Quanthoại (xem Lu Shiping, 1964; o Yang, 1983–93).
Tựutrung, “Hán” hay “Chinese” khôngphảilà một địnhdanh tộc‑chủng cốđịnh, mà là một kiếntạo vănhóa được giớihạn trong những biênđộ thayđổi theo thựcthể nhànước Trungquốc. Têngọi cóthể thayđổi theo triềuđại, nhưng sựliêntục ngônngữ của nó vượtlêntrên mọi nhãnhiệu. Những giảđịnh lịchsử này nhấnmạnh tínhngẫubiến của việc đặttên: các quyước thuậtngữ được chốtlại bởi kẻchiếnthắng và tiếntrình củngcố chínhtrị, trongkhi tầngnền ngônngữ sâuhơn thường vẫn tồntại qua nhiều lần thayđổi triềuđại. Chẳnghạn, dưới Triều Mãn-Thanh (1644–1911), quốchiệu chínhthức là “Thanh”, nhưng lõi vănhóa và ngônngữ của nó vẫn mang bảnchất Hán, vì ngườiMãnchâu đã trởthành một phần của thựcthể chínhtrị ấy.
Hãy xétthêm một giảđịnh khác: nếu Đếquốc Nhật kẻthắng trong Thếchiến II và đổitên Trungquốc thành “Đại ĐôngÁ” thì trong kịchbản đó, thuậtngữ “Sinitic” cóthể đãbị thaythế bởi một danhxưng hoàntoàn khác “phi‑Sina”. Thínghiệm tưduy này chothấy danhxưng ngônngữ thường là sảnphẩm của tiệndụng, tấtyếu do quyềnlực hơnlà phảnánh một thựctế ngônngữ nộitại. Khi đặt cạnh các khung (Thái-Việt) Taic‑Yue hay NamÁ Môn‑Khmer, những quyước đặttên nhưvậy cóthể chekhuất những liênhệ sâuhơn. Saucùng, bảnchất ngônngữ vượtlêntrên mọi nhãngọi ápđặt lên nó.
Về tínhnguyênbản của khảocứu này, tácgiả khẳngđịnh rằng đâylà côngtrình do conngười biênsoạn, đặcbiệt trong bốicảnh nó được trìnhbày dướidạng một dựán nghiêncứu đang tiếnhành. AI chỉ được dùng như côngcụ để giámsát lỗi và hiệuđính ngônngữ bềmặt. Khôngcó trítuệ sángtạo và camkết họcthuật của đầuóc con, côngtrình này sẽ không, và khôngthể, tồntại. Ởđây tríchdẫn câunói của Descartes rấtưlà thíchhợp “Tôi nghĩ nên tôi hiệnhữu.” — “Je suis donc j’existe” (nguyênngữ Latinh “ego sum, ego existo”)
Cũng cần thừanhận sựhoàinghi của một số độcgiả đối với các côngtrình họcthuật chỉ xuấtbản trựctuyến, thường bị xemlà “giả”, và ngàynay lại cókhảnăng do AI tạora. Dù hìnhthức kỹthuậtsố mang lại lợithế về khảnăng tiếpcận và mởrộng, những longại về độtincậy và tínhbềnvững vẫnlà chínhđáng. Tácphẩm trựctuyến luôn cóthể bị sửađổi liêntục, và sựtồntại lâudài của chúng khônghề được đảmbảo. Qua thờigian, website hay trangmạng có thể biếnmất khỏi kếtquả tìmkiếm do không hoạtđộng, hoặc biếnmất hoàntoàn khi dịchvụ lưutrữ hếthạn hay tài khoản khôngcònđược duytrì.
Trong bốicảnh đó, quyếtđịnh côngbố trựctuyến từngphần của tácgiả vừa là tấtyếu, vừa là chủđích: chiasẻ pháthiện hoặc hiệuđính theo thờigian thực, đồngthời giữlại tiếngnói conngười đứng đằngsau côngtrình. Giátrị bềnvững của khảocứu này dođó không nằm ở hìnhthức, mà ở tínhđộcđáo của những nhậnđịnh và độ nghiêmtúc của phươngpháp.
Tàiliệu này nênđược xem như lời mởđầu cho ấnbản in sắptới. Trong lĩnhvực ngônngữhọc, không có kếtluận nào là tuyệtđối, và côngtrình này cũng không ngoại lệ, bấtkể sau cùng nó có được đóngthành sách hay không. Tácgiả cho rằng độcgiả thường có xuhướng chỉ đọc lớtphớt một côngtrình trựctuyến, khônggiốngnhư họ bỏtiềnra mua một đầu sách-in vì nó còn mang một giátrị giatăng.
Trên thựctế, tácgiả tiếpcận các tàiliệu thamkhảo trong thưmục với cùng sựtrântrọng, dẫu nhưđã nêutrước, thưmục vẫn chưa hoànchỉnh. Hàng trăm đầusách vẫncòn nằm imlìm trên giásách cánhân, nhưng chúng được sửdụng để tracứu thì vịtrí của chúng vẫn trịnhtrọng và có chủđích, tạothành bộ giàngiáo trithức nângđỡ toànbộ khảocứu này.
Bàinghiêncứu này chọn một hướng tiếpcận phi‑truyềnthống khi không dànhriêng một bàiviết để liệtkê toànbộ các quyluật biếnâm — tựnhiên hay cóđiềukiện — giữa Hán–Việt và các từvaymượn từ tiếngHán. Những khảocứu toàndiện nhưvậy, tiêubiểu là các côngtrình của GS Nguyễn Tài Cẩn về hệthống âm Hán‑Việt (1979, 2000, 2001), thườngđược kỳvọng trong các nghiêncứu có quymô tươngtự. Thayvàođó, độcgiả sẽ bắtgặp một bản tómlược các môhình âmvị, được minhhoạ qua vídụ và chúgiải ngắn. Tácgiả trọngtâm vào các tươngứng âm bấtquytắc hoặc đặcthù, chẳnghạn môhình ¶ /y‑ ~ b‑/: 由 “bởi”, 油 “béo”, 邮 “bưu”, 柚 “bưởi”, 游 “bơi”, tấtcả đều đọc /yóu/ trong Quanthoại. Một vídụ khác là 公母 (gōngmǔ), tươngứng với các cách nói tiếngViệt như “trốngmái”, “sốngmái”, hoặc “chồngvợ”.
Nếu vềsau côngtrình này được đánhgiá tốt, có giátrị họcthuật, các chuyêngia trong những lĩnhvực như phânloại và bảnghoá dữliệu từvựng cóthể đảmnhiệm việc xáclập các môhình biếnâm khảdĩ và xâydựng các quyluật tươngứng. Đâylà một côngviệc đòihỏi độ chitiết rấtcao, thậmchí phứctạp, vì các biếnâm phụthuộc tầnsuất thường xảyra đồngthời và mang tính bấtquytắc, chứ không tuânthủ hệthống đềuđặn như trong các ngônngữ Germanic. Dù hiệntượng này khônghiếm, mứcđộ bấtquytắc trong Hán‑Việt đặcbiệt nổi bật.
Những khiếmkhuyết là điều khó tránh trong một côngtrình vẫn còn đang được điềuchỉnh, và đôi khi các lỗi chínhtả vẫn có thể xuất hiện. Những phánxét vội vàng — kiểu mà tácgiả từng nhiềulần gánhchịu — thường dẫnđến những chỉtrích thiếu cơsở. Một vídụ tiêu biểu là phép sosánh thămdò giữa 將 jiāng và tiếngViệt “sẽ”. Một lỗinhỏ phát sinh từ việc xửlý dữliệu bấtcẩn đã khiến một diễnđàn ngônngữ học bácbỏ toàn bộ thảoluận là “không đángtin” và “giảtạo,” phần lớn vì tácgiả đã đồngnhất “nướctương” 醬油 jiāngyóu (‘soy sauce’) với “xìdầu” 豉油 chǐyóu (‘bean sauce’) trên cơsở rằng cả hai cùng thuộc một phạmtrù ngữnghĩa vì trong cách dùng tiếngViệt đều chỉ cùng một kháinệm. Trong những trườnghợp nhưvậy, độcgiả cóthể dễ bị cuốnvào việc suydiễn những quyluật biếnâm đặcbiệt — chẳnghạn ‘jiāng’ ~ ‘sẽ’ theo một môhình giảđịnh như /j‑ ~ s‑/ và /‑iang ~ ‑Ø/. Tuy nhiên, một sơsuất đơnlẻ dùgì cũng khôngthể làm mất giátrị của toànbộ quátrình khảosát các tươngứng ngữâm.
Những từnguyên nổibật đòihỏi phântích chitiết cóthể khó tránhkhỏi việc chiếm nhiều dunglượng. Các trườnghợp ngoạilệ hoặc bấtthường thường không dễ phânloại gọn-ghẻ và chothấy vìsao việc liệtkê các quyluật biếnâm cóthể trởnên cồngkềnh, đôikhi còn cần những nghiêncứu độclập. Chẳnghạnnhư:
- 公 gōng (SV công) → VS (1) công, (2) trống, (3) cồ, (4) cụ, (5) chung, (6) ông
- 公母 gōngmǔ (SV côngmẫu) → VS (1) chồngvợ, (2) vợchồng, (3) sốngmái, (4) trốngmái
- 翁 wēng (SV ông) → VS (1) ông, (2) Ung, (3) lông
- 螉 wēng (SV ông) → VS (1) ông, (2) ong
- 蜂 fēng (SV phong) → VS (1) phong, (2) ong
- 風 fēng (SV phong) → VS (1) phong, (2) giọng, (3) giông, (4) gió, (5) dông
Những từnguyên nổibật đòihỏi phântích chitiết cóthể chiếmlấy nhiều dunglượng. Các trườnghợp ngoạilệ hoặc bấtthường thường khôngdễ phânloại và chothấy vìsao việc liệtkê toànbộ quyluật biếnâm cóthể trởnên cồngkềnh, thậmchí cần một nghiêncứu độclập. Những bấtquytắc này, vốn khôngthể kháiquáthoá cho các trường âmvị tươngtự, đòihỏi sựcânnhắc cẩntrọng. Mụctiêu là trangbị cho độcgiả khảnăng diễngiải tinhtế này theo các khung ngônngữhọc truyềnthống, hoặc khámphá các môhình mới qua những phươngpháp linhhoạt. Saucùng, điều này nhấnmạnh tính giảđịnh của ngônngữhọc lịchsử và biênđộ diễngiải rộngrãi trong việc phụcnguyên từnguyên.
Thayvì trìnhbày những bảng quyluật biếnâm máymóc, thường bị bỏqua hoặc khôngđược đọc, côngtrình này ưutiên các nghiêncứu trườnghợp và vídụ trọngđiểm. Chúng sẽ làmsángtỏ các tiếntrình dẫnđến những kếtluận về từnguyên Hán‑Việt. Bằngcách vượtrangoài những tươngứng quenthuộc, độcgiả được mờigọi bướcvào thếgiới biếnđổi ngữâm phứctạp và rènluyện khảnăng tự rútra quyluật chung cho nhiều trườnghợp khác.
Dù tínhquyluật chiphối phầnlớn các biếnđổi âmvị, khảocứu này nhấnmạnh các vídụ liênquan đến những hìnhthức và biếnthể âmvị của từ Hán, nhiều trongsốđó đã thấmvào tiếngViệt từ thờicổ. Sự thấmnhập này trảidài qua nhiều giaiđoạn lịchsử, điểm đángchúýnhất là thiênniênkỷ sau năm 111 TCN, khi vùng Annam nằm dưới sựcaitrị của Trungquốc chođếnkhi giành độclập năm 939. Trong cuộcxâmlăng của nhà Minh năm 1410, tiếng Quanthoại tạmthời táixuất như ngônngữ chínhthức, đóngvaitrò quantrọng trong giaotiếp ngoạigiao và hànhchính với triềuđình Trunghoa.
Vềmặt ngữâm, có những trườnghợp biếnđổi âmthanh đã làm nẩysinh nhiều biếnthể tiếngViệt khácnhau từ cùng một từnguyên. Tươngtự, ta cũng thấy những trườnghợp nhưvậy trong tiếngNhật qua các cáchđọc Kanji và Go‑on của từng chữHán. Lấy thídụ chữ 道 dào (‘Đạo’) chẳnghạn. Trong tiếngViệt, ta cóthể nhậnra nhiều “cáchđọc” khácnhau của cùng mộ chữ biếnthành từ và biểuđạt nhiều ýniệm khácnhau, và thúvị thay, phầnlớn trongsố đó tươngứng với trườngnghĩa của chữHán gốc. Chẳnghạn:
- “đạo” (mang ýnghĩa đường, đạo, tôngphái, luânlý, kỹnăng, tuyến),
- “dạo” (lần, lượt),
- “đường” (đường, tuyến),
- “nẽo” (lối),
- “nói” (nói),
- “bảo” (bảo, dặn),
- “tưởng” (nghĩ, chorằng), vânvân.
Mỗi từ tiếngViệt này cóvẻ như một bảndịch của chữHán, nhưng khôngnhấtthiết là nhưvậy. Thựctế, mỗi dạng Hán‑Việt tựphát này là một biếnthể từnguyên đồnggốc, cùng bắtnguồn từ một từnguyên Hán duynhất: 道 dào. Hiệntượng này sẽ dễhiểu hơnnhiều nếu các chữNôm dựatrên Hán tự vẫn còn được dùng rộngrãi trong vănbản tiếngViệt. Đángtiếc, điềunày khôngphải lúcnào cũng xảyra, nhấtlà khi các âmtiết Quanthoại hiệnđại ngắn hơnnhiều sovới âmtiết Hán-Trungcổ.
Các quyluật biếnđổi ngữâm được minhhoạ trong bàinghiêncứu này khôngnhằm mụcđích toàndiện hay trởthành tàiliệu thamkhảo cuốicùng. Vì côngtrình vẫncòn đang tiếptục, được hiệuchỉnh và bổsung thườngxuyên, với dựđịnh sẽ có ấnbản in đầutiên dànhcho mộtsố trường đạihọc — lýtưởngnhất là những nơi có cộngđồng ngônngữhọc lịchsử đang hoạtđộng. Các phươngpháp được trìnhbày ởđây có tính thămdò và gợiý hơnlà kếtluận, dù những nguyêntắc nềntảng của chúng vẫn được giữnguyên trừkhi có sửađổi rõràng.
Vì tínhchất tiếndiễn của côngtrình, các phươngpháp được trìnhbày nên được hiểunhư những môhình thựctiễn — những vídụ về cách tácgiả đã ápdụng hai khung từnguyên mới để tạora những kếtquả sơbộ. Độcgiả sẽ thấyrõ quátrình khảocứu nhằm nhậndiện các từ tiếngViệt có gốcHán (Hán‑Nôm — Sinitic-Vietnamese), và từđó cóthể tựtin ápdụng lại quytrình này.
Những phươngpháp mới này đã tỏra hiệuquả trong việc truytìm từnguyên Hán‑Việt và xâydựng các quyluật biếnâm tạmthời, theodõi các biếnđổi giữa các dạng, hoặc xácđịnh “cáigì biếnthành cáigì”. Chẳnghạn, cáchtiếpcận này chínhlà cơsở cho phântích chữ ‘道 dào’ nêutrên. Độcgiả sẽcó cơhội ápdụng các kỹnăng này trong những bàiviết khác của cùng tácgiả, đặcbiệt qua các bàitập. Họ cũng sẽ gặp một tậphợp chọnlọc các từnguyên Hán‑Việt, một phầnnhỏ nhưng cóýnghĩa trong kếtquả tổngthể của côngtrình.
Cần thậntrọng khi giảithích các từ vaymượn trong những vídụ được nêura. Nói chung, nếu một từ Việt giống từ Hán cả về âmthanh lẫn ngữnghĩa, nhiều khảnăng đólà một từvaynượn trựctiếp. Nhậnra những trườnghợp nhưvậy là điều thiếtyếu để phânbiệt từnguyên ditruyền với từvaymượn, và để giữ độchínhxác trong suốt côngtrình.
Dù sựtươngđồng ngônngữ giữa tiếngViệt và tiếngHán sẽđược bàn sâuhơn trong các chương sau, cũng nên nêura ởđây rằng các tươngđồng về cấutrúc và từvựng giữa hai ngônngữ này gầngũi hơnnhiều sovới tươngquan giữa tiếngHán và phầnlớn các ngônngữ Hán‑Tạng khác. Thuậtngữ Sinitic-Vietnamese (VS), hay Hán-Nôm (漢喃), baogồm cả tầng Hán và Nôm, đượcdùng đểchỉ các từ tiếngViệt có gốcHán hoặc các từ đồnggốc giữa hai ngônngữ cùng bắtnguồn từ một tổtiên chung. Thídụ: “sông” 江 (jiāng, ‘river’), “ngà” 牙 (yá, ‘tusk’), “dừa” 椰 (yē, ‘coconut’).
Trongsố các đặctrưng chung, vượtlên trên các tươngứng hìnhthái‑ngữâm và nghĩangữ, hầunhư mọi đặctrưng ngônngữ có trong tiếngHán đềucó một tươngứng trong Hán‑Việt. Những đặctrưng này thấmsâu đếnmức thường bị hiểunhầm là từViệt bảnđịa hoặc đượcxemlà “thuầnViệt”. Mộtsố là biếnthể bán‑Hán‑Việt, đặcbiệt những từ được ghi bằng chữNôm có thànhphần Hán.
Với các từnguyên Hán‑Việt được khảocứu ởđây và được xácđịnh là có gốcHán, những kếtluận này dựatrên sựtươngứng toàndiện với các đặctrưng ngônngữ Hán: cấutrúc âmtiết và hìnhtố, đặctrưng ngữâm và nghĩangữ, tươngứng cúpháp và từvựng, hệthống thanhđiệu, môhình âmtiết CVC (Consonant + Vowel + Consonant), và cấutrúc ngữpháp trong câu.
Một từ tiếngViệt cànggiống tiếngHán, khảnăng nó là từvaymượn càngcao. Tuyvậy, côngtrình này cũng đặt câuhỏi liệu sựgiốngnhau có nhấtthiết đồngnghĩa với vaymượn hay không. Chẳnghạn, tiếngViệt “tếu” (‘khôihài’) cóthể được giảđịnh là vaymượn từ 笑 xiào (HV “tiếu”), vốn đồnggốc với HN “cười”. Nhưng “tếu” cũng cóthể đồnggốc với 逗 dòu /tow⁴/ (‘trêu’), HV “đậu” /ɗɐw⁶/, trongđó âm hữuthanh /ɗ‑/ phảnánh một pháttriển cổhơn, còn âm vôthanh /t‑/ là pháttriển muộnmàng. Từ này cóthể đã được táidunhập vào tiếngViệt Trungđại qua tiếng Quanthoại khẩungữ, cólẽ trong thời Triều nhàMinh. Độcgiả cóthể sosánh cáchdùng hiệnđại của 逗 trong tiếngHán với cách nó xuấthiện trong vănhọc cổ như Hồnglâumộng (紅樓夢 Hónglóumèng).
Với những kếtquả được trìnhbày trong chương Hán‑Tạng, baogồm các tươngđồng ditruyền thểhiện qua những đặctrưng ngônngữ chung và các từnguyên đồnggốc, việc xemxét tiếngViệt như một thànhviên của họ Hán‑Tạng trởnên ngàycàng đángtin. Việc táiphânloại này cóthể được thựchiện qua các phươngpháp được nêura trong côngtrình, vốn mởrộng và đổimới phạmvi khảocứu. Chúng cóthể được ápdụng songhành với các côngcụ của ngônngữhọc lịchsử tiếngHán, mởra những gócnhìn mới về từnguyên tiếngViệt trong các lĩnhvực như nhânchủnghọc hay nhânsinhhọc, khảocổ và lịchsử, đặcbiệt liênquan đến nguồngốc và cấutrúc sinhhọc của ngườiViệt và quốcgia của họ. Tiềnđề nềntảng là: các cộngđồng có chung tổtiên thường nói những ngônngữ biếnthể của cùng một gốc.
Trong suốt bàinghiêncứu, mỗi từnguyên đều được kèmtheo chữHán và phiênâm pinyin (拼音, HV ‘bínhâm’, HN ‘phiênâm’) để tiện nhậndiện âmthanh. Trong nhiều trườnghợp, chỉ cần pinyin là đủ và ít gây rốimắt hơn chữHán, nhấtlà khi chữ đó thuộc loại “giảtá” (假借) hay “từvaymượn”, buộc ngườiđọc phải giảimã các tínhiệu ngữâm ẩn trong cấutrúc chữ. “Từvaymượn” là chữHán được mượn thuầntuý vì giátrị ngữâm, rồi được dùng để ghi một nghĩa khác. Chẳnghạn, tiếngViệt “lại” 來 (lái, ‘đến’) cóthể từng liênquan đến “lúa” (‘lúa’, ‘kê’, ‘ngũcốc’). Nếu các từvaymượn chỉ được ghi bằng Pinyin, chúng cóthể trông giốngnhư các cặp đồngâm của tiếngAnh, thídụ, ‘yard’, ‘glass’, ‘page’, ‘lie’, cóthể nói tươngđương với các tư đanghĩa trong tiếngViệt nhưlà sân, gương, trang, nằm (nhưtrong sânchơi, tấmgương, trangnhà, nằmbựa.)
Pinyin — hệthống phiênâm chínhthức của Trungquốc dùng để kýâm Quanthoại (普通話 Pŭtōnghuà, ‘quốcngữ’) — đãđược sửdụng rộngrãi trên thếgiới, kể cả tại Đàiloan, nơi nó bắtđầu được tíchhợp gần bamươi năm trước.
Để kýâm chínhxác, côngtrình này chủyếu dùng Bảng Kýhiệu Phiênâm Quốc tế (IPA – International Phonetic Alphabets). Các kýhiệu IPA được dùngđể ghi các cáchphátâm phươngngữ và cổđại, cũngnhư các giátrị ngữâm chínhxác, đặt trong ngoặcvuông [“xxx”], đốilập với các giátrị âmvị gầnđúng đặt trong ngoặcxiên “/xxx/”. Sựphânbiệt này giúp làmrõ những ngữâm tinhvi trong các từnguyên được tríchdẫn.
Thídụ:
- “dung” [juŋʷ1], [jowŋʷ1], [zʊŋʷ1] /zowng1/ (khôngphải [duŋ1])
- “thìn” [t’ɨjn2], /tʰɤjn2/, /tʰɨn2/, /tʰejn2/ (khôngphải [thin2])
- “thu” [t’ʊ1], /thow1/, /tʰʊ1/ (không chínhxác là [thu:1] /thu:1/)
Những phânbiệt này đặcbiệt quantrọng trong các trườnghợp có nguyênâmđôi, nơi phântích sosánh phụthuộc vào việc nắmbắt các biếnthể âmvị tinhvi. Chẳnghạn:
- “tin” [tin1], /tin1/, /tɪn1/ (khôngphải [tɤjn1] /tein1/) (7)
Để tinhgiản cách trìnhbày kiểuchữ, các kýhiệu ngữâm cóthể được thểhiện dưới dạng rútgọn như [-ow-] và [-ejn], hoặc dưới dạng /-ou-/ và /-ein/, trong những trườnghợp giátrị âmthanh đã rõràng và không gây nhầmlẫn theo ngữcảnh. Quyước này sẽđược ápdụng nhấtquán trong các môitrường ngữâm khác, kèmtheo ghichú và vídụ bổsung xuyênsuốt vănbản nhằm đảm bảo tính minh bạch và liêntục.
Trong nhiều trườnghợp, kýâm IPA phảnánh chínhxác hơn các giátrị ngữâm tiếngViệt — đặcbiệt khi sosánh với các đốiứng chữHán — sovới pinyin thôngthường. Chẳnghạn:
- Pinyin d tươngứng với [t]
- Pinyin t tươngứng với [tʰ] hoặc /th/
- Pinyin r tươngứng với /j/
- Pinyin gu và ku được phátâm là [ku] và [kʰu], chứ khôngphải [gu] và [ku]
Cách kýâm này tươngtự phươngpháp của Pulleyblank (1984) trong phụcnguyên âm Háncổ (Old Chinese, OC), nơi ông khảosát các giátrị ngữâm được ghichép mơhồ trong thưtịch và văncổ.
Để tránh rốirắm về kiểuchữ và nhầmlẫn với các dấuphụ IPA, các số thanhđiệu (từ 1 đến 9) sẽ được ghépvào mỗi dạng ngữâm. Những con ố này biểuthị các thanhloại trong nhiều phươngngữ Hán khácnhau — như Quảngchâu (Cantonese), Phúckiến (Hokkien, Fuzhou, Amoy), Triềuchâu (Teochew), Hảinam — cũngnhư trong các ngônngữ khuvực khác như Dai (Tày), Thái và tiếngViệt. Hệthống này đảmbảo độ chínhxác ngữâm và khảnăng sosánh ngônngữ bàcon.
Các kýhiệu số thanhđiệu vốnđược dùng phổbiến trong phiênâm tiếng Quảngđông, Phúckiến và nhiều phươngngữ Hán khác để biểuthị đườngnét caođộ và thanhloại. Đốivới tiếngViệt, thanhđiệu được ghitheo hệthống tám thanhđiệu truyềnthống — chínhxác hơn là sáu hoặc bốn thanhloại, mỗi loại chia thành thanhnặng và thanhnổi. Cấutrúc này dựatrên các sách âmvận cổđiển như Quảngvận (Guǎngyùn 廣韻), Chinese của Jerry Norman (1988, tr. 55), và các côngtrình nềntảng của Việtngữhọc, đặcbiệt là giáotrình Nguồngốc và Quátrình Hìnhthành Cáchđọc Âm Hán‑Việt của Nguyễn Tài Cẩn (1979, 2001).
Các loại thanhđiệu được phânra nhưsau:
| 1 | — | 3 | ʔ | 5 | ´ | 7 | ´ -p, -t, -c, -ch |
| 2 | ` | 4 | ~ | 6 | . | 8 | . -p, -t, -c, -ch |
Việc dùng sốthanh sẽ được hạnchế và chỉ ápdụng khi cầnthiết để tránh hiểulầm giữa các phươngngữ Hán. Giátrị thanhđiệu ứngvới cùng một consố cóthể khácnhau đángkể giữa các phươngngữ. Chẳnghạn, bốn thanh Quanthoại (1, 2, 3, 4) khác rõrệt sovới bốn thanh Quảngđông (1, 2, 3, 4) như được ghinhận trong Wang Li et al. (1953), và lạicàng khácxa hệthống thanh tiếngViệt.
Để duytrì sựrõràng trong kýâm tiếngViệt, các dấuthanh hiệnđại sẽlà hệthống chính, dùng songsong với IPA, chẳnghạn [à], [ả], [ã], [á], vânvân, trừphi việc này sẽ gây nhầmlẫn với giátrị IPA (như /ã/ tỵhóa). Để diễngiải thanhđiệu chínhxác, độcgiả cóthể thamkhảo dấuthanh Quốcngữ đốivới tiếngViệt hoặc dấu thanh pinyin đốivới Quanthoại (ā, á, ǎ, à, a), vốn biểuthị các đườngnét thanh khácnhau dù hìnhthức có phần tươngtự.
Trong một số trườnghợp, dấuthanh sẽ được cốý lượcbỏ. Điều này phảnánh quanđiểm của tácgiả rằng thanhđiệu trong nhiều dạng Hán‑Việt và Hán-Nôm, cũngnhư trong các phươngngữ Hán, đã trảiqua những biếnđổi lịchsử sâurộng. Những biếnthiên này — thường man tính chukỳ và khó dựđoán — khôngcó quyluật phụcnguyên ổnđịnh. Đôikhi, thanhđiệu thậmchí cóthể quaytrởlại đườngnét nguyênthủy như khi từvựng được tiếpthu vào tiếngViệt. Tínhlinhđộng của thanhđiệu được ghinhận rộngrãi trong ngữâmhọc lịchsử tiếngHán, cùngvới các biếnđổi hệthống khác như thayđổi phụâmđầu và phụâmcuối (xem Chao Yuen‑Ren, Tone and Intonation in Chinese, 1933, tr. 119–134).
Về mặt âmvị, các phụâmđầu và âmđệm bánnguyênâm, tiếngViệt thểhiện nhiều giátrị cấuâm khôngphải lúcnào cũngđược phảnánh rõ trong chữviết. Chẳnghạn:
- b‑ → [ɓ]
- d‑ → [ɗ]
- ch‑ → [ʨ]
- kh‑ → [kʰ]
- ph‑ → [pf]
- r‑ → [ʐ]
- th‑ → [tʰ]
- tr‑ → [ʈ]
- nh‑ → [ɲ] (đôikhi được ghithành /ɲ‑/, /nj‑/, /-jn/, hoặc /nh‑/ tuỳtheo ngữcảnh trìnhbày.)
Tươngtự, các cụm nguyênâm như /‑uy/, /-ia/ và /‑iê /được kýâm IPA chínhxác hơn dưới dạng [-wej] [-iə], và [-je], thay vì [-wi] , [-ia], và [-ie], phảnánh giátrị ngữâm thựctế thayvì dạng chữviết. Chínhtả tiếngViệt thường chekhuất những khácbiệt này, đặcbiệt trong môitrường phụâmcuối. (4)
Để đảmbảo tính rõràng và nhấtquán, các phụâmcuối sẽ được kýâm theo IPA như sau:
- ‑p → [p]
- ‑t → [t]
- ‑ch → [jt]
- ‑c → [k]
- ‑nh → [jŋ]
Trong các trườnghợp có hiệntượng môivòmhóa (labiovelar) — đặcbiệt khi đứngsau nguyênâm trònmôi (o‑, ɔ‑) hoặc âmđệm /‑w‑/ — các dạng kýâm sau sẽ đượcdùng:
- [‑kʷ] → ‑kw, ‑wk, hoặc ‑kʷ
- [‑ŋʷ] → ‑wŋ, ‑ŋw, hoặc ‑ŋʷ
Âmmũingạc sau /ng/ sẽ được kýâm là [ŋ] hoặc [ng] tuỳtheo môitrường ngữâm và yêucầu trìnhbày. Những quyước này sẽ được ápdụng nhấtquán xuyênsuốt vănbản nhằm duytrì độchínhxác ngữâm và sự mạchlạc biêntập.
Các bàivở tiếptheo sẽ triểnkhai chitiết các yếutố nêutrên và mởrộng từng vídụ qua hìnhthức đaâmtiết giữa chữHán, pinyin và tiếngViệt. Baogồm:
- các đốiứng chitiết với vần và loại thanhđiệu Hán-Trungcổ
- các lớp vaymượn theo trìnhtự thờigian
- các chỉdấu chẩnđoán của tầngnền Việt‑Yue
- một bảngtừ đaâmtiết toàndiện, sắpxếp theo chữHán, dạng pinyin và đốiứng tiếngViệt,
Mụctiêu tổngthể là xâydựng một bản tổnghợp sẵnsàng xuấnbản, nghiêmtúc về phươngpháp, chínhxác về thuậtngữ qua cách trìnhbày kiểuchữ, và minh bạch hoàntoàn trong các luậnđiểm phântích.
Kếtluận
Trong bốicảnh những thảo luận ngàycàng sâu rộng về bảnchất và lịchtrình hìnhthành của tiếngViệt, điều quantrọng nhất không phải là khẳngđịnh một môhình duynhất, mà là mởra một ýthức mới về cách ta tiếpcận nguồngốc ngônngữ của chínhmình. Những bằngchứng so sánh giữa các tầng Thái‑Việt, TiềnTạng và Hánngữ cho thấy tiếngViệt không hề là một thựcthể côlập, mà là kếtquả của nhiều thếkỷ hoàkết, vaymượn, tiếpbiến và sángtạo. Nhậnthức này không làm giảm đi tínhđặcthù của tiếngViệt; trái lại, nó giúp ta nhìn rõ hơn cấutrúc laihoá phongphú đã nuôidưỡng ngônngữ này qua từng thờiđại.
Ýthức mới ấy cũng đòihỏi ta phải vượt khỏi những khungphânloại cứngnhắc vốn chỉ phảnánh một látcắt của lịch sử. Khi đặt tiếngViệt vào phổ Hán‑Tạng rộnglớn hơn, ta có thể thấy rõ những đườngchỉ tiếnhoá mà trướcđây bị chekhuất bởi các giảđịnh có sẵn. Điều này mởra cơhội táiđịnhvị tiếngViệt không chỉ như một ngônngữ vùng, mà như một trườnghợp điểnhình của sự giaothoa ngữtộc trong ĐôngNamÁ lụcđịa.
Sau cùng, mụcđích của nghiêncứu này không phải là đónglại một tranhluận, mà là khuyếnkhích một hướng nhìn mới: một tháiđộ sẵnsàng xem tiếngViệt như một hệthống động, luôn biếnhoá, luôn tiếpnhận và luôn sángtạo. Chỉ khi chấpnhận tínhđa tầng và đa nguồn ấy, ta mới có thể hiểu sâu hơn cănđể của tiếngViệt, và từ đó, mởra những khảthể mới cho việc nghiêncứu, giảngdạy và nuôidưỡng bảnsắc ngônngữ của chínhchúngta.
Phụlục
Các quyước và từ viếttắc
Tổngthể mà nói, côngviệc truytầm từnguyên Hán‑Việt nên đượcxemnhư côngviệc dịchthuật. Điều ta thựcsự tìmhiểu khôngphảilà bảng đốichiếu từngtừ một, mà là những ýniệm tươngđương. Nóicáchkhác, một chữ Hán xuấthiện trong một từ tiếngViệt cóthể đồngthời đóngvaitrò như một thânâm trong những cấutrúc từvựng khác của tiếngViệt; vìthế, nó chính là từcăn Hán của những từ tiếngViệt ấy, bấtkể tầnsuất xuấthiện của nó.
Chẳnghạn, 順 shùn (SV thuận) trong 順便 shùnbiàn (sẵntiện, luôntiện) hiểnnhiên là từcăn của cả sẵn lẫn luôn, trong khi 順 trong 順利 shùnlì (suônsẻ) và 孝順 xiàoshùn (hiếuthảo) lại làm phátsinh thêm suôn và thảo.
Nếu ta tự giớihạn mình vào môhình một‑đốimột, ta sẽ tự làmhẹp khảnăng truytầm vôsố từ tiếngViệt có nguồngốc Hán nhưng xuấthiện dưới nhiều dạngthức và hoáthân khác nhau. Vìvậy, đừng quá cứngnhắc mà cứ khăngkhăng xem 成 chéng (SV thành) là nguyêncăn duy nhất của sẵn, bởi làmthế ta sẽ bỏsót 成 chéng với nghĩa xong.
Trong quátrình liệtkê từnguyên cho mỗi đơnvị từvựng, mộtsố quyước được sửdụng nhằm củngcố lậpluận về tính khảdĩ của chúng. Dướiđây là những chữ viếttắc và kýhiệu thườngđượcdùngnhất.
- Viet., hay tiếngViệt, hay Vietnamese, chỉrằng một từ được dẫn có khả năng chỉ xuấthiện trong cáchdùng của tiếngViệt. Nó cóthể chỉ giớihạn ở mứcđộ tươngđương về nghĩa với tiếngQuanthoại mà khôngcó mốiliênhệ từnguyên hay ngữâm trựctiếp nào được chứngminh, thídụ em so với 弟 dì (đệ), 妹 mēi (muội), v.v. Tuynhiên, trong phầnlớn trườnghợp, sựtươngđương ấy cũng cóthể được cấutrúc bằng chấtliệu Hán; chẳnghạn em (阿妹 āmèi) hay ôngnội (内公 nèigōng, dạng sau cũng đượcdùng trong tiếng Phúckiến và có khảnăng từng đượcdùng trong thờicổ songhành với ôngngoại 外公 wàigōng) thaycho cáchgọi Quanthoại hiệnđại 爺爺 yéye (giagia).
- (HV xxxx), trong ngoặcđơn, chỉ âm HánViệt của một từ đangđược khảosát. Âm này là một biếnthể trựctiếp và đượcxemlà rấtgần với cáchphátâm của Hán-Trungcổ hay Quanthoại đời Đường. Trong tiếngViệt hiệnđại, một sốlượng lớn từ HánViệt vẫncòn đượcdùng mộtcách tíchcực. Ngoặcđơn cũng đượcdùng để mởrộng phần giảithích hay chúgiải. Những mụctừ chỉ xuấthiện với âm HánViệt cónghĩalà chúng khôngcần giảithích thêm, vì hiểnnhiên chúng có nguồngốc từ tiếngHán, đặcbiệt là từ Hán-Trungcổ. Trong nghiêncứu này, Hán-Nôm (HN) là từ tiếngViệt có nguồngốc Hán nhưng trông giốngnhư từ bảnđịa, baogồm cả những từ HánViệt.
- [xxxx], ngoặcvuông chứa bên trong toànbộ phần giảithích và diễngiải về cách các từ đượcdẫn trong tiếngViệt và tiếngHán có quanhệ đồngnguyên hay liênhệ từnguyên.
- Vh, hay Việthoá, nghĩa là bảnđịahoá và táitạo từvựng. Quátrình này cóthể đã hìnhthành từ thờicổ hoặc vẫncòn đang tiếptục diễnra. Bắtđầu từ một từ vaymượn gốc Hán, ngườiViệt bảnđịa cóthể mạnhmẽ biếnâm, thaythế, đadạnghoá, nhấn trọngâm, hay nóingắngọn là “Việthoá” nó; chẳnghạn 心 xīn (SV tâm) pháttriển thành tim, lòng, hay 粉 fén (phấn) thành bột, bún, phở, bụi, v.v., trong khi ở những trườnghợp khác ta lại tìmthấy những biếnthể đồngnguyên khác của chính những từ ấy.
- hđ., hay hiệnđại (現代 xiàndài). Kýhiệu này cho biết từ tiếngViệt đượcdẫn hiệnnay đangdùng có quanhệ từnguyên khá khácvới tiếngQuanthoại hiệnđại; tuyvậy, từ ấy vẫn cóthể được cấutrúc từ chấtliệu Hán.
- @ chỉ liênhệ từvựng. Đây là quátrình một từ gốc Hán được đồnghoá với một từ tiếngViệt có âm hoặc nghĩa, hoặc cảhai, tươngtự; chẳnghạn mắtkính, mắtkiếng 目鏡 mùjìng (SV mụckính = Hảinam /matkeŋ/) thaycho 眼鏡 yǎnjìng (SV nhãnkính), hay casĩ 歌士 gēshì thaycho 歌手 gēshǒu (SV cathủ) hoặc 歌星 gēxīng (catinh), v.v.
- & chobiết từ đượcdẫn được hìnhthành bằngcách kếthợp hai hoặc ba hay hơn bằng chữ Hán, và toànbộ từ ấy về từnguyên khôngliênquan đến dạng Quanthoại được đốichiếu; tuyvậy, từ tiếngViệt đó vẫn cóthể được cấutrúc phầnlớn từ chấtliệu Hán.
- # nghĩa là ‘nghịchđảo’ (metathesis). Về mặt từvựng, trừ mộtvài ngoạilệ, phầnlớn các từghép và từ đaâmtiết tiếngViệt hiệnđại được hìnhthành từ yếutố Hán đềucó thứtự âmtiết và hìnhtố đảongược sovới các từ tươngđương trong tiếngHán. Một số từ đãđược táitạo và ýnghĩa gốc cóthể đã thayđổi đángkể đếnmức khó nhậnra, trongkhi phầnlớn các từ phátsinh chỉ thayđổi nhẹ về sắcthái liênhệ. Nghĩalà từ tiếngViệt đượcdẫn, tuy có cùng từnguyên với từ Hán tươngứng, chỉ xuấthiện dưới dạng nghịchđảo thứtự. Hiệntượng này xảyra để phùhợp với thóiquen ngônngữ bảnđịa, trongđó, về mặt ngữnghĩa, trong một từ đaâm, thânâm thường đứngtrước thànhtố bổnghĩa của nó. Trong nhiều trườnghợp, việc thayđổi vịtrí này khá dễ nhậnra; chẳnghạn thiệtsự có nguồngốc từ 事實 shìshí (SV sựthật) vì trong tiếngHán quảthực tồntại 實事 shíshì (SV thựcsự). Tuynhiên, trong nhiều trườnghợp khác, dạng đảo thứtự trong tiếngViệt rấtkhó đốichiếu với gốc Hán đaâm nếu khôngcó sựkhảosát kỹlưỡng kèmtheo mứcđộ phỏngđoán và diễngiải rộngrãi.
- QT viếttắc cho Quanthoại, còn đượcgọilà Quanhoả, nghĩa là “[ngônngữ] nhàquan”, một cáchgọi tiếngViệt thôngdụng đểchỉ tiếng Quanthoại hiệnđại. Quanthoại pháttriển tươngđối muộn, cólẽ hìnhthành vào khoảng thếkỷ 11, vào cuốiđời Tống, từ một thứ khẩungữ miềnBắc TrungQuốc, phầnnào giốngvới phươngngữ Bắckinh ngàynay. Quanthoại đượcchọn làm dạng đốichiếu ởđây vì hiệnnay nó đượcxemnhư đạidiện cho hệthốngâm hiệnđại của các phươngngữ TrungQuốc. Nó được sửdụng rộngrãi và quenthuộc với mọi nhànghiêncứu Hoangữ cũngnhư độcgiả quantâm. Tuyvậy, chỉ mộtphần các từ từnguyên tiếngViệt có nguồngốc Hán là đượcdẫn xuấtphát trựctiếp từ Quanthoại. Vềmặt từnguyên, tiếngViệt đã pháttriển trựctiếp từ cả Háncổ và Hán-Trungcổ; trongđó Hán-Trungcổ lại có nguồngốc trựctiếp từ Háncổ (còngọilà CổHánngữ). Cảhai dạng Háncổ này đã đónggóp một sốlượng rấtlớn vào vốn từvựng tiếngViệt ngàynay. Nhờvậy, ta cóthể lần theo lộtrình tiếnhoá của từnguyên Trung–Việt dựatrên các tưliệu vănhiến Háncổ.
- \ chobiếtrằng một từ tiếngViệt đượcxem là có nguồngốc Hán chỉ xảyra dưới điềukiện đặcbiệt được nêura ngaysauđó.
- VHh, hay ViệtHánhoá, nghĩalà từ tiếngViệt đượcdẫn đãđược đồnghoá hoặc liênhệ với một từ HánViệt khác có âm và nghĩa tươngtự; và bảnthân các từ ấy trong tiếngHán cóthể vốnđã là những từ đồngnguyên hay cùng nguồngốc.
- Nh, hay Nômhoá, chỉrằng một từ tiếngViệt đượcdẫn đã được “Việthoá” hoàntoàn, hoặc được cấutrúc bằng những yếutố tiếngViệt đã biếndạng về mặt từvựng, khôngcòn liênquan từnguyên với dạng tiếngHán được đốichiếu.
- < nghĩalà “phátsinh từ” hoặc “có nguồngốc từ”.
- ~ nghĩalà “làm phátsinh”, “chora”, hoặc “một biếnthể của”.
- = nghĩalà “tươngđương với”, “bằngvới”.
- MC nghĩalà Hán‑Trungcổ. Âm phụcnguyên này gần giống nhất với âm HánViệt ngàynay, và chính HánViệt lại pháttriển trựctiếp từ Hán‑Trungcổ.
- OC nghĩalà Háncổ, cũng gọi là Cổ-Hánngữ. Đâylà âm phụcnguyên của cách phátâm một chữ Hán trong thờicổ, chủyếu vào giaiđoạn Tần–Hán, hơn 2000 năm trước. Các phụcnguyên Háncổ đượcdùng trong nghiêncứu này đếntừ nhiều nguồn khácnhau của các nhàHánhọc nổitiếng.
- PC nghĩalà Tiền‑Hán (Proto‑Chinese). Âm phụcnguyên này, dựatrên nhiều côngtrình ngônngữ lịchsử sosánh, đượccholà dạng âm mà từ đượcdẫn cóthể đã mang trong thờicổ. Côngviệc phụcnguyên này chủyếu do các chuyêngia Hán‑Tạng thựchiện dựatrên các nghiêncứu ngữâm lịchsử sosánh của những họ ngônngữ Tạng‑Miến có liênhệ.
- \* hoặc \** chỉ các giátrị âm phụcnguyên tươngđối của Háncổ hoặc Tiền‑Hán (Proto‑Chinese). Trong mọi trườnghợp, vì có nhiều phiênbản phụcnguyên khácnhau cho cùng một chữ Hán, các âm này khôngnên đượcxemlà tuyệtđối chínhxác, do chữ ấy cóthể đã được phátâm khácnhau tuỳ thờikỳ và vùngđịa. Tuyvậy, phầnlớn các phụcnguyên cổ do nhiều họcgiả khácnhau đềxuất đều khá gầnnhau vềmặt ngữâm theo cáchnàyhaycáchkhác.
- | là dấu phâncách, dùng để tách các phần trong chuỗi liệtkê từnguyên bên trong ngoặc.
- |P, hoặc ¶, chỉ các mẫuhình biếnđổi âm thườnggặp ở những từ có quanhệ ngữâm tươngtự.
- §, ss là kýhiệu cho sosánh (cf.). Một từ được đưara để sosánh cóthể có nét tươngđồng về nghĩa hoặc âm với những từ đượcdẫn trướcđó.
- td. viếttắc của thídụ. Các thídụ về cáchdùng từ được đưara để minhhoạ cách một từ đượcdẫn đượcdùng trong các cốđịnhngữ, cụmtừ, hoặc câu trong tiếng Quanthoại hiệnđại nhằm thểhiện nghĩa tươngứng trong tiếngViệt và tiếngHán.
- tl., viết tắt của từláy, nghĩalà “từláy”, trongđó một hoặc cảhai âmtiết / hìnhtố của từ là dạngláy củanhau. Đáng chúý là một hoặc cảhai hìnhtố cóthể không còn giữnguyên âmgốc hoặc nghĩagốc khi tạothành từ mới; chẳnghạn 連綿辭 liánmiǎncí (SV liênmiêntừ) phátsinh ra từlấpláy ~> từláy.
- x., hay xem, nghĩalà “see” trong tiếng Anh. Nó yêucầu ngườiđọc tracứu thêm ở những từ liênquan, nơi phần liệtkê từnguyên đãđược lượcbỏ vì đượcxem là hiểnnhiên hoặc đãđược trìnhbày đầyđủ ở nơikhác.
GHICHÚ:
Dựán này và Từđiển Từnguyên Hán–Việt vẫncòn ở dạng thửnghiệm và đang trong quátrình pháttriển. Dựán gồm ba giaiđoạn, và côngviệc hiệnnay đang ở giaiđoạn thứnhất: nhậpliệu thô. Hai giaiđoạn tiếptheo sẽ là tríchdẫn nguồntưliệu, và cuốicùng là biênsoạn hiệuđính. Nộidung sẽđược bổsung từnglúc và sẽđược cậpnhật, biênsoạn mộtcách toàndiện. Nếu bạn muốn tríchdẫn tàiliệu này, xin vui lòng ghi rõ trong chúgiải và quay lại kiểmtra để xem các cậpnhật mớinhất.
Để hiểnthị đúng tiếngViệt, tiếngHán và các kýhiệu IPA, bạn cần càiđặt phông Unicode trên máytính của mình. Ngoài ra, các từ tiếngViệt hiểnthị ởđây được viết theo hệthống chữviết đaâmtiết Vietnamese2020 như được đềxuất trong bài Vietnamese2020 Orthography.
Hán-Nôm, hay Sinitic‑Vietnamese, là thuậtngữ dùng để chỉ những từ tiếngViệt có nguồngốc hoặc phátsinh từ tiếngHán, tức Hánngữ. Côngtrình này sẽ trìnhbày khoảng 20.000 mục từ Hán-Nôm, bao gồm các từ đơnâm, đaâm và từghép, khôngkể các mụctừ thuộc hệ HánViệt. Nhiều từ Hán-Nôm trongsốnày vôcùng thúvị nhưng chođếnnay vẫnchưa được giớihọcgiả chuyênngành biếtđến. Các từ Nôm ấy, baogồm một sốlượng lớn từvựng cơbản, chothấy chúng chiasẻ cùnggốc với các từ trong tiếngHán, thểhiện rõ qua những chứngcứ được trìnhbày trong dựán này. Nhiều từ Nôm thậmchí cóthể còn chia sẻ cùng nguồngốc với các ngônngữ thuộc họ Tạng‑Miến.
Điềunày dẫnđến một câuhỏi gây tranhluận: liệu tiếngViệt cónên được xemxét để táiphânloại vào ngữhệ Hán‑Tạng hay không? Nếu những kếtquả nghiêncứu này tỏra vữngchắc, thì câu trảlời là một chữ “có” dứtkhoát. Suychocùng, đâylà một phátkiến mớimẻ.
Dựán này đã được khởiđộng hơn 20 năm trước và được thựchiện dựatrên việc khảosát thậntrọng các tưliệu ngônngữ-lịchsử của tiếngHán cổ và hiệnđại. Chođến ngàynay, những đặcđiểm ngônngữ mà tiếngViệt và tiếngHán cùng chiasẻ là những đặctrưng mà chắcchắn không một ngônngữ Mon‑Khmer nào trong ngữhệ NamÁ cóthể sánhkịp — dùlà trong các trườnghợp mang sắcthái vănhóa riêngtư (tươngđương tiếngAnh như “shit, urinate, fuck”…) hay trong các biểuđạt thuần thànhngữ (“bàntay”, “đầugối”, “trờinắng”), chưakể đến những từ cơbản như lá, lửa, đi, chạy, đá, đất, mắt, mũi, v.v.
Để hiểu sâu hơn về cách một số quátrình biếnđổi âm đã xảyra giữa tiếngHán và tiếngViệt, xin xem What Makes Chinese So Vietnamese?
Mặcdù James Campbell trong Vietnamese Dialects không đồngý với luậnđiểm của tôi, ông lại phátbiểu một cách chínhxác nhất nhưsau qua bảndịch Việtngữ:
“Tôi vốn đưa tiếngViệt vào côngtrình / trangweb này vì thựctế rằng cấutrúc ngữâm của nó rất giống với tiếngHán và, thựcsự, hệthống thanhđiệu của nó trùngkhớp với hệthống tiếngHán. Trướctiên tôi đã viết trên trangmạng này rằng: ‘TiếngViệt khôngphảilà một ngônngữ Hán, cũng khôngcó liênhệ với tiếngHán (nó thuộc ngữhệ NamÁ > Mon‑Khmer và gầnvới tiếng Khmer/Campuchia hơn). Ngoàiviệc có một hệthống ngữâm rất giống tiếngHán, là do ảnhhưởng Hánngữ nặngnề, nó còn có một hệthống thanhđiệu trùng với tiếngHán.’ Tuyvậy, sau khi đọc và tự tiếnhành thêm mộtsố nghiêncứu, cóvẻnhư sựliênhệ của tiếngViệt với Việt‑Mường, Mon‑Khmer và NamÁ thựcsự cóthể là một trườnghợp sai lệch.”
[…]
“[TiếngViệt] cóthể khôngđược xemlà một ngônngữ Hán hay một phươngngữ của tiếngHán, nhưng người Kinh có rất nhiều điểmchung với vănhóa Trunghoa, và ngônngữ thì đểlại rất ít điều để hoàinghi. Tôi sẽ không đivào chitiết về cách mà nhậnđịnh này được đưara, vì đãcó rấtnhiều tàiliệu được đăng ở những trang khác (xem bêndưới), và đó khôngphải là mụcđích của trangweb này. Tuyvậy, cóthể thấy rằng tiếngViệt chiasẻ rất nhiều đặctrưng với tiếngHán: 60–70% từvựng Hán, thêm 20% từvựng khác là tầnglớp hạtầng (substratum) của từvựng Tiền‑Hán, phầnlớn ngữpháp và các chỉdấu ngữpháp có những tươngđồng với tiếngHán, cùngvới hệthống loạitừ. Sẽ rấtkhó để tìmthấy những tươngđồng nhưvậy giữa tiếngHán và các ngônngữ Mon‑Khmer khác. Cóvẻ như saukhi xét tấtcả những điều này, phầncònlại thuộc Mon‑Khmer trong tiếngViệt thựcsự rất ít, và cólẽ được tiếpnhận theo thờigian qua tiếpxúc với các dântộc lánggiềng. Chẳnghạn, hệthống sốđếm có nguồngốc Mon‑Khmer rõrệt, tuyvậy trong nhiều từghép sốđếm, tiếngViệt lại dùng gốc Hán (giống như các ngônngữ Hán‑Nhật‑Hàn khác).”
Trong mọitrườnghợp, ngônngữ — kểcả những ngônngữ cổ được phụcnguyên bởi các nhà ngônngữ‑lịchsử — vốn luôn động, biếnđổi, và khôngngừng thayđổi, phảikhông? Dựán này cũng nhưvậy. Các mụctừ mới sẽđược bổsung thườngxuyên, và những mụctừ cũ cóthể được điềuchỉnh, biênsoạn và thayđổi liêntục tuỳ theo nhậnđịnh của tácgiả.
Mọi nhậnxét của bạn luôn được hoannghênh; xin vuilòng đăng ýkiến của bạn tại Ziendan.net. Côngviệc của tôi chắcchắn sẽkhông hoànchỉnh nếu thiếu sựđónggóp của bạn.
LỜITRIÂN: Tácgiả xin ghinhận rằng côngtrình từnguyên tiếngViệt này hưởnglợi rất nhiều từ các côngtrình phụcnguyên và phiênâm của ngữhệ Tạng, từ các nghiêncứu về từnguyên Hán‑Tạng, các phươngngữ tiếngHán, cũngnhư các tưliệu trựctuyến trong cơsở dữliệu ngônngữ The Tower of Babel, do nhàngônngữhọc nổitiếng Sergei Starostin đãquácố sánglập và quảnlý. Mặcdù tácgiả có những cáchhiểu riêng về phụcnguyên Háncổ, ông nhậnthấy việc sửdụng kếtquả trựctuyến của Starostin vôcùng tiệnlợi và hữuích, vì nó giúp đẩynhanh tiếntrình của một côngtrình có quymô đồsộ nhưthếnày.
Tácgiả tinrằng, dù một nhà ngônngữhọc Hán học có thựchiện côngtrình phụcnguyên tiếngHáncổ tốt đếnđâu — như được thểhiện qua hàng chục côngtrình của nhiều họcgiả nổitiếng — thì giátrị thựctế của những phụcnguyên ấy khôngthể hoàntoàn chínhxác hay tuyệtđối đúng. Chúng chỉlà những đạidiện cho hệthống âm của tiếngHán tại một vùngđịa và trong một giaiđoạn lịchsử nhấtđịnh. Nghĩalà, với một chữ hay một từ Hán, cóthể từng tồntại nhiều phiênbản khácnhau và nhiềucách diễngiải khácnhau. Nhìnchung, các phụcnguyên ấy chỉ đạidiện cho dạng được chấpnhận rộngrãi nhất, được rútra từ tưliệu lịchsử và các chứngcứ ngônngữ cóthực.
Ta cóthể hiểurõhơn điềunày nếu, chẳnghạn, làmsao ta biết một từ Hán được phátâm rasao cáchđây 2000 năm? Khi nghiêncứu sâu vào từ ấy, ta sẽ thấy nhiều chuyêngia đãlàm việc này trướcđó. Kếtquả là, ta chấpnhận một hoặc vài cách diễngiải — kểcả cáchhiểu riêng của chínhmình — và nhậnra rằng tấtcả chỉlà những kếtquả xấpxỉ tươngđối.
Hơnnữa, việc sửdụng kếtquả của một chuyêngia nổitiếng để xâydựng côngtrình của riêng mình (bạn không cần “phátminh lại bánhxe”, đúngkhôngđấy) luôn là cách tốt hơn để được giớingônngữhọc chấpnhận.
Đây chínhlà cách tácgiả trìnhbày côngtrình của mình trên mạng để thếgiới cùng xem, và cũng chính là cách ông nhìnnhận từnguyên của các từ tiếngViệt (đặcbiệt là các từ Nôm — những từ vốn được xem là “thuầnViệt”) — đốilập với các từ HánViệt.
Lờicuối cho côngtrình này là tácgiả hyvọng nó sẽ:
- cungcấp một côngcụ tiệnlợi như một từđiển điệntử cho những người học tiếngHán hiệnđại có nềntảng tiếngViệt, giúp họ thấyrõ mứcđộ gầngũi giữa hai ngônngữ qua việc lầntheo quan‑hệ ngữâm‑lịchsử và từnguyên của từng từ trong mỗi ngônngữ,
- đặtra một nềnmóng mới cho việc nghiêncứu từnguyên tiếngViệt trong tươnglai,
- thiếtlập những chứngcứ để táiphânloại tiếngViệt vào ngữhệ Hán‑Tạng (thay vì ngữhệ NamÁ Mon‑Khmer),
- khơidậy sựhứngthú trongviệc nghiêncứu tiếngViệt, và từđó thuhút thêmnhiều đónggóp nhằm đạtđến mụctiêu khác là cảicách hệthống chữviết tiếngViệt đơn âmtiết hiệnnay sangthành hệthống đaâmtiết, baogồm cả cáchviết chữHán giốngnhư chữviết ĐạiHàn hiệnđại.
Nếu bạn tiếptục đọc, giữa hàngtrăm mẫuhình biếnđổi âm và quyluật ngônngữ, dầndần bạn sẽ thấyrõ mối quanhệ gầngũi về ngữâm và từnguyên giữa tiếngHán và tiếngViệt — điều chắcchắn là quátrình này sẽ làmsángtỏ bảnsắc thựcsự của tiếngViệt cho nhữngai thựcsự quantâm đến lĩnhvực ngônngữ‑lịchsử này.
CONVENTIONS / QUYƯỚC VÀ KÝHIỆU:
() = raw data entries, as for place-holding reference only, incomplete and subject to extensive editing / đangtrong giaiđoạn ghinhập dữliệu, chưa hiệuđính hoànchỉnh và tínhchínhxác thiếusót
** = reconstructed proto sound / âm tháithượngcổ táitạo
* = reconstructed sound / âm cổ táitạo
~ = being cognate to / đồngnguyên với chữ nầy
+ = combined with / kếthợp với
– = combined with the same sound / kếthợp với âm tươngtự
^ = alternative to, also possible from / cũng cóthể do âm
{xxx} = being contaminated or conditioned by / do sựảnhhưởng của
@, ass. = associated with or assimilated to / liênđới hoặc đồnghoá với
§, ss = sosánh / compare, cf.
$, lit. = scholarly reading, literary / sáchvở (báchọc, thơvăn)
©, cổ = cổ / archaic, obsolete
|P, ¶ = pattern / phươngcách biếnthể
®, Râ, râ = rụngâm, rútngắn / sound dropped, short form
#, Nđ = hoánvị, nghịchđảo / reversed, metathesis
& = kếthợp thành từ mới / local innovation
% = parallel development or also a possible source / cũng cóthể là từ đồngnguyên biếnâm
> = evolved into / biếnâm thành, pháttriển thành
< = derived or originated from / biếnâm từ, bắtnguồn từ
=>, <= = also have given rise to / còn biếnâm hay biếnthể thành
/xxx/= approximate sound / âmtrị gầnđúng
\ = on the condition that, in the context of / với điềukiện là, trong ngữcảnh
xxx = variables / chữ bấtkỳ
x. = see also / xem thêm
(xxx)= Sino-Vietnamese sound or further explanation/
xxx(xxx) = as in compound / một phần từ đaâmtiết
[ xxx ] = Etymology, etymon / từnguyên, từgốc
| = comments / bìnhgiải
= = same as / tươngtự như
cđ = reading / cáchđọc
cđl = also read as / còn đọc là
đh, đồnghoá = assimilation or association / đồnghoá hoặc liêntưởng
đn, Ðn = từđồngnguyên 同源辭 / as doublet, originated from the same source
hâ = hợpâm / merged or combined sound
HV, Hv = Sino-Vietnamese / Hán-Việt
HN, Hn = Sinitic-Vietnamese / Hán-Nôm
HVh, HánViệthoá = Sino-Vietnamese association, contamination with, renovation or localization by using Han-Viet elements / đồnghoá với từ HánViệt cósẵn, HánViệthoá bằngcách sửdụng các yếutố Hán-Việt
HT, ht = hìnhthanh 形聲 / sound root or signifier
LZ, Late Z., Late Zhou = 周末時代 / Cuối đờiChâu
MC=Middle Chinese / TiếngHán Trungcổ
Nh, Vh = renovation or localization / Nômhoá hay Việthoá
Pt, PT = Phiênthiết 反切 fănqiè: Chinese spellings / phiênthiết
PH, PNH = Phươngngữ Hán / Chinese dialects
PST= Proto-Sino-Tibetan / Tiền-Hán-Tạng / TiếngHántạng Tháicổ
PC=Proto-Chinese / TiếngHán Tháicổ
OC=Old Chinese (Qín-Hàn era) / Hán Thượngcổ (đời Tần-Hán)
AC= Ancient Chinese / TiếngHán cậncổ
ST = Sino-Tibetan / ngữhệ Hán-Tạng
Tang = Tang period / ÐờiÐường
TB = Tibetan / Tạngngữ
td. = example, e.g. / thídụ
tl. = từláy / reduplicative word
Vh, Nh = renovation or localization / Việthoá hay Nômhoá
Viet. = Vietnamese usage only / Chỉ dùng trong tiếngViệt
Chin. = Chinese usage only / Chỉ dùng trong tiếngHán
qù, xián, zhì…= modern Pinyin, standard Beijing / phiênâm (pinyin) phổthông (Quanthoại) hiệnđại
123 = quoted page or item number / trang sách dẫn hay số mục
p123 = quoted page/trang sách dẫn
(xxx) = Sino-Vietnamese reading / âmđọc Hánviệt trong ngoặcđơn
xxx&(x)xx=combined sound/hợpâm
“Burmese: xxx Kachin: xxx. Dimasa: xxx Garo: xxx”: Languages of the Tibetan language family/các ngônngữ thuộc ngữhệ Tâytạng
“Wenzhou đọc sei31, Meixian sE 3, Xiamen se31” = as read by Chinese dialects with tonal indications / phươngngữ Hán hiệnđại, số chỉ thanhđiệu
Kargren, Zhu., Ben.: quoted authors/tácgiả tríchdẫn
PhươngngữHán / Chinese dialects :
Bk, Bắckinh = Beijing (Peking) 北京話 dialectal peculiarity / âm phươngngữ Bắckinh
Dc, Dươngchâu = Yángzhōu dialect 揚州話 (Yángzhōu) / Dươngchâu
Hak, Hẹ = Hakka 客家話 Kèjiā (Méixiàn) / tiếngHẹ
Hai. , Hảinam = Hainanese 海南話 dialect / Hảinam, tiếngHảinam, thuộc phươngngữ Mânnam
Hk, Hánkhẩu = Hànkǒu 漢口話 dialect / tiếngHánkhẩu
Hm, Hạmôn = Xiàmén 廈門話 (Amoy) dialect / phươngngữ Hạmôn (thuộc đạiphươngngữ Mânnam)
Mânnam = Mǐnnán 閩南方言 phươngngữ Mânnam (Phúckiến, Hảinam, Hạmôn, Ðàiloan…) / Minnan dialects
Ngô = Wǔfāngyán 吳方言 Wu, Wu dialects / phươngngữ Ngô (Th, Ôc, Tc…)
Nx, Namxương = Nánchāng 南昌話 dialect / phươngngữ Namxương
Ôc, Ônchâu = Wēnzhōu 溫州話 dialect / phươngngữ Ônchâu, thuộc phươngngữ Ngô 吳方言
Pk, Phúckiến = Fùjiàn 福建話 (Fùzhōu 福州) dialect / phươngngữ Phúckiến, Phướckiến (Phúcchâu), thuộc phươngngữ Mânnam
QÐ, Qđ = Cantonese 廣州話 / TiếngQuảngđông 廣東話
QT, Qt, Quanthoại = Mandarin 國語 / Quanthoại / Quanhoả 官話 hoặc tiếngphổthông (putonghua 普通話) hiệnđại
Sp, Songphong = Shuāngfēng 雙峯話 dialect / phươngngữ Songphong
Ta, Tâyan = Xī’ān 西安話 dialect / phươngngữ Tâyan (Trườngan 長安 cũ)
Tc, Tôchâu = Sūzhōu 蘇州話 / phươngngữ Tôchâu, thuộc phươngngữ Ngô 吳方言
Th, Thượnghải = Shànghǎi 上海話(Shanghainese) / tiếngThượnghải, phươngngữ Thượnghải, thuộc phươngngữ Ngô 吳方言
Thn, Tháinguyên = Tàiyuán 太原 / phươngngữ Tháinguyên
Tn, Tềnam = Jínán 濟南話 dialect / phươngngữ Tềnam
TrC, Triềuchâu, Chaozhou (Chiewchow) = a sub-dialect of Fukienese, also known as Tchiewchow, Teochew (tiếngTriều, tiếngTiều 朝州話, thuộc phươngngữ Mânnam)
Ts, Trườngsa = Trườngsa 長沙話 dialect / phươngngữ Trườngsa
Tx, Tứxuyên = Sīchuān 四川話 dialect (Chéngdū 成都話 Thànhđô / phươngngữ Tứxuyên 四川話, tiếng Quanthoại vùng Tâynam)
KEYS TO PRONUNCIATION / CÁCHPHIÊNÂM:
Vì sự tiệnlợi trong việc trìnhbày trựctuyến, một số kýhiệu và quyước IPA đã được thaythế như sau::
- Pinyin (bínhâm haylà phiênâm) sẽđược dùngđể chỉ cách phátâm Quanthoại của các âm hiệnđại trong tiếngphổthông tiêuchuẩn của Trungquốc; để biết chínhxác cách phátâm Pinyin, xin xem phần hướngdẫn Pinyin trong các từđiển Hánngữ hiệnđại như “Hànyǔ Cídiǎn” (cũng cósẵn trênmạng).
- Dấugiọng thanhđiệu tiếngViệt cũngđược sửdụng kếthợp với phiênâm IPA để kýâm các âm tiếngViệt.
- Nếucầnthiết, các kýhiệu thanhđiệu trong Háncổ (OC) và Hán‑Trungcổ (MC) sẽđược ghi rõràng.
REFERENCE ABREVIATIONS / CHỮ VIẾTTẮC PHẦN TRÍCHDẪN:
andn = Vương Lộc Annam Dịchngữ
GSR = Grammata Serica Recensa, Bernhard Kargren
Handian = 漢典
hyfyzh = Hànyǔ Fāngyīn Zìhuì 漢語方音字匯
Kangxi = 康熙字典
Kargren = Bernhard Kargren
Luce = Gordon Hannington Luce, Danaw, a Dying Austroasiatic Language
Pulleyblank = Edwin G. Pulleyblank Lexicon of Reconstructed Pronunciation in Early Middle Chinese, Late Middle Chinese, and Early Mandarin (UBC Press, 1991)
Shafer = Robert Shafer, Introduction to Sino-Tibetan.
Schuessler = Axel Schuessler, A Dictionary of Early Zhou Chinese
Shuowen = Shuōwén Jiězì 說文解字
Starostin = Chinese database, Sergei Starostin
Zhou = Zhōu Făgāo 周法高
zyxlj = Zhōngguó Yīnyùnxué Lùnwén Jí 中國音韻學論文集, Zhōu Făgāo 周法高
zyyy = Zhōngyuán Yīnyùn 中原音韻
Sách Thamkhảo
Alves, Mark J. 2001, 2007, 2009. (Works on Sino‑Vietnamese grammatical categories and loanwords.)
Alves, Mark J. 2001. “What’s So Chinese About Vietnamese?” SEALS 9.
Alves, Mark J. 2007. “Categories of Grammatical Sino‑Vietnamese Vocabulary.” Mon‑Khmer Studies.
An Chi. 2016–2024. Rong chơi Miền Chữ nghĩa (A Journey in the Field of Vietnamese Etymology). Ho Chi Minh: NXB Tổng hợp, TP HCM.
An Chi. 2024. Từ nguyên (Vietnamese Etymology). Ho Chi Minh: NXB Tổng hợp, TP HCM.
Barker, Milton E. 1966. “Viet‑Muong Tone Correspondences”, in Norman Zide (ed.) Studies in Comparative Austroasiatic Linguistics . The Hague: Mouton.
Benedict, Paul. 1975. Austro‑Thai Language and Culture.
Bình Nguyên Lộc. 1987. Nguồn gốc Mã lai của Dân tộc Việt nam (The Malay origins of the Vietnamese). Los Alamitos, Calif: Xuân Thu. Originally published: Saigon: Bách Bộc, 1971.
Bo Yang. 1983-1993. Modern Chinese edition of 司馬光 Sima Guang’s Zīzì Tōngjiàn (Comprehensive Mirror to Aid in Government) 資治通鍳 (72 volumes, vol. 1 to vol. 72). Taipei: Yuănlíu Chùbăn Gōngsī 遠流出版公司 (Yuan-Liou Publishing Co).
Brodrick, Alan Houghton. 1942. Little China: The Annamese Lands (大越南). London: Oxford University Press.
Cao Xuân‑Hạo. 2001. Tiếng Việt Văn Việt Người Việt. Ho Chi Minh City: Nhà xuất bản Trẻ publisher.
Chao, Yuan-Ren. 趙元任. 1933. “中國字調語調” (Tone and Intonation in Chinese) Bulletin de l’Institut de Historique et Philologique Tome IV, Vol. 2, pp. 119-134. Canton: Institut National de Chine
Delinger, B. Paul. 1979. “The Ch’ung Niu Problem and Vietnamese”, Tsing-hua Journal of Chinese Studies. Vol. XI. No. 1&2, pp. 217-227. Tsing-hua: Tsing-hua University
Dong, Zuo-Bin. 董作賓.1933. “譠〔譠〕” (Discussing about Tan), Bulletin de l’Institut de Historique et Philologique Tome IV, Vol. II, pp. 159-174. Canton: Institut National de Chine.
FitzGerald, C.P.. 1972. The Southern Expansion Of the Chinese People. New York: Praeger Publishers.
Forrest, R. A. D. 1948. The Chinese Language. London: Faber and Faber LTD.
Haudricourt, André G. 1954. “Comment reconstruire le chinois archaïque,” Word 10 (1954). pp. 351-364) [ Chinese translation by Ma Xue-Jin 馬學進. “怎樣 擬測 上古 漢語” (in “中國 語言學 論集”, pp. 198-226) 1977 ], Taibei: You Shi Wenhua Shiye Gongshi (幼 獅 文化 事業 公司)
Haudricourt, André G. 1961. “The Limits and Connections of Austroasiatic in the Northeast” , in Norman Zide (ed.) Studies in Comparative Austroasiatic Linguistics. The Hague: Mouton.
Hock, Hans Henrich. 1986. Principles of Historical Linguistics.
Jeffers, Roberts J., et al. 1979. Principles and Methods for Historical Linguistics. London and Cambridge: The MIT Press.
Karlgren, Bernhard. 1915. Étude sur la Phonologie Chinoise. (Revised Chinese translation by Chao Yuen Ren and Li Fang-Kuei). Taipei: Shangwù Yìnshùguăn, 2nd Edition, 1966.
Karlgren, Bernhard. 1957. Grammata Serica Recensa. (Reprinted from The Museum of Far Eastern Antiques, vol. 29, pp. 1-332. Stockholm. 1964)
Kelley, Liam C. 2012. “The Biography of the Hồng Bàng Clan…” Journal of Vietnamese Studies.
Lacouperie, Terrien de. 1887 (reprint 1966). The Languages of China Before the Chinese.
Li, Fang-Kuei. 李方桂. 1928. “Ancient Chinese -ung, -uk, -uong, -uok, Etc. in Archaic Chinese”Bulletin de l’Institut de Historique et Philologique Tome III, Vol 3, pp. 375-414. Canton: Institut National de Chine
Lü, Shih-P’eng. 呂士朋. 1964. 北屬 時期 的 越南. Vietnam During the Period Of Chinese Rule (IIIrd Century B.C. To Xth Century A.D.) History of Sino-Vietnamese Relations. Hong Kong: University of Hong Kong.
Lu Shih‑Peng (Lu Shih‑P’eng). 1964. [Referenced in Yue migration context].
Maspero, Henry. 1916. Études sur la Phonétique historique de la Langue annamite: les Initiales, in BEFEO 12, Paris: BEFEO
Mei Tsu-lin (梅租麟). 1970. Tones and Prosody in Middle Chinese and the Origin of the Rising Tone (Harvard Journal of Asiatic Studies, Volume 30, 1970) [ Including the Chinese translation by Huang, Xuan-Fan 黃宣範. “中古漢語聲調與上聲的起源” (in “中國語言學論集”, pp. 175-197) 1977 ], Taibei: You Shi Wenhua Shiye Gongshi (幼 獅 文化 事業 公司)
Nguyễn, Ðình-Hoà. 1966. Vietnamese-English Dictionary . Tokyo: Charles E. Tuttle Company.
Nguyễn, Ngọc San. 1993. Tìm hiểu về Tiếng Việt Lịch sử. TP HCM: NXB Giáo dục.
Nguyễn, Tài Cẩn. 1979. Nguồn gốc và Quá trình Hình thành Cách đọc Âm Hán Việt. TP HCM: NXB Khoa học Xã hội.
Nguyễn, Tài Cẩn. 2000. Giáo Trình Ngữ âm Lịch sử Tiếng Việt. TP HCM: NXB Giáo dục.
Nguyễn, Văn-Khôn. 1960. Hán Việt Từ điển. Saigon. (Reprinted in the USA by DANAMCO).
Nguyễn, Văn-Khôn. 1967. Usual English-Vietnamese/Vietnamese-English Dictionary. Saigon: Khai Tri. (Reprinted in the USA by DANAMCO).
Parkin, Robert. 1991. A Guide to Austroasiatic Speakers and Their Languages. Honolulu: University of Hawaii Press.
Pulleyblank, E.G. 1962. The Consonantal System of Old Chinese, Part II, AM 9
Ruhlen, Merritt. 1994. On the Origin of Languages: Studies in Linguistic Taxonomy. California: Stanford University Press.
Shafer, Robert. 1966-1974. Introduction to Sino-Tibetan (4 volumes). Wiesbaden: Otto Harrassowitz.
Tang Lan. 1965. 唐蘭. Zhongguo Wenzixue (中國 文字學). Hong Kong: 太平 書局 (Taiping Publisher).
CHÚTHÍCH
(1)^ Mộtvài điểm thenchốt trước khi tiếptục: Đốivới độcgiả phổthông, dướiđây là mộtsố hướngdẫn chung trướckhi đi sâuhơn vào côngtrình này.
- Đầutư thờigian: Khảocứu này được biênsoạn hướngđến ấnbản in và không thíchhợp cho việc đọclướt qua mạng. Hãy sẵnsàng dành nhiều thờigian để thựcsự tiếpcận và nghiềnngẫm nộidung của nó.
- Khung kháiniệm: Nếu bài dẫnnhập banđầu cóvẻ nặngnề hoặc khóhiểu, đừng bỏcuộc. Nếu bạn thậtsự muốn tìmhiểu, cóthể bắtđầu bằng một gócnhìn đơngiản hơn: xem NamÁ như một nhánh ngônngữ pháttriển từ các ngônngữ BáchViệtcổ (pre‑Yue) thuộc ngữhệ Taic, rồi từđó xâydựng hiểubiết của mình. Hoặc, bạn cóthể khởiđầu bằng giảđịnh rằng “Yue” — táchbiệt khỏi cả Hán và NamÁ — chínhlà tầngnền của toànbộ thảoluận này. Cáchtiếpcận ấy giúp lýgiải vìsao các phânloại NamÁ thường mang tính hồiquy, lầnngược một lộtrình quanhco từ Nam lên Bắc.
- Điều hướng tưliệu NamÁ: Đừng để lượng thôngtin NamÁ trên mạng làm bạn choángngợp. Phần lớn chỉ lặplại những diễngiải giốngnhau dựatrên cùng một nhóm tưliệu. Các họcgiả trong vànhđai Hán‑Tạng (đặcbiệt những người nghiêncứu Yue) đều hiểurõ giớihạn của các phântích ấy. Tácgiả giảđịnh rằng nếu bạn đã đọc đếnđây, bạn cólẽ tựmình có một gócnhìn về Hán‑Tạng; nếu không, cólẽ bạn đã không đủ kiênnhẫn để theođuổi những thảoluận này — chứchưanói đến hàngvạn trang vănbản phíatrước. Để giữ sựrànhmạch, hãy tránh phảnứng tứcthời trước các lậpluận NamÁ, vì chúng thường dẫn đến lanman hơn là tiếnbộ. Một vài gợimở ngônngữ dành cho từng nhóm độcgiả
- Một vài gợimở ngônngữ dành cho từng nhóm độcgiả — Đốivới người chọn ngoạingữ là tiếngViệt: Giống như cảmgiác thúvị khi nếm “phở” lầnđầu, ngườihọctiếng cóthể ngạcnhiên khi biếtrằng “phở” đồnggốc với 粉 fěn (HV “phấn”, nghĩa là ‘bột’). Từnguyên này đã phânnhánh thành nhiều từ tiếngViệt, thídụ, “phấn”, “bún”, “bột”, “bụi”... tấtcả đều cùng một gốc nghĩangữ. (Xem Han‑Viet.com)
Mộtvài vídụ khác:- 雞 jī (HV “kê” ~ HN “gà”)
- 蛋 dàn (HV “đản” ~ HN “trứng”)
- 蒜 suàn (HV “toán” ~ HN “tỏi”, ‘garlic’)
- 打 dǎ (HV “đả” ~ HN “đánh”, ‘strike’)
- 公 gōng (HV “công” ~ HN “ông”, ‘mister’) ~ 翁 wēng (VS “ông”, ‘old man’, đồnggốc với “lông”)
Những chitiết ngữâm sâuxahơn — thídụ mốiliênhệ giữa 打 dǎ và 丁 dīng (HV “đinh”, ‘chàngtraitrẻ’) — chỉ làm vấnđề thêm phứctạp. 丁 dīng còn sinhra các từ như 釘 dīng (HV “đinh”) và 打包 dǎbāo tươngứng với tiếngViệt “đóngbao”. Độcgiả dĩnhiên cóthể đặt câuhỏi liệu “trai” (‘young man’) có bắtnguồn từ 丁 dīng hay không, nhưng những thảoluận nhưvậy vượtra ngoài phạmvị trướcmắt của côngtrình này.
(2)^ Diễngiải NamÁ về cáchdùng Hán‑Việt: Mặcdù chưađược chứngminh, gócnhìn này vẫn đángchúý vì nó cungcấp cho các họcgiả NamÁ một lýdo giảithích việc từ Hán‑Việt được sửdụng rộngrãi trong lờinói hằngngày của ngườiViệt. Lậpluận của họ chorằng những từ này đivào sửdụng phổthông thôngqua quátrình tiếnhoá ngônngữ, chứkhôngphải vốndĩ là những biểuđạt bảnđịa thuộcvề những ngườinói cùng một ngônngữ.
(3)^ Từ HánViệt đavận gợiý ngữâm dànhcho các nhàHánngữhọc: Các họcgiả Hánngữhọc cóthể tìmthấy điều giátrị khi khảosát những saibiệt tinhtế trong cấuâm tiếngViệt, vì chúng cóthể gợimở lời giảithích cho những phứctạp như từ ‘songvận’ 重紐 (‘chóngnǐu’) và các môhình phânchia đẳngthức âmvị (I, II 等) — phânbiệt đẳng thứnhất và thứhai) trong ngữâm lịchsử Hán-Trungcổ.
(4)^ Đạitừ “họ” dùng ở sốít: Về cáchdùng đạitừ, một trong những ứngdụng ngoạilai đã trởthành của riêngmình, một tácgiả ghinhận rằng họ ở sốít ngàycàng được côngnhận như một lựachọn thựctiễn thaythế cho nhiều đạitừ chỉ sốtít hay sốnhiều, có tínhphái hay trungtính, thídụ, “nó”, “ổng”, “bả”, “ngườita”, “chúngnó”, “bọnhọ”… trong nhiều ngữcảnh khácnhau. Ta phải ghinhậnrằng đâylà một thănghoa trong sựpháttriển ngônngữ. Tácgiả hyvọng là mộtngày nào đó tiếngViệt sẽ lại tiếpnhận hoặc sángtạo thêm một đạitừ ngôinhất và ngôihai nữa tươngtự như “je”, “moi”, “Vous”, “toi”, “I”, “you”, “s/he” của tiếng Anh hay Pháp để thănghoa phát thêm những ýniệm mới trong tiếngViệt ngoài tiếng “mày”, “tao”… đãcó rồi.
Về từ dùng ở sốtít nầy cáchdùng này rất giống cách dùng they trong tiếngAnh. The Washington Post đã chínhthức đưa cáchdùng này vào sổtay biênsoạn của họ vào tháng 12 năm 2015, và U.S. Examiner cũng làmtheo vào ngày 22 tháng 9 năm 2016. Thêmvàođó, they được Hiệphội Phươngngữ Hoakỳ (American Dialect Society) bìnhchọn là “Từ của Năm” vào năm 2015.
(4)^ Để thamkhảo cách phátâm gầnđúng trong tiếngViệt hiệnđại, xin xem Vietnamese‑English Dictionary của Nguyễn Đình‑Hoà (1966) hoặc Nguyễn Văn Khôn (1967).

Leave a Reply