Táidựnglại lịchsửtiếnhoá của Tiếng Hán và Việt

Bàiviết này khảoxétlại nguồngốc của vănminh Trunghoa qua lăngkính của sựdiễnbiến thànhhình các ngônngữ ở Hoalục. Dựatrên luậncứ của Terrien‑de‑Lacouperie cùng các côngtrình sosánh vềsau, ta cóthể nói “tiếngHán” thựcchất đã hìnhthành từ tiền‑Hánngữ kếttinh — gồm Tháicổ (Taic), Môn-Thái (Mon-Taic), Bod (BáchViệtcổ – 百粵), BáchViệt (Yue) và các thànhtốnền (substrata) của ngônngữ tiền-Altaic — từ rấtlâu trướckhi các triềuđại Trunghoa được khaisinh và củngcố. Các từđiển đầutiên như Erya 爾雅 (HV Nhĩnhã, ‘tiếngngoạigiao’) và Fangyan 方言 (HV phươngngữ, ‘phươngngôn’) vẫncòn lưugiữ dấuvết của những tầngnền này, cho thấy cúpháp, loạitừ và thanhđiệu của Hánngữ đã được địnhhình mạnhmẽ bởi ảnhhưởng các tiếngnói của các tộc phươngNam.

Nghiêncứu này còn tiếnthêm mộtbước chorằng tiếngViệt chỉ cóthể được hiểurõ trên một trục liêntục của sựhợpgiống. Các yếutố vaymượn từ Hánngữ không xuấtphát từ một nguồngốc đơnnhất, mà từ một ngônngữ vốn đã mang sẵn những tầngnền phi‑Hán. Vìthế, tiếngViệt kếttụ một disản laihoá: gốc BáchViệt, tầngnền Môn‑Thái, và các tầngphủ Hánngữ cùng tồntại trong một bảnthể ngônngữ duynhất.

Bằngcách táidựnglại nguồngốc của tiếng Hán và Việt, bàiviết này đốichất những tườngthuật thiên tínhdântộcchủnghĩa về sự thuầnkhiết và côlập. Nó khẳngđịnh rằng sự thẩmnhập và thích-ứng mới là quyluật của lịchsử của ngônngữ, và rằng chỉkhinào thừanhận tínhlaihoá của chúng thì ngành ngônngữhọc mới cóthể đạtđến sự sángtỏ và nghiêmtúc.

I) Tiếngnói thờithuở Hoalục chưa nở Hoa

Lacouperie đã nêu ra một luậnđiểm táobạo về “các ngônngữ tiền‑Hán ở Trunghoa”, một tầngnền rộnglớn và phứctạp chỉcòn được lưugiữ rờirạc trong các tưliệu Hán cổ. Ông cho rằng các ngônngữ Môn và Tháicổ phươngNam đã ảnhhưởng sâuđậm đến cúpháp, ngữâm và ngữnghĩa của Hánngữ sơkỳ, đưavào đó những đặcđiểm như trậttự câu SVO { chủngữ + độngtừ + vịngữ }, sự hìnhthành thanhđiệu và hệthống loạitừ. Các từđiển như Erya và Fangyan của Dương Hùng lưugiữ hàng nghìn từ vùngmiền, nhiều từ có nguồngốc phi‑Hán, phảnánh nhiều thếkỷ giaotiếp và dịchchuyển. Hán‑Việt (HV) càng chothấy rõ disản này: nó lưugiữ các âm Háncổ trong khi cùng tồntại với tiếngViệt bảnngữ.

Lâulắm trước khi Hánngữ hìnhthành như một ngônngữ “đíchthực”, một quầnthể các ngônngữ bảnđịa đã từng hưngthịnh ở vùng phíanam HoàngHà và kéodài xuốngtận lưuvực Sông Hồng. Các nhàngônngữhọc-lịchsử xem chúng như những ngữchi của ngữhệ Tháicổ rộnglớn — Thái‑Shan (Taic-Shan), Thái‑Tày (Taic-Dai), Môn‑Thái (Mon-Taic), Môn‑Paluang và nhiều nhánh khác — những ngônngữ này sinhra các ngữchi Dai (Tà, BáchViệt (Yue), NamÁ (Austroasiatic), Môn‑Khmer, Việt‑Mường và Vietic (Việtcổ). Phần này khảosát các ngônngữ Thái‑Việt cổ đã cómặt trước Háncổ, cộngđồng nói chúng, và các hậuduệ laihoá vềsau bị phânloại thành “phươngngữ Hán”.

Đối với những ngônngữ có quanhệ chưa rõ, việc các họcgiả ĐôngNamÁ môtả chúng là “hỗnhợp”, “laihoá” hay thậmchí “tổnghợp” khôngcógìlạ. Nhưng trên thực tế, không ngônngữ nào là “tổnghợp” theo nghĩa một thứ tiếng nhântạo kiểu Esperanto. Những ngônngữ tựnhiên có bềdày lịchsử như Afrikaans, Albanian, Haiti‑Pháp, tiếngViệt, cũng như Hokkien, Quảngđông hay Quanthoại, đềulà những ngônngữ đahợp. Riêng tiếngViệt, trườngphái Môn‑Khmer từlâu đã xếp nó vào NamÁ, chủyếu dựatrên một phần từvựng cơbản có tươngứng nguồngốc ditruyền với Môn‑Khmer.

Tuynhiên, quanhệ ditruyền hiếmkhi đơngiản. Về mặt loạihình, tiếng A cóthể chiasẻ mộtphần từvựng dicăn với tiếng B, B lại trùng với C, C với D, và cứthế tiếpdiễn. Ở khoảngcách lớn, tiếng Z cóthể là tậphợp đanguyên baogồm những từ tươngứng rảirác với A, B, C mà không nhấtthiết có quanhệ huyếtthống. Những môhình nhưvậy gợinhớ các tươngđồng thúvị từngđược ghinhận giữa các ngônngữ Á‑Âu xaxôi và thổdân châuMỹ — chẳng hạn “Lake Taiho” ở California Hoakỳ và “Tàihú” 太湖 (HV Tháihồ) của Trungquốc, đều mang nghĩa “một hồ nước lớn”.

Một kịchbản nhânchủng‑ngônngữ cóthể giúp pháchoạ trườnghợp tiếngViệt. Thử giảđịnh tiếngViệt (tức tiếng Annamcổ hay Việt‑Mường) là hậuduệ của Y (BáchViệt), vốn là một nhánh của T (Thái). Chính T này cũng sinh ra X (Choang), khiến tiếng Việtcổ và Choang trởthành “anhem cộtchèo”, cùng có liênhệ với Z (Chu). Z về sau bị Q (Tần) thôntính, và các dòng này hoàlại thành một đathể hợpnhất XYZ. Từđó xuấthiện H (các tộc Hán) và S (các ngônngữ Hán). Baoquanh họ là vôsố ngônngữ đã tuyệtchủng — A, B, C, D — chỉ còn dấuvết rời‑rạc.

Hình 1 – Sơđồ phảhệ ngônngữ

    
T (Taic)

┌─────────────┴─────────────┐
│ │
Y (Yue) X (Zhuang)

└───> V (Vietnamese / Vietic, ancient Annamese)

Z (Zhou) ─────────┐

└──> thẩmnhập vào Q (Qin)

└──> đahợp XYZ

┌─────────────┴─────────────┐
│ │
C (các thứtiếng ở Hoalục) ─────────> S (phươngngữ Hán)
Những ngônngữ lánggiềng bị maimột: A, B, C, D … (những vếttích rảirác)

Qua nhiều thếkỷ hoàtrộn, chinhphục, didân, và hoànhập:
Y + T + Z + S + những thứtiếng trunggian (P, R, Q)

K (Kinh, "hợpchủng" Vietic‑Yue)

V (tiếngViệt hiênđại)

Ngườita giảđịnh rằng những cộngđồng nóitiếng Tháicổ đã sinhra cưdân BáchViệt, những ngườibảnđịa từng sinhsống trên một vùng lãnhthổ rộnglớn tiền‑Hán, từ lưuvực Hoànghà về phíanam đến các vùng duyênhải Triếtgiang và Giangtô ngàynay. Từ tầngnền này, từvựng cơbản của tiếngViệt cóthể đã thuhút trựctiếp các yếutố của T, Z và S, đồngthời tácđộng ngược trởlại lên các lânbang phươngNam, baogồm cả các ngônngữ thuộc ngữhệ NamÁ Môn‑Khmer. Sựlantruyền ấy diễnra qua nhiều thếkỷ giaotiếp liêntục — được đánhdấu bởi sự chinhphục, dịchchuyển, buônbán, chiếntranh, sápnhập và hoàdung — khi các quầnthể dầndần chuyểnsang phươngNam.

Mặcdù tiếngViệt và các tiếng Hán cóthể khôngcó quanhệ ditruyền theo nghĩa chặtchẽ nhất, chúng vẫn chiasẻ một mốiquanhệ họhàng thôngqua các “anhemcôcậu” và các trunggian truyềnđạt (P, R, Q), được hunđúc trong lòlửa chinhphục và thốngtrị. Qua nhiều thếkỷ và khônggian rộnglớn, tiếntrình ấy đã kếtthúc bằng sựxuấthiện của cộngđồng Kinh (K), một dòngdõi biếnđổi từ các nhóm BáchViệt cổ, và vềsau trởthành ngườiViệt hiệnđại (V) như bâygiờ ngườita nhậnbiết.

Bảng 1 — Về ngữhệ Tháicổ bảnđịa tiền‑Hán

Ngữhệ Thái (Taic) được khảosát trong nghiêncứu này tươngứng với cái mà Terrien de Lacouperie, trong tácphẩm The Language of China Before the Chinese (Luânđôn, 1887; táibản Đàiloan, 1966), gọilà “các phươngngữ Môn‑Thái (Mon-Taic)”. Theo Lacouperie, đây là những thứtiếng bảnđịa tiền‑Hán từng được nóitrên khắp lãnhthổ Trunghoa cổđại. Dựatrên các lịchsử và những truyệntích truyềnthống, ông cốgắng xáclập mốiquanhệ giữa Tháicổ, Hán và BáchViệt nhưsau.

Tộc Pong (彭), còngọilà tộc Pan‑hu (盤瓠), từng giữ vịthế nổitrội ở Trungnguyên, phíanam sông Hoànghà, vào thờikỳ mà các bộlạc “Hán” sơkỳ — hay đúngra là các bộlạc “Bak” — thiêndi vào vùng này. Người thủlĩnh mà được nhớđến với tên Pong trởthành nhânvật của nhiều truyềnthuyết. Tươngtruyền nơi ông cưtrú là ở vùng đôngbắc Tứxuyên và tây Hànam, và ông duytrì quan‑hệ thânthiện với “ngườiHán” mới đến ngaytừ thuởbanđầu. Đúngvậy, dânHán kểlại là ông đã giúp họ chốnglại các cuộc xâmlăng của người Jung và Naga từ tâybắc. Nhiều bộlạc vềsau tựnhận là hậuduệ của ông, và mộtsố vẫncòn tônthờ ông. Tên gọi chung của họ, Ngao [Nghiêu] nghĩa là “mạnhmẽ”, vềsau pháttriển thành tộcdanh Dao (Yao).

Tộc Pan‑hu đượcxemlà một chi của tộc Môn vùng Tâynam, những người từng chiếmgiữ phầnlớn lãnhthổ Trunghoa trướckhi ngườiHán xuấthiện, tức trướcthếkỷ 13 tr.TL. Từ chi này, và qua sựhoàtrộn với các bộlạc Kuenlunic (崑崙 Kūnlún) phíabắc, các nhómngười Tháicổ, hay Shan‑Xiêm (Shan-Siam), đượccoilà đã hìnhthành. Qua thờigian, vài nhóm trongsốnày dịchchuyển xuống phươngNam dưới áplực bànhtrướng của ngườiHán. Họ lanxuống Đôngdương và hìnhthành nhiều quốcgia khácnhau.

Bảnthân ngônngữ Pan‑hu khôngcòn tưliệu trựctiếp, nhưng được suydiễn từ các phươngngữ của những bộlạc hậuduệ. Đặcđiểm nổibậtnhất của chữviết của nó mangtính tượngý, được môtả gầnnhư đốinghịch với các ngônngữ Kuenlunic. Những tàntích cổnhất của thứtiếng này được lưugiữ trong các ghichép của người ĐờiHán, đặcbiệt trong HậuHánthư. Các dấuvết sớmhơn xuấthiện trong những tácphẩm cổ hơnnữa, nhưng ởđó chúng chỉđược tríchdẫn kèmtheo tên địaphương, khiến họcgiả phải tự suyđoán danhtính của những ngườinói. Tráilại, theo tưliệu đời Hán, những từ này được xácđịnh rõràng là của ngườiDao thuộc tộc Pan‑hu — một độchínhxác mà Lacouperie nhấnmạnh là “tạonên toànbộ sựkhácbiệt”.
(Lacouperie, ibid., tr. 38–39)

Vềmặt dântộchọc, khácvới phần thảoluận ởtrên về người tiền‑Hán và ngườiHán, Lacouperie còn môntả về tổtiên Bak của ngườiHán sơkỳ (sđd., tr. 116–119), khi ông chứngminh rằng

Đặctính nổibậtnhất của những mốiliênhệ giữa nền vănminh sơkỳ của ngườiHán cáchđây 4000 năm và trungtâm vănhóa cổxưa hơnnhiều ở TâynamÁ là: chúng chỉlà những sự môphỏng và vaymượn hiểnnhiên. Chúng khônghề có tínhnguyênthuỷ, và tựthân chúng đã chothấyrằng họ không xuấtxứ từ một nguồngốcchung. Chúng mang những dấuvết thườngthấy của sựbấttoàn, kếthợp khôngđồngđều với mộtsố điểm trùngkhớp hoàntoàn — những đặcđiểm vốnluôn đikèmvới các yếutố thuđược qua một quátrình giaotiếp xãhội dàilâu, chứ khôngphải do ai dạycho, hay tìnhcờ họchỏi qua sáchvở hay chuyêngia.

Tên Bak [百 HN Bách] (nay đọc là Peh [Běi]) của những ngườiHán didân nguyênthuỷ cónghĩalà “thịnhvượng, đôngđảo, tấtcả”, và cũng mang nghĩa “trăm”. Nhưng trong các cách dùng như Peh singbátính”, Peh kuanbáquan”, Peh Liao “tấtcả quanlại”, Peh Yueh [百越] “BáchViệt”, v.v., thì khôngthể hiểutheonghĩa sốlượng, vì các hạngmục này hoặc gồm hàng trăm (như ba vídụ đầu), hoặc chỉ vài nhóm (như vídụ cuối). Trong toàn bộ Thưkinh [書經], chữ bách này luôn được dùng với nghĩa “một tổngsố khôngxácđịnh”.

Thựctế, cụmtừ Peh sing — vốn xuấthiện ngay từ buổisơkhai của lịchsử ngườiHán và từng bị gán cho vôsố giảthuyết vôcăncứ — chưabaogiờ cónghĩalà “trămhọ”, và điều này có nhiều lýdo. Sựhiểulầm ấy dựatrên việc Peh Jia sing, tức “báchgiatính” , gồm khoảng 460 họ, chỉđược biênsoạn dưới Đời Tống (sau năm 960), khiđó số họ đã tănglên rấtnhiều sovới thuởbanđầu. Hơnnữa, việc dùng họ mộtcách cóhệthống cũngkhông lùixa hơn thời Khổng Tử (551–479 tr.TL). Và khi ràsoát kỹ danhsách này, ta chỉ tìmthấy khoảng 16 họ cóthể truyvề tận buổisơkhai của ngườiHán ở Trunghoa — và consố này chỉ đạtđược nếu tính luôncả vài họ được chép trong truyềntích sớm rồi biếnmất vềsau.

Vìvậy, vì thuậtngữ Peh sing — tức “Bátính” — đã tồntại ngaytừđầu như một têngọi tựchỉ của ngườiHán, nên chữ Peh, tức Bak cổ, khôngthể mang ýnghĩa “trăm”, mà đúnghơnlà “tấtcả, đôngđảo, thịnhvượng”, như đã nêutrên, nếu nghĩa ấy còn đượchiểu nhưvậy. Còn nghĩa “trăm”, vốn xưa đọclà bar, chỉlà một âm đồngdạng trong hệ thống ngữâm hạnchế của ngườiHán, và được viết bằng cùng một kýhiệu chỉvì sựtươngđồng ngữâm — một sựtươngđồng chỉ đúng trong phạmvi tiếngHán.

Bak là một tộcdanh, và khônggìkhác. Bằngchứng là những tên tươngtự — tuy được viết bằng các tựpháp khác nhau — mà họ đặtcho nhiều kinhđô sơkỳ: PUK, POK, PAK, những tên được biếttới saunày, và sự tươngđồng của chúng với Pak, Bak là khôngthể phủnhận. Ở vùng đất mà họ xuấthành, Bak là một tộcdanh quenthuộc: vídụ như Bakh trong Bakhdhi (Bactra), Bagistan, Bagdada, v.v., và được giảngnghĩa là “maymắn, thịnhvượng”.

Một tộcdanh khác khôngkém phần quantrọng là chữ nay đọclà 夏 Hạ, cũng đọc sha trong mộtsố hìnhthức hìnhthanh, và vốnlà tênriêng của một bộlạc dẫnđầu trong nhóm didân khi họ địnhcư ở “một vùng nhỏ phía Tâynam”. Về sau nó trởthành tên gọi của toàn thể ngườiHán. Các dạng cổvăn cho thấy hìnhthức nguyênthuỷ của nó cóthể là Ketchi, Ketsu, Ketsi, Kiitche, Kotchi, v.v. — tấtcả đềulà những cốgắng vẽ đồhình ghinhận âmđíchthực bằng hệthống chữviết ‘giảtá’ (acrologic – 假借) với âmtiết còn thôsơ thờibấygiờ. Ta cóthể lấy Kütche làm dạngtrunggian. Tên này rất giống tên của người Kashshi ở vùng đôngbắc Lưỡnghà; và dù ta khônghề giảđịnh một quanhệ huyếtthống nào, sự tươngđồng này cóthể phátxuất từ một ýnghĩa chung phùhợp với cả hai.

Việc phântích sách Peh kia sing cho thấy ngoài những họ nguyênthuỷ, danhsách này còn gồm các tên bảnđịa được đưavào khi những bộlạc bảnđịa gia nhập cộngđồng Hán, nhưng chủyếu là các tên vùngđất bảnđịa được bancho các thuộcthần Hán như phongấp hay lãnhđịa. Ngay cả các tướchiệu của những thủlĩnh Hán sơkỳ ở Hoa-Hạ cũng được vaymượn từ tên các vùng bảnđịa mà họ chinhphục. Nhưng việc khảo sát toàn bộ những tên riêng này — tộcdanh và địadanh — sẽ vượt quá phạmvi của côngtrình hiệntại.

Về thứtiếng sơkỳ của các bộlạc Bak và sựpháttriển của nó thành nhiều phươngngữ quantrọng, chúngtôi khôngtrìnhbày nhiều ởđây, vì điềunày vượt ra ngoài mụcđích của sách. Ở chỗkhác, chúngtôi có đềcập đến một số đặctính của nó, cũngnhư sựhìnhthành của hệ tưtưởng (§§ 20–26) và thanhđiệu (§§ 117, 230). Việc giảithích khoảngcách giữa thứtiếng sáchvở 2  và các khẩungữ hiệnnay đòihỏi một sựtrìnhbày dài và phứctạp, khôngthể thựchiện trong phạmvi này. Tuynhiên, sơđồ sauđây liệtkê những ngônngữ, phươngngữ, và thổngữ quantrọngnhất, kèmtheo ướctính niênđại phânnhánh của chúng. Đâylà nỗlực đầutiên nhằm phânloại chúng, và vìthế vịtrí tươngđối của mộtsố phươngngữ và thổngữ chỉ mangtính tạmthời. Còn rấtnhiều côngviệc và điềutra cầnđược thựchiện trướckhi một bảngphânloại hoànchỉnh cóthể được xáclập. Tổngsố phươngngữ và thổngữ — hiang fan (hươngâm) hay các thổâm — được ướctính xấpxỉ bằng số ngày trong năm (360). Và dù consố này khônglàm thayđổi các đườngnét chính của bảngphânloại dướiđây, cũngnên nhớ rằng “tổngsố tên được liệtkê chỉbằng mộtphầnchín của tổngsố thực.”

Hình 2 — Sơđồ lịchsử tổngquát của ngữhệ Hán


1  Pak được viết trong cổvăn (Ku‑wen) bằng dạngcổ của chữ 貝 Pei, kết hợp với 下 Ke (về sau đọc là hia [夏 HV Hạ]) đặt phíatrên, hoặc với 弓 Kao đặt phíadưới và được đọclà P‑k [sic]. Trong Đạitriện (Ta‑tchuen 大篆), Pak sing đôi khi được viết thành một chữ ghép: 生 sing ở trên và 目 Buk/Muk ở dưới [𤯣=姓], hoặc đặt trên một dạng cổ của chữ 百 Pak. Trong chữ viết hiệnđại: 百姓.

2  Một sựhiểulầm lâuđời về bảnchất thật sự của tiếngHán — vốn banđầu chỉđược biếttới qua dạng sáchvở giảtạo, viết bằng các kýhiệu tượngý, về sau mới trởthành âmtiết, và bị tưởnglầm là ngônngữ nóilời chânthực — khi kết hợp với một sựhiểulầm khác về giátrị phi‑lịchsử và phi‑kýức của 1720 “từcănnguỵ” do các Bàlamôn Ấnđộ đặtra khi phântích tiếng Phạn, đã dẫndắt phầnlớn các nhàngônngữhọc đi lạchướng chođếntận ngàynay, và trong thời gian dài đã cảntrở sựtiếntriển của ngônngữhọc. Các họcgiả tiềnbối đã xâydựng một thuyếtđơnâmthuầnlý dựatrên ba dạng “đơnâmtiết” duynhất từng tồntại, đơnâmtiết của chữviết, đơnâm của sựthoáihoá ngữâm, và đơnâm của lờinói — và từđó ngộnhận rằng tiếngHán thuởbanđầu là một ngônngữ gốc đơnâmtiết, trongkhi thựctế các dạng “đơnâmtiết” này đều là hiệntượng muộnmàng trong lịchsử ngônngữ.

Bảng 2 — Tựđiển Háncổ lưugiữ các tầng tiền‑Hán (先華族)

TựđiểnNiênđại / TriềuđạiSoạngiảCấutrúcChứcnăngLiênquan đến nghiêncứu tiếngViệt
爾雅 (HV Nhĩnhã)Tần / Tiền‑Hán (thếkỷ 3–2 tr.TL)Vôdanh; vềsau được gáncho các họcgiả Đời TầnSắpxếp theo chủđề ngữnghĩa (thựcvật, thúvật, thânthích, v.v.)Tựvựng giảinghĩa kinhđiển; là tựđiển Háncổ sớmnhất còn tồntạiBảotồn các từgốc phi‑Hán (先華族) còn lồng trong vănbản Đời Chu; chothấy cách từvựng BáchViệt (百越) và Tháicổ (Mon‑Taic 孟·傣) được đồnghoá thành “từHán”
Fangyan
方言 (HV Phươngngữ)
Đời Hán (thếkỷ 1 s.TL)Dương Hùng (揚雄, 53 tr.TL – 18 s.TL)Mụctừ phươngngữ được gomtheo vùngGhinhận các khẩungữ địaphương khắp TrunghoaTưliệu về các dạng BáchViệt, Thái, và những tầngnền khác; chothấy sự đađạng của các cộngđồng nóilời đã ảnhhưởng đến các lớp vaymượn tiếngViệt vềsau
Các tựđiển hậu‑kỳ (vídụ: 說文解字‘Thuyếtvăn Giảitự’)Hán
(thếkỷ 2 s.TL)
Hứa Thận
(許慎)
Sắpxếp theo bộthủ và chữ hìnhthanhChuẩnhoá chữviết và ngữâmChothấy cách từvựng hỗnhợp được mãhoá thành “Hántự chínhthức”, vốnlà nguồngốc của nhiều dạng từ Hán‑Việt

Ghichú:

  • Nhĩnhã có vaitrò thenchốt trong việc chỉra hiệntượng vaymượn ngữnghĩa: các từ chỉ thựcvật, thúvật, thânthuộc thường hélộ nguồngốc phươngNam.
  • Phươngngôn vôcùng giátrị đối với tínhđadạng của phươngngữ: nó ghinhận lờinói vùngmiền, vốn vềsau hoànhập vào cả các phươngngữ Hán lẫn tiếngViệt.
  • Kếthợp lại, hai nguồn này chothấy rằng Hánngữ vốnđãlà một ngônngữ hỗnhợp trước khi tiếngViệt vaymượn từ nó.

Về mặt ngônngữhọc, xét theo tìnhtrạng tưliệu vào cuối thếkỷ 19, Lacouperie (sđd., tr. 3–5) ghinhận rằng

“Những được đềcập trong các trang này khôngphảilà tấtcả, haylà đạidiện đầyđủ các tiếngnói từng được nói ở Hoalục khi ngườiHoa xuấthiện tại miền đất phìnhiêu ấy cáchđây chừng bốnnghìn năm. NgườiHoa chỉ đến xâmchiếm vùng này mộtcách chậmchạp và từngbước; và sự chiếmđóng tiếntriển ấy chỉ thựcsự hoàntất (trên danhnghĩa) vào thếkỷ trước [tức thếkỷ 18]. Mộtsố phầnđất ở các tỉnh phía Nam và Tâynam như Quýchâu, Tứxuyên, Vânnam, Quảngtây và Quảngđông vẫncòn có những bộtộc cưtrú phântán và không‑phântán — những đạidiện, thườnglà đã tạpchủng, hỗnhợp và thoáihoá, của các dântộc từng làmchủ vùngđất này. Vìthế, cụmtừ ‘các ngônngữ tiền‑Hoa của TrungQuốc’ hàmnghĩa một khoảng thờigian vôcùng dàidẵng, vẫncòn tiếptục chođếnnay, và sẽ đòihỏi một côngcuộc nghiêncứu khổnglồ nếunhư tưliệu khảdụng được đầyđủ.

Đángtiếc là tưliệu lại hếtsức nghèonàn. Chúng chỉ gồm những chỗ ghinhận rờirạc, được ngườiHoa chéplại mộtcách miễncưỡng và cóphần khinhthường trong suốt lịchsử của họ, vì họ ít khi sẵnsàng thừanhận sựhiệndiện của các cộngđồng độclập và phi‑Hoa ngay trong lòng lãnhthổ của mình. Dù họ khôngthể chegiấu sựthật rằng chính nhànước họ là những kẻxâmnhập vào bảnthổ nơi mà họ gọilà Trungquốc, họ luôn cố dùng những mỹtự và những danhxưng địalý rộnglớn — những thứ dễ làm mờmắt những độcgiả thiếu cảnhgiác — để cheđậy khởiđiểm khá khiêmtốn của mình. Những manhmối nhưthế chỉcóthể thuđược qua sự khảosát kỹlưỡng các thưtịch cổ của họ: sửthư, biênniên, và địachí; trongđó, riêng đốivới biênniên, các tưliệu liênquan phảiđược tìm trong những phần viếtvề ‘ngoạiquốc’ — mộtcách sắpxếp cóvẻ lạlùng, nhưng khônghẳn vôlý nếu ta xét sựthật từ một phươnghướng khác với lạchướng của các họcgiả cổHánngữ, những người vốn tinvào tínhvĩnhcửu và tầmquantrọng thườnghằng của dântộc Hoa.

Tuy ngườiHoa rất cẩnthận ghilại trong hồsơ của họ mọi sựkiện xảyra giữa họ và các bộtộc bảnđịa, cùng tấtcả những gì họ có thể biếttới về các tộc ấy, họ lại khôngthể biếttới những biếnđộng — về ngônngữ và chủngtộc — diễnra ngoài tầmvới của họ. Vì thế, sự dịchchuyển của các sắctộc cổ, cũngnhư sựxuấthiện của những sắctộc mới, đã từng xảyra trong các vùng phi‑Hoa, nay đã trở thành mộtphần bảnsắc dântộc trên lãnhthổ Trungquốc. Các ảnhhưởng ngônngữ ngoạilai cũng từng hiệndiện; và về những ảnhhưởng ấy, chúngta chỉcóthể biếttới qua những dấuvết cònsótlại, nhờ đó ta cóthể phântích những đặctrưng riêngbiệt của chúng.”

Về mặt cúpháp, ítnhất cóthể nóirằng: xét ảnhhưởng ngônngữ phươngNam đốivới tiếngHán, theo Lacouperie (sđd., tr. 16–17):

“Hiệntượng hậuđịnh sởhữu (đặt sởhữu từ sau danh từ), vốn xuấthiện khônghiếm trong các bài dânca của Kinhthi — nơi mà khôngthể xem đó là một phép thihoá — do ảnhhưởng có nguồngốc khác, và là đặcđiểmchung của các ngônngữ Môn-Tháicổ (Mon‑Taic).” […] “Còn về vịtrí của tântừ đối với độngtừ, và về trậttự cúpháp Chủtừ + Độngtừ +Vịngữ [ Subject+Verb+Object ] làm tiêuchuẩn — đốilập với các cúpháp thuầntuý Ural‑Altaic mà tiếngHán từng sởhữu — thì khôngcòn nghingờ gì rằng tiếngHán đã hấpthụ đặcđiểm này từ các ngônngữ bảnđịa Môn, và vềsau từ hệ Thái‑Shan (Taic-Shan).” […]

“Về ngữâm (phonesis), hìnhthái (morphology), và ngữnghĩa (sematology), bảnthân ngônngữ cũng mang những chứngtích về ảnhhưởng mạnhmẽ của các ngônngữ bảnđịa. Sự nghèonàn ngữâm và sựxuấthiện rồi pháttriển của thanhđiệu — như một cơchế cânbằng để bùđắp những suyhao ngữâm — đều là kếtquả của cùng một ảnhhưởng ấy.

Trong quátrình tạotừ, hệthống hậuđịnh các tiểutố chỉđịnh khônggian và thờigian, vốn phổbiến trong khối ngônngữ Ugro‑Altaic, đã bị xáotrộn trong tiếngHán; và thườngxuyên, một hệthống tiềnđịnh đã thaythế hệthống cổhơn.

Saucùng, trong lĩnhvực ngữnghĩa, ta cũngphải chỉra một ảnhhưởng bảnđịa khác: thóiquen dùng các trợtừ sốlượng, hay các tiểutố loạitừ (classifier). Nếu thóiquen này không hoàntoàn xalạ với hìnhthái cổ của tiếngHán, thì nó cũng sẽ không chiếm vịtrí trọngyếu như trong các phươngngữ hiệnđại.”

“Tựvựng — vốn trái với thóiquen thườngthấy — khôngđược khảoxét trướctiên, nhưng lại tiếntriển songhành với các biếnđổi kểtrên. Việc vaymượn từvựng đã diễnra mạnhmẽ ở cả hai phía, bảnđịa và Hán, và đạtđến một mứcđộ đángkể.”

Những đặctrưng ngônngữ được môtả ởtrên là xéttheo cáchnhìn của ngườiHán, như chúng đãđược đặtvào bốicảnh lịchsử. Vào thời nhàChu (1050–255 tr.TL), nướcSở là một trong những cườngquốc lớnnhất, thuộc một nền vănminh phi‑Hántộc, với lãnhthổ trảidài từ Anhuy, Hàbắc đến Hànam, và một vùng biêngiới torộng khóxácđịnh. Ở phíađông của nướcSở là các nước Ngô và Việt, đều phi‑Hoa phi-Hán, baotrùm các tỉnh Giangtô và Triếtgiang vào khoảng năm 584 tr.TL; vềsau nướcNgô bị nướcViệt thôntính vào năm 473 tr.TL.

Vào cuối thếkỷ 4 tr.TL, triếtgia Mạnh Tử ghinhận rằng người nướcSở — bị gọilà ‘Man’ — nóilời bằng một thứtiếng thethé khácvới tiếng của nướcTề (nay là Sơnđông). Cũng cần chúý rằng tên các vị vua của Ngô và Việt mang hìnhthái phi‑Hoa rõrệt; vì thế, các nước ấy và nhiều nước khác đều cầnđến thôngngôn trong bộmáy hànhchính của nhàHán. (Lacouperie, sđd., tr. 20–21)

Trong thời chúngta, ta có trongtay bộ Nhĩnhã (爾雅), chứa hàngtrăm từvựng địaphương, từng được dùng như một côngcụ giaotiếp chung giữa các quốcgia thời cổ. Mộtmặt, nó đượcxem như một ngônngữ ngoạigiao liênquốc; mặtkhác, thựcchất Nhĩnhã là một tựđiển do nhàChu biênsoạn, thuthập các từ thôngdụng — kểcả các ngônngữ phi‑Hoa — kèm giảithích, và có rấtnhiều từghép, từkép, từláy, cặpđôi, một đặctrưng tiêubiểu của các ngônngữ Thái‑Shan, vốn thườnggặp trong Kinhthi (詩經).

Thựctế, “nó chứa nhiều từ dườngnhư chưatừng được dùng trong bấtkỳ vănbản Hánngữ nào đúngnghĩa. Đólà những từ vùngmiền vaymượn từ các hệ khác, và chỉ cóthể được biểuthiện bằng chữHán thôngqua các hìnhthức đồngâm giảtá dùng làm kýhiệu ngữâm. […] Có không dưới 928 từ — khoảng mộtphầnnăm tổngsố — không xuấthiện ở bấtkỳ đâu ngoài Nhĩnhã.” (Lacouperie, sđd., tr. 23)

Tuynhiên, theo Lacouperie, côngtrình quantrọng nhất lạilà Phươngngôn (方言) của Dương Hùng (楊雄 53 tr.TL – 18 s.TL). Vào thời ông, sựchúý đặcbiệt được dànhcho từvựng địaphương. Trước Dương Hùng, nhiều họcgiả đã sưutầm hàngnghìn từ địaphương, và những tưliệu ấy được ông sửdụng và điềuchỉnh, nâng tổngsố lên đến khoảng 9000 từ, sắpxếp theo chủđề, thu thập từ 40 vùng — nhiều vùng chỉ ‘mang tên Hán’, và nhiều vùng hoàntoàn phi‑Hoa như Hàbắc, Anhuy, Hồbắc, Hồnam, Giangtô, Triếtgiang, Quảngđông, Quảngtây, Tứxuyên, v.v., nay đều thuộc Trungquốc hiệnđại.

Vềsau, các thếhệ tiếp theo bổsung thêm, nâng tổngsố lên đến 12.000 từ. Cần chúý rằng các từ trong côngtrình đặcbiệt này là kếtquả của nhiều thếkỷ thuthập, trongđó có nhiều tênnước chưatừng tồntại trước thời ông, như NamViệt (南越), Quýchâu (貴州), Tương (湘), và thậmchí cả nướcTần (秦國), vốn đã bị diệt và phânchia vào năm 436 tr.TL bởi các nước Hàn, Vệ, Triệu, v.v. (Lacouperie, sđd., tr. 25, 29)

Do đó, trong tìnhhuống nhưvậy, các kýhiệu Hánngữ được gáncho những từ được ghinhận đãđược phát-âm khácnhau qua từng thời, và đólà một vấnđề nghiêmtrọng cầnđược xemxét.

“Điềunày trởnên rõràng qua sựthật rằng các khácbiệt về ngữâm thường được chỉđịnh bằng những kýhiệu có âmđọc đã đồngâm từlâu. Tuynhiên, phươngtiện tốtnhất để khởiđầu, và chịu ít biếnđổi vềsau nhất, chínhlà những âm được bảo tồn trong tiếng Hán-Việtcổ (tiếng Hán-Annam), dạng cổnhất trong các phươngngữ Hán. Điều ngoạilệ duynhất cần lưuý là sự ‘cườnghoá’ và ‘cườngđiệu’ mà cách phátâm phươngngữ này biểuthị cólẽ quámức, và mộtnửa độmạnh của nó cóthể là do những đặcđiểm bảnđịa của chính phươngngữ ấy.”

(Lacouperie, sđd., tr. 29)

Khi nhắcđến “Hán‑Annam”, đượcgọilà “Hán‑Việt” (HV) trong bài này, Lacouperie không chỉ muốn nóiđến từvựng Hán‑Annam mà cònlà một thứ ngônngữ họcthuật được xemnhư là một phươngngữ, tươngtự như Quảngđông hay Phúckiến.

“Ở Annam có hai thứ tiếng đượcdùng. Mộtthứ chỉđược giới nhàNho thuần, với những âmcổ của thời Tần [Lacouperie: ‘hay /Tan/’, tức 秦 Qín, SV Tần, ‘Chine’] gắnvào các chữviết. Đóchínhlà Hán‑Annam, chính phươngngữ này, mà với những suythoái và tựphânhoá cầnđược tínhđến, thậtsự xứngđáng đượcxem là cổnhất trong các phươngngữ Hán.

Điều đángchúý là sựtồntại của nó, trong nhậnthức của nhiều họcgiả, khôngđược táchbiệt khỏi thứ tiếng còn lại — tiếng Annam khẩungữ hay tiếng Cochin‑Chinese [ ởđây đượcgọilà tiếng Hán-Nôm]— vốn thuộc, theo sựcôngnhận John Logan, là nó cùng một họ với tiếng Môn hay Peguan, dù thứtiếng nầy chứa đầyrẫy các thànhngữ Hán.” [(1)]

(Lacouperie, sđd., tr. 54)

Vào thờiđiểm xuấtbản sách của ông, năm 1886, Lacouperie (sđd., tr. 55) ghinhận rằng ở Annam có ba hệthống chữviết được dùng: (1) chữNho (字儒), (2) chữNôm (字喃), (3) chữQuốcngữ (字國語), mà đặctrưng của chúng đãđược thảoluận trong bài này và ở những nơi khác bởi các nhà Hánhọc và chuyêngia Việtngữ, tấtcả đều mô tả tươngtự nhau.

Tấtcả những điềuấy đã nói, tácgiả xin lưuý rằng nhiều từvựng Môn‑Thái được Lacouperie liệtkê là “Mon‑Taic” hầunhư không tìmthấy những đồngnguyên khảtín trong tiếngViệt hiệnđại. Dù tácgiả chỉ liênhệ đến phần dântộchọc phi‑Hán của nước ông — tức đấtnước Conrồngcháutiên (龍種), được cholà thuộc chủng Môn‑Thái — bắtđầu từ Vua Kinhdương (京陽王, HV Kinhdương Vương), mà Kinhdương vốn là một địadanh gần kinhđô nhàTần ở Thiểmtây. Kinhdương Vương là con của một vịthủlãnh LạcViệt mà truyềnthuyết Việtnam gọilà Lạclongquân và Bà Âucơ thuộc dòngdõi tiên (tộc Bành 彭 Pong hay Bànhồ 盤瓠 Pan-hu, như Lacouperie đã đềcập, vốnlà tổtiên của chủngtộc Tháicổ); vìthế mớicó cáchgọi ‘conrồngcháutiên’ trong truyềnthuyết Việttộc. Vua Kinhdương lấyvợ ở Độngđìnhhồ (洞庭湖, thuộc Tỉnh Hồnam Trungquốc), cũng thuộc dònggiống Rồng.

“Vua Lạclong [Lạclong Quân 雒龍君], kếtquả của cuộc hônnhân ấy, là vịvua đầutiên trong một loạt mườitám vịvua caitrị, vị cuốicùng chấmdứt vào năm 207 tr.TL. Với giảđịnh mỗi triều kéodài haimươilăm năm — mức trungbình caonhất cóthể — thì những dữliệu giảđịnh này dẫnđến khoảng năm 800 tr.TL như niênđại khảdĩ của những khởiđầu ấy, tức vàolúc nướcSở (楚 Ts’u) ở Hồbắc và Hồnam đang thời thịnhvượng.”

“Ranhgiới của vươngquốc các vị vua Annam đầutiên, theo truyềnthống, là: phíađông giáp biển, phíabắc giáp Hồ Độngđình, phíatây giáp Ba và Thục — đều là têngọi của Tứxuyên — với một vịvua trị vì nămmươi năm, kếtthúc vào năm 202 tr.TL khi triềuđại thứba bắtđầu. Triềuđại này chínhlà triềuđại do người kếvị Nhâm Ngao (任囂 [HV Nhâm Hiêu]), Triệu Đà (趙佗 Tchao T’o), một tướng người Tần phảnloạn, lậpnên, thốngtrị toànbộ các tỉnh duyênhải phươngnam, từ Phúckiến đến Đôngkinh (東京, Tonkin, BắcViệt). Triềuđại này tồntại qua năm đời vua cho đến năm 112 tr.TL, khi nhànước này quyphục quyềnlực nhàHán, dù sựquyphục này chỉcó trêndanhnghĩa ở mộtsố nơi và chínhquyền khônghề được thiếtlập ở phíađông. Từđótrởđi, với lệngoại ba năm (39–42 s.TL), nó được côngnhận cho đến năm 186 s.TL, khi vị Tháithú Sĩ Nhiếp (士攝 Si‑nhip), trịvì bốnmươi năm. Chính ôngta là người đã dunhập chữHán và cấmcản việc dùng lốichữ kýâm mà ngườiAnnam từng dùng trướcđó.” (Lacouperie, sđd., tr. 53–54)

Khi ta quy các cưdân nướcSở là hậuduệ của các sắctộc Thái bảnđịa — những tộc đã sinhra các ngônngữ Tày-Nùng ( theo Lacouperie gọilà Dai‑Kadai, Taic‑Shan, Mon‑Shan, Mon‑Taic) và các ngônngữ tiền‑Hán Môn‑Khmer bảnđịa (mà tácgiả bài này gọilà Taic‑Yue, Yue, Daic, Tai‑Kadai, Austroasiatic, Mon‑Khmer, v.v.) — thì đốivới các sắctộc sau, Lacouperie viết rằng:

“Tổtiên của ngônngữ và vănminh Annam, và mộtphần của chủngtộc họ, phảiđược tìm ở miềnTrung và miềnĐông Trungquốc. Sử chéprằng cưdân phươngnam xưa, từ Quảngđông đến Đôngkinh, đều bị dờidịch hoặc hoànhập với nửatriệu dândicư được Nhâm Ngao đưa xuống vào năm 218 tr.TL, phầnlớn từ vùng Triếtgiang và phíatây của nó.” (Lacouperie, sđd., tr. 52)

Về liênhệ Môn‑Shan, tácgiả Lacouperie dẫnra nhiều ngônngữ bảnđịa, đặcbiệt là của “Paloungs” (勃弄 Po‑lung, Palaung), một ngônngữ thuộc ngữchi Môn‑Talaing, mà cưdân của nó địnhcư ở tâybắc Vânnam, vềsau bị Vươngquốc Namchiếu (南詔) của các bộtộc Shan chinhphục vào thếkỷ 7.

“Chúngta có hai bảng từvựng tiếng của họ: một bảng 200 từ thu thập năm 1858 bởi Giám mục P. A. Bigandet, được John Logan khảosát và qua đó ông nhậnra quan‑hệ Môn‑Annam của ngônngữ này. Một bảng khác được bác sĩ Hohn Anderson thuthập trong chuyến thámhiểm tâynam Vânnam. Bảng sau ít bị phatrộn từ Shan hơn bảng trước. Các chỉsố về ýthứchệ của nó là 2 4 6 8 VI (tức trậttự cúpháp: tínhtừ và sởhữu từ đứng sau danhtừ, v.v., giống tiếngPháp), điềunày xácnhận chứngcớ từvựng.”

“Như ta đãthấy ở các đoạn 31–33, ngônngữ được nói ở nướcSở khôngphảilà một phươngngữ Hán. Và lời tuyênbố của Hùng Khí (Hung K’iü), vua nướcSở từ 887–867 tr.TL, rằng ‘Chúngta là Man‑y (Mandi, tức phi‑Hán), và chúngta không mang tên Hán’, chỉlà một xácnhận khôngcầnthiết. Những từ được trích từ Sở Phươngngôn dễdàng được nhậndiện là thuộc từvựng Môn và Taic‑Shan theo tỷlệ ngangnhau, khi chúng khôngchỉ đơnthuần là Hánngữ bị biếnđổi. Và tươngứng ngữâm thườnggặp nhấtlà k hoặc h thaycho âm l của tiếngHán, điều vẫncòn tồntại trong ngônngữ hiệnđại.”

(Lacouperie, sđd., tr. 55–56)

Tómkết: những pháthiện chính của phầntrên:

  • Chứngcớ gópnhặt: Hiểubiết về các ngônngữ tiền‑Hán rất hạnchế, chủyếu được bảotồn trong những ghinhận miễncưỡng của ngườiHán và các tưliệu rờirạc.
  • Ảnhhưởng phươngNam: Các ngônngữ Môn-Tháicổ đã địnhhình cúpháp Háncổ (hậuđịnh sởhữu, trậttự SVO), ngữâm (hìnhthành thanhđiệu, giảnlược ngữâm), và ngữnghĩa (hệthống loạitừ).
  • Vaymượn từvựng: Sựvaymượn haichiều diễnra mạnhmẽ giữa tiếngHán và các ngônngữ bảnđịa, đểlại một lớp từvựng chung đángkể.
  • Tưliệu vùngmiền: Các tácphẩm như NhĩnhãPhươngngôn của Dương Hùng bảotồn hàngnghìn từ địaphương và phi‑Hán, phảnánh nhiều thếkỷ giaotiếp và dịchchuyển.
  • Các nước Sở, Ngô, Việt: Những nhànước phi‑Hán hùngmạnh dưới thời nhàChu duytrì ngônngữ riêng, khiến bộmáy hànhchính Hán phải dùng thôngngôn.
  • Disản Hán‑Việt: Thứtiếng gọilà “Hán‑Annam” bảotồn các âm Háncổ, vừa là một ngônngữ họcthuật, vừa là cầunối với tiếngViệt khẩungữ.

Về các từ thuộc ngônngữ “Paloungs” (勃弄 Po‑lung), một ngônngữ thuộc ngữchi Môn, trong bài này tácgiả tríchdẫn chúng dưới dạng “Palaung” từ bảng 249 từ trong bảngliệtkê do Luce G. H. (1965) côngbố (xem Vietnamese Vocabulary between Austroasiatic and Sinitic Lineages).

Tácgiả nhậnra một số tươngđồng thúvị trong các mụctừ được Lacouperie tríchdẫn, dù phầnlớn các đồngnguyên mà ông đềxuất được xem như các từ vaymượn từ những ngônngữ bảnđịa “Tai‑Shan” và “Mon‑Taic”. Điểm cốtlõi là mối liênhệ giữa tiếngViệt và các phươngngữ Môn‑Taic tiền‑Hán, kể cả Môn‑Khmer, khá lỏnglẻo. Tính đồngnguyên của chúng khôngđược xáclập vữngchắc như giữa các phươngngữ Hán như Quảngđông hay Phúckiến, vì những lýdo đã thảoluận ở các chương trước. Lacouperie có nêucập một số tươngứng đángchúý: chẳnghạn, trong các phươngngữ Tai‑Shan của tộc Zhongjiazi (còn gọi là “Tchung Miao”), dạng lấpláy 田丁田丁 tien‑ting tien‑ting tươngứng với tiếngViệt ‘thằng’, còn 媚娘 méiniáng tươngứng với ‘vợlớn’.

Tuynhiên, những tuyênbố của Lacouperie Môn‑Annam rằng thờiđầu mộtphầnba trongsố 28 từ cơbản của “Tchung Miao” là đồngnguyên với tiếngViệt cóvẻ bị thổiphồng. Nhiều dạng như 阿妹 ami → em (HV amuội), 家奴 jianu → ngườinhà (HV gianô), 家公 ch’ia kung → ôngchủ (HV giacông), và 家婆 ch’ia pu → bàchủ (HV giabà) được giảithích thuyếtphục hơn nhưlà đồngnguyên với từ Hán. Họcthuật Việtnam hiệnđại cũng bácbỏ quanđiểm chorằng chúng thuần Môn‑Khmer, và thayvàođó các họcgiả trongnước đặt nhiều mụctừ này vào phạmvi Dai‑Kadai (Tày‑Thái) (Nguyễn Ngọc San 1993).

Đối với những người khôngchuyên, các bảngtừ này chothấy cách các biếnđổi ngữâm phânkỳ về mặt hìnhthái khi từ lantruyền qua các ngônngữ, đôikhi bị giảnlược thành những âmtiết rờirạc bấtkể nghĩagốc. Qua nhiều thếkỷ — đặcbiệt trong thiênniênkỷ Việtnam dưới thời Bắcthuộc — từvựng biếnđổi cả theo trục thời gian (diachronic) lẫn trục đồngđại (synchronic), với các từ vaymượn ănsâu vào từvựng. Điềunày làm phứctạp thêm nỗlực phânbiệt lớp từ bảnđịa thậtsự với lớp vaymượn khi phânloại nguồngốc ditruyền, nhấtlà giữa tiếngHán và tiếngViệt, nơi hìnhthức của chúng tươngứng nhau mộtcách đángkinhngạc.

II) Tínhhỗnhợp như một quychuẩn lịchsử

Thừanhận sựtồntại của “các ngônngữ ở Hoalục trướckhi ngườiHoa xuấthiện”, giảthuyết Hán‑Việt được củngcố bởi bảng 245 từ của Luce và các bảngtừ tươngtự. Khi lọcbỏ các yếutố bảnđịa, từvựng cơbản tiếngViệt cóthể được phânnhóm như sau:

  1. Từ khôngcó liênhệ Hán: tai (tai), mũi (mũi), bốn, bảy
  2. Đồngnguyên với Hán và Môn‑Tháicổ/Môn‑Khmer: mắt, mồmwěn, tayshǒu, gạodào, sắttiě
  3. Gần với Hán hơn sovới NamÁ hoặc Tày-Nùng: tiếngshēng, lửahuǒ, nhàjiā
  4. Tươngứng độcquyền chỉ giữa Hán và Việt: goáguǎ, liềmlián, sôngjiāng
  5. Từ cơbản khôngcó trong danhsách Môn‑Khmer: uốngyǐn, khóc, cườixiào, chuốijiāo

Dù từvựng cơbản tiếngViệt phầnlớn tươngứng với Hán, nhiều dạng cũng xuấthiện trong các ngônngữ lâncận. Điềunày chothấy những yếutố chung với Môn‑Khmer được giảithích hợplýhơn như kếtquả của tiếpxúc lâulâu, táiđịnhcư, và hộitụ loạihình, hơnlà bằngchứng của một nguồngốc thuần Môn‑Khmer. (2)

Kếtluận

Theo phântích của tácgiả Lacouperie, chứngcớ từ các từđiển cổ, sửký triềuđại và ngônngữhọc sosánh chothấy rằng “tiếngHán” khônghề sinhra như một ngônngữ đơnnhất, tựkhépkín. Nó hìnhthành từ một tậphợp đađạng các phươngngữ — BáchViệt (Yue), Môn‑Taic, tiền‑Altaic — lớplớp chồnglênnhau qua nhiều thếkỷ xâmnhập và thíchứng. Các bộtộc Bak, Thương, Chu và Hán đều tiếpthu từ ngoạilai, dệt lờinói và vănhóa của họ vào thứ ngônngữ mà vềsau được nhậndiện là ‘Hán’.

Đốivới tiếngViệt, tính hỗnhợp này cũng có tínhchất địnhdạng. Các từ vaymượn từ tiếngHán khôngđến từ một nguồn thuầnnhất, mà từ một ngônngữ vốn đã hỗnhợp. Vìthế tiếngViệt mang một trục liêntục của sự xâmnhập: gốc Việt (Yue) làmnền cho khẩungữ, tầng Môn‑Taic địnhhình ngữâm và cúpháp, và lớp Hán cungcấp từvựng hànhchính và nghi lễ.

Cách tiếpcận này táiđịnhkhung nguồngốc của các phươngngữ Hán và tiếngViệt, quađó tháchthức các diễnngôn dântộcchủnghĩa về sự thuầnkhiết và côlập. Nó khẳngđịnh rằng sựthấmnhập khôngphải làm lệchchuẩn màlà quychuẩn lịchsử. Ngônngữ tiếnhoá qua tiếpxúc, vănhóa thíchứng qua traođổi, và căntính được hunđúc qua hỗnhợp.

Thừanhận thựctế này giúp họcthuật vượtkhỏi những méomó ýthứchệ và hướngđến một cáchhiểu chínhxác, nhânbản hơn về ngônngữ lịchsử. Cả hai thứtiếng Hán lẫn Việt đềulà những kho tưliệu sống của sựthẩmnhập — là chứngtích cho sứcsángtạo của sựhoàtrộn vănhóa.

Sách Thamkhảo

Bình, Nguyên Lộc. 1987. Nguuồn gốc Mã lai của Dân tộc Việt nam (The Malay originsof the Vietnamese). Los Alamitos, Calif: Xuân Thu. Originally published: Saigon: Bách Bộc, 1971.

Bó Yáng 伯楊. 1985. 醜陋的中國人 Chǒulòu de Zhōngguórén (The Ugly Chinaman). Taipei: Yuănlíu Chùbăn Gōngsī 遠流出版公司 (Yuan-Liou Publishing Co).

Boodberg, Peter A. 1979. Selected Works of Peter A. Boodberg Compliled by Alvin P. Cohen. California: University of California Press.

Darwin, Charles. 1859. On the Origin of Species (150th Anniversary Edition). Florida: Bridge Logos Foundation

Erya 爾雅. (“Diplomat’s Speech”). Qin/Han‑era lexicon preserving non‑Chinese terms.

Fangyan 方言 (“Lects”). Yang Xiong’s Han‑era compilation of dialectal vocabulary.

Ferlus, Michel. 2012. Linguistic Evidence of the Trans-Peninsular Trade Route from North Vietnam. Thailand: Mahidol University; USA: SIL International (USA)

Haudricourt, André G. 1954. “Comment reconstruire le chinois archaïque,” Word 10 (1954). pp. 351-364) [ Chinese translation by Ma, Xue-Jin 馬學進. “怎樣 擬測 上古 漢語” (in “中國 語言學 論集”, pp. 198-226) 1977 ], Taibei: You Shi Wenhua Shiye Gongshi (幼 獅 文化 事業 公司)

Karlgren, Bernhard. 1957. Grammata Serica Recensa. (Reprinted from The Museum of Far Eastern Antiques, vol. 29, pp. 1-332. Stockholm. 1964)

Kiernan, Ben. 2017. Việt Nam: A History from Earliest Times to the Present. Cambridge University Press.

Nguyễn Ngọc San. 1993. Tìm hiểu về Tiếng Việt Lịch sử. Hanoi: Nhà xuất bản Giáo dục.

Phan, Hữu Dật. 1998. Một số Vấn đề Dân tộc học Việtnam. Hanoi: Đại học Quốc gia Hà nội.

Ruhlen, Merritt. 1994. The Origin of Languages: Tracing the Evolution of the Mother Tongue. New York: John Wiley & Sonm Inc.

Sima Guang. Zizhi Tongjian 資治通鑑 (Comprehensive Mirror to Aid in Government).

Sima Qian. Shiji 史記 (Records of the Grand Historian).

Tang Dynasty Records on Annam Đôhộphủ 安南督護府 (“Protectorate General to the Pacified South”).

Terrien de Lacouperie. 1887 (repr. 1966). The Languages of China Before the Chinese. London.

Han Dynasty Records on Jiaozhi 交阯 / 交趾 and Jiaozhou 交州.

FOOTNOTES


(1)^ Peguan là một thuậtngữ cổ dùng đểchỉ ngônngữ và vănhóa Môn, vốn tậptrung chủyếu ở vùng Hạ Miếnđiện (Myanmar). Thuậtngữ này dùng đểchỉ người Môn, ngônngữ NamÁ (Austroasiatic) và các truyềnthống của họ, đặcbiệt quanh Cốđô Pegu (nay là Bago).

(2)^ Hiện tượng tươngtự cũng cóthể được nhậnthấy trong các ngônngữ khác thuộc những nguồngốc khácnhau, dù chúng thường bị gom chung dưới nhãn Indo‑European — chẳnghạn như tiếngAnh (Anglo-Saxon) và tiếngPháp (vốn khôngcó nguồngốc “Gaulish”): ‘one’ ~ ‘un’ or ‘une’, ‘two’ ~ ‘deux’, ‘three’ ~ ‘trois’, ‘eye’ ~ ‘oeil’, ‘nose’ ~ ‘nez’, ‘tongue’ ~ ‘tongue’, ‘sun’ ~ ‘soleil’, ‘moon’ ~ ‘lune’, ‘fire’ ~ ‘feu’, ‘time’ ~ ‘temp’, ‘mountain’ ~ ‘montagne’, ‘wind’ ~ ‘vent’, ‘water’ ~ ‘eau’, ‘wine’ ~ ‘vin’, etc.

Leave a Reply

Discover more from ziendan.com

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading