Từđaâmtiết và Từnguyên Hán‑Nôm


by dchph in collaboration with Copilot

Parchment with Vietnamese cultural words in calligraphy and painting brush with ink
Một tấmtranh nghệthuật với những từvựng vănhoá đaâmtiết trong tiếngViệt. (C
reAited by dchph with Jetpack)

Việc xem tiếngViệt như một ngônngữ đaâmtiết chophép giảithích một cách mạchlạc sựkhácbiệt của nó sovới các môthức đơnâmtiết tự xuấtphát từ tiếngHán đã kếthợp tạonên hìnhthái đaâmtiết trong cảhai ngônngữ này, đồngthời giúphỗtrợ việc đánhgiá chứngcứ liênquan đến những từđồngnguyên thuộc hệ HánTạng và Hán. Cách nhìn này cũng mởrộng điềukiện sửdụng tàiliệu bổtrợ nhằm tiếpcận ngữâmhọc lịchsử của tiếngViệt và tiếngHán một cách nhấtquán hơn trong khungphântích đốichiếu.

Bảng liệtkê dướiđây gópphầnvào sựhìnhthành từvựng đaâmtiết trong tiếngViệt, gồm những mụctừ đượcchọn ngẫunhiên nhằm giúp độcgiả nhậnđịnh rằng:

1. TiếngViệt là một ngônngữ đaâmtiết,

2. Nó cầnđược viết theocách tựnhiên bằngcách kếthợp những âmtiết liênđới để hìnhthành một từ; điềunày giúp ngườiđọc hiểu vìsao một từ songâmtiết tiếngTrung khi chuyểnsang các từvựng tươngđương trong tiếngViệt cóthể khôngcòn tuântheo môthức cũ của các từvựng đơnâmtiết,

3. Giảithích được các triểnkhai từ những pháthiện khảtín của các tácgiả khác vốn ủnghộ giảthuyết về quanhệ ditruyền của những từ cơbản tiếngViệt đồngnguyên với cả Hán-Tạng và Hánngữ,

4. Phântích các tàiliệu bổtrợ như những côngcụ hữuích để tiếpcận ngữâmhọc lịchsử của cả tiếng Việt và Trung.



Chữtắc:
HV:  Hán-Việt (Sino-Vietnamese)
HN:  Hán-Nôm (Sinitic-Vietnamese)

I. Từnguyên Hán-Nôm và cấutrúc đaâmtiết

A) Một Hướngtiếpcận Cấutrúc và Ngữâm

Từvựng tiếngViệt đươngđại bị chiphối bởi tính songâmtiết, tức sựthịnhhành của các đơnvị từvựng hai âmtiết. Đặctrưng cấutrúc này đã trởthành mộttrongnhững dấuấn nhậndiện của tiếngViệt hiệnđại, thểhiện rõnhất trong những tổhợp gồm hai âmtiết-hìnhvị đồngnghĩa. Điều đángchúý là môhình này songhành với sựpháttriển của tiếngHán hiệnđại, nơi các từ songâmtiết đồngnghĩa cũngđược hìnhthành theocách tươngtự và thường đóng vaitrò làm mẫuhình cho các tổhợp tiếngViệt.

Những quan sát này đặt ra một câu hỏi trungtâm: từnguyên tiếngViệt có thể được hiểu trọnvẹn nếu chỉ dựa vào đơnâmtiết hay không? Bàiviết này chứngminh rằng câu trảlời là không. Chỉ khi xemxét tiếngViệt như một ngônngữ songâmtiết — tươngtự tiếngHán — ta mới cóthể giảithích hệthống biếnđổi ngữâm, nghĩapháisinh, và cấutrúc từvựng mộtcách nhấtquán.

B) Songâmtiết là một đặctrưng loạihình

Nhưvậy, tiếngViệt tự bộclộ chothấy là một ngônngữ vốndĩ đaâmtiết, thểhiện qua sự phongphú của các từkép mà trongđó hai âmtiết có phầnnào chồnglấn về ngữnghĩa. Thídụ: tứcgiận, trướctiên, cũkỹ, kềcận. Những cặp này biểuhiện một dạng “nhânđôi ngữnghĩa” vừa mang tính phongcách vừa mang tính từnguyên.

Tính songâmtiết khôngchỉ là một hiệntượng bềmặt mà là đặctrưng loạihình của tiếngViệt hiệnđại. Hàng chụcnghìn từ songâmtiết và đaâmtiết trànngập từđiển, dù được viết táchrời từng âmtiết. Nếu ápdụng lôgic đơnâmtiết sailầm của Barker (1966) cho tiếngViệt để nóivề tiếngAnh, tiếngAnh cũng sẽ trởthành đơnâmtiết — một nghịchlý chothấy sựhạnchế của cáchnhìn cũ.

C) Lịch sử tiếpxúc Hán-Việt và tầng đơnâmtiết cổ

Lịchsử tiếngHán và tiếngViệt cho thấy cảhai từng biểuhiện đaphần dưới dạng đơnâmtiết. Với Hán, điềunày dễ kiểmchứng qua cổthư hơn hainghìn năm. Với Việt, tưliệu chỉ tồntại khoảng mộtnghìn năm trước khi bị nhàMinh tiêuhuỷ phầnlớn vào thếkỷ XV. Tuyvậy, lớp từ cơbản chung vẫn chỉra một tầng đơnâmtiết cổ.

Sự tiếpxúc lâu dài giữa Hán và Việt đã tạonên một khônggian ngônngữ chung, nơi các tổhợp songâmtiết Hán được táicấutrúc vào tiếngViệt theo những quyluật riêng, nhưng vẫn giữ dấuấn của từnguyên gốc.

Vìsao điềunày quantrọng đối với từnguyênhọc tiếngViệt? Phântích kỹ các tổhợp songâmtiết sẽ làm lộra những quyluật biếnđổi âmvận giúp ta cóthể truyngược về các từnguyên gốcHán. Cả hai hướng từvị và ngữnghĩa đều có giátrị. Vềmặt từvựng, nhiều tổhợp tiếngViệt gồm hai âmtiết khôngphải là bảndịch đơnthuần, màlà những thích-ứng và đồnghoá tinhvi của các âmtiết Hán khácnhau.

Lấy thídụ tứcgiận (‘tứckhí’). Tổhợp này gồm hai âmtiết tức và giận, là hai hìnhvị gần đồngnghĩa. Đốichiếu Hánngữ là 氣 qì (HV ‘khí’, HN ‘tức’) và 恨 hèn (HV ‘hận’, HN ‘giận’). Tuynhiên, tổhợp 生氣 shēngqì (‘nổigiận’) lại là từnguyên hợplý hiệnđạihơn của tứcgiận nếu muốn gánghép từ ‘nổigiận’ với /shēngqì/ của tiếng Quanthoại hay phổthông ngàynay. Điều đángchúý: trậttự tiếngViệt bị nghịchđảo sovới Hán — một hiệntượng thường gặp trong các từvaymượn songâmtiết từ tiếngHán.

Tươngtự, từ trướctiên tươngứng với 首先 shǒuqiān (‘đầutiên’). Trước là biếnđổi từ âm Háncổ của 前 /qián/ (sosánh Hảinam /tai2/), còn tiên là dạng Hán-Việt của 先 /qiān/ (sosánh Hảinam /te1/). Trong cặpđôi này, từ Hán-Nôm trước thaythế cho từ Hán-Việt đầu (首 shǒu) theo cơchế liêntưởng hoàâm và đồnghoá, nơi hiệntượng chồnglấn kháiniệm dẫnđến việc ghépthành từkép trướctiên.

Thídụ cũkỹ /kʊw4kɪj4/ chothấy một môhình khác: kỹ là tiếngvọng lấpláy của âmvị cũ, nhưng lại gầnvới 舊 jìu (HV ‘cựu’, HN ‘cũ’) hơn về mặt ngữâm, gợiý một tầng từnguyên chồnglớp. Kềcận /ke̤2kə̰ʔn6/ cũng vậy, cóthể truyvề 靠近 kàojìn (HN ‘kềgần’) hay 接近 jiējìn (HV ‘tiếpcận’), đồngthời liênhệ với gầngũi, gầnkề — đều có hiệntượng nghịchđảo trậttự hìnhvị-âmtiết để phùhợp cấutrúc ngữpháp tiếngViệt. Tómlại, đâylà hìnhthái từláy, từlấpláy, haylà từ songâmđiệpvận:

  • 舊 jìu → kỹ → cũkỹ
  • 近 jìn → cận → kềcận
  • 愣 lèng → sững → sữngsờ (傻愣 shǎlèng), sửngsốt (愣住 lèngzhù)
  • 露 lù → lộ → lồlộ
  • 夢 mèng → mộng → mộngmị, mộngmơ (夢寐 mèngmèi)
  • 零 líng → lẻ → lẻloi (零丁 língdīng), lẻtẻ (零星 língxīng)

Tính songâmtiết xuấthiện muộn trong cả Hán lẫn Việt. Tuyvậy, các hìnhthức bảnđịa như trước, cũ, gần — đốilập với các dạng HánViệt tiên, cựu, cận — lạilà lớptừ cổhơn đếntừ tiếng Hán-Trungcổ, chỉra những từgốc chung. Chúng thamgia vào cùng một cơchế songâmtiết và mang những ngữcảnh tươngđương trong cả hai ngônngữ Hán và Việt.

Sựhộitụ này chothấy mứcđộ đanxen sâurộng giữa tiếngViệt và tiếngHán. Hai ngônngữ cùng chiasẻ những đặctrưng cấutrúc — đặcbiệt là songâmtiết — vốndĩ đã địnhhình quỹđạo biếnđổi ngữâm lịchsử. Những biếnđổi này không xảyra riênglẻ, mà trong một khung thốngnhất của các xuhướng ngữâm và hìnhthái chung.

D) Biếnđổi ngữâm theo cụm âmvận (mẻ âmvị)

Một trong những đóng góp quantrọng của hướngtiếpcận songâmtiết là nhậnra rằng biếnđổi âm không diễnra theo từng âm riênglẻ, mà theo cụm âmvận. Các dạng như:

  • /-jen > -ɨəwk/
  • /-aŋ > -at/
  • /-oŋ > -aw/
  • /-n > -i/
  • /-ương > -ang/
  • /-at > -an/
  • /-ai ~ ua/

không thể giải thích bằng đốiứng 1–1 giữa nguyênâm hay phụâm. Chúng là kếtquả của mẻ biếnđổi âmvị, nơi cả cụm âmtiết bị táicấu khi đivào tổhợp songâmtiết.

Biếnđổi âmđầu cũng tuântheo quyluật tươngtự:

  • /hw-/ > /fw-/ > /fai/ (huà → phải)
  • /x-/ > /k-/ /kʰ-/ (xīn → cúng)
  • /th-/ ~ /l-/ (thoại → lời)

Những biếnđổi này chỉcóthể hiểuđược khi đặtđể trong khung songâmtiết, khôngphải đơnâmtiết.

Khi tiếngHán tiếnhoá theo hướng songâmtiết, ảnhhưởng từvựng của nó lên tiếngViệt cũng biểuhiện dưới dạng songâmtiết. Khi các từ songâmtiết gốcHán đi vào tiếngViệt, chúng đivào như những đơnvị songâmtiết hoànchỉnh, không bị táchra thành các âmvị hay âmtiết riênglẻ. Điều này nhấnmạnh tầmquantrọng của môhình biếnđổi âm songâmtiết trong từnguyênhọc Hán-Nôm.

Lôgic của hướngtiếpcận này dựatrên cả tiếnhoá lịchsử lẫn phânloại ngônngữ. Nếu tiếngHán ngàynay được các họcviện hàngđầu trên thếgiới xếpvào nhóm ngônngữ đaâmtiết (polysyllabic language), thì tiếngViệt — vốn phảnánh nhiều đặctrưng cấutrúc nộitại của nó — cũngnên được xemlà ngônngữ đaâmtiết chứ khôngphảilà ngônngữ đơnâm (isolate monosyllabic language). Chỉ trong khungkhổ này ta mới hiểu trọnvẹn cách biếnđổi âm xảyra và vìsao các từ songâmtiết hiệndiện với hìnhthái như ta thấy ngàynay.

E) Tổhợp songâmtiết Hán và quátrình táicấutrúc vào tiếngViệt

Khi các từ songâmtiết gốcHán đi vào tiếngViệt, chúng đivào như đơnvị songâmtiết hoànchỉnh, không bị táchra thành các âmvị rời. Trong quátrình đó, chúng thường:

  1. đảongược trậttự (shēngqì → giậntức → tứcgiận)
  2. láyhoá (jìu → kỹ như trong cũkỹ)
  3. thaythế bằng yếutố bảnđịa (shǒuqiān → đầutiên → trướctiên)
  4. mởrộng trườngnghĩa (dōngxī → đôngtây → đồđạc)
  5. pháisinh ngữnghĩa mới (fèihuà → bahoa)
  6. Đây là quátrình táicấutrúc âmnghĩa, khôngphải bảndịch.

Chính lôgic songâmtiết này là nềntảng cho phươngpháp từnguyên được trìnhbày trong nghiêncứu này.

Khi xem từ songâmtiết như một đơnvị từvựng thốngnhất, phạmvi biếnđổi ngữâm trởnên đatầng. Quantrọng hơn: các biếnđổi này vậnhành độclập với những ràngbuộc chiphối từ đơnâmtiết. Một âmtiết có thể ứngxử ổnđịnh khi đứng mộtmình, nhưng lại biếnhoá khólường khi nằm trong tổhợp. Vìvậy, xem tiếngViệt là đơnâmtiết sẽ bỏlỡ giảthuyết trungtâm của nghiêncứu này: biếnđổi ngữâm phảiđược phântích qua lăngkính songâmtiết.

Xétvề bảnchất, chodù âmtiết của những từkép này đã biếnâm, chúng vẫn giữnguyên ngữnghĩa của từgốc với bảnsắc songâmtiết trong suốt quátrình biếnhoá vào tiếngViệt.

Hãy xem các thídụ sau:

  • 氣 qì → hơi, như trong 氣車 qìchē: xehơi
  • 生氣 shēngqì → giậntức (生 shēng, HN sống ứngvới giận)
  • 小氣 xiǎoqì → keokiệt (-kiệt) ~ 小器 xiǎoqì → keokiệt (-kiệt)
  • 客氣 kèqì → kháchkhứa (-khứa) ~ 客套 kètào → kháchsáo (-sáo),

Thídụ khác:

  • 家人 jiārén → ngườinhà (trậttự nghịchđảo: 家 jiā nguyênnghĩa nhà)
  • 人家 rénjiā → ngườita (jiā → ta)
  • 大家 dàjiā → tấtcả (jiā → cả) ~ cảnhà (大 dà → cả) (ngữnghĩa songhành)
  • 幫忙 bāngmáng → bênhvực, và bảnthân từ 忙 máng chora bận, mắc
  • 巴掌 bāzhǎng → bạttai ~ bàntay (ởđây bàn → bạt, tay → tai)

Khi chấpnhận nguyênlý này, ta sẽ hiểu vìsao có những biếnđổi như: /-ư > -a/, /-iê > -a/, /-au ~ -ông/, /-at ~ -an/, /-an ~ -ôt/, /-ai ~ ua/, v.v. Các đốiứng cứngnhắc kiểu “/-a-/ phải là /-ươ-/”, “/-ng/ phải là /-ng/”, “/d- phải là n-/” khôngthể nắmbắt được độnglực ngữâm rộnghơn.

Trên thựctế, biếnđổi ngữâm xảyra trong những ràngbuộc ngônngữ còn được địnhhình bởi yếutố vănhóa (‘mẹ’ ~ ‘mợ’) và thổngữ (‘kháchkhứa’). Chúng cũng đi theo những quỹđạo có quyluật trong một khônggian họhàng ngônngữ chung. Chẳnghạn, dù cut (Anh) và cắt (Việt) không đồngnguyên, nhưng 隔 gé [kə²] (HV cách) và cắt cóthể liênhệ khi đặt trong bốicảnh lịch sử tiếngViệt pháttriển cạnh tiếngHán, với lượng vaymượn lớn từ các phươngngữ Hán.

Vìvậy, nghiêncứu này chọn hướngtiếpcận songâmtiết làm trungtâm cho từnguyên Hán-Việt. Khi côngnhận bảnchất songâmtiết của tiếngViệt, ta vượtkhỏi cáchnhìn biếnđổi ngữâm như những sựkiện âmvị rời, và xem chúng như những biếnhoá động của toànbộ cụm âmtiết. Môhình này tươngtự sựtiếnhoá của các gốc đaâmtiết Latinh trong ngữhệ Ấn-Âu.

F) Hìnhvị bị ràngbuộc và nghĩapháisinh

Một đặcđiểm thenchốt của tổhợp songâmtiết là hìnhtiết bị ràngbuộc: /ba-/ và /-hoa/ trong bahoa không mang nghĩa độclập, mà kết hợp để tạo một đơnvị nghĩa duynhất: bahoa (‘vớvẩn’). Đâylà trườnghợp ‘một cộng một thành một — khôngphải là hai.’

  • 廢話 fèihuà → bahoa ~ baphải
  • 溫馨 wēnxīng → ấmcúng ~ sosánh馨香 xīngxiāng → thơmlừng (thơmlựng)
  • 開心 kāixīn → vuilòng ~ hàilòng
  • 高興 gāoxìng → caohứng ~ vuimừng

Một đặctrưng nổi bật của tổhợp songâmtiết là biếnđổi âm giữa hai âmtiết thường lệchxa dạng nguyênthuỷ. Những biếnđổi này không ngẫunhiên; chúng phảnánh các quátrình động táicấu cả âm lẫn nghĩa. Phântích sâu hiệntượng này giúp lýgiải vìsao nhiều từ Việt gốcHán nghe vừa khác âm vừa khác nghĩa so với từnguyên.

Nhiều biếnđổi âm trong một âmtiết của từ songâmtiết cóthể hélộ quyluật rộng hơn, nhưng cũng dễ khiến ngườiđọc nhầmlẫn rằng chúng bấtquytắc hoặc tuỳtiện. Nghiêncứu này chỉra rằng biếnđổi âm songâmtiết là có hệthống, có lịchsử, và là chìakhóa để nhậndiện kho từvựng Hán-Việt rộnglớn.

G) Các trườnghợp điểnhình: 廢, 話, 點, 馨, 場…

1. 廢 fèi → ba / bỏ

Xétlại thídụ 廢 fèi → /ba/. Về âm, cóthể hoàgiải; nhưng về nghĩa thì không. Ba trong tiếngViệt không liênquan gì đến ‘ba’ mang ýnghĩalà ‘cha’. Về kháiniệm, /fèi/ gần với /phế/ (cónghĩalà ‘bỏ’) và bỏ (nghĩa ‘loạibỏ’).

Điều quantrọng là /ba-/ và /-hoa/ riêng trong bahoa không mang nghĩa độclập trong tiếngViệt, đốilập với từnguyên Hán. Chúng là những hìnhtiết (hìnhvị-âmtiết) bị ràngbuộc, kếthợp để tạo một đơnvị nghĩa duynhất: bahoa (mang ýnghĩa ‘vớvẩn’). Một cộng một thành một — không phải hai. Baphải cũngvậy.

Ngượclại, tươngquan /bỏ-/ với /fèi/ dễ thấy hơn. Thídụ:

  • bỏphế 廢除 fèichú
  • bỏđi 廢棄 fèiqì
  • đồbỏ 廢物 fèwù (nghịchđảo )
  • bỏhoang 荒廢 huāngfèi (nghịchđảo)

Nhưng bỏ với ýnghĩatrên khôngchỉ từ fèi. Biếnđổi ngữâm trong các tổhợp songâmtiết Hán-Việt rất đadạng và phụthuộc ngữcảnh. Thídụ:

  • bãibỏ 排除 páichú
  • bỏphiếu 投票 tóupiào
  • bỏrơi 抛棄 pàoqì (~ bỏngõ)
  • bỏđi 離去 líqù (~ rađi)
  • bỏqua 放過 fàngguò (~ bỏlỡ)
  • bỏmặc 不理 bùlǐ
  • bỏlỡ dịpmay 放過 機會 fàngguò jīhuì
  • bỏtiền 放錢 fàngqián
  • bỏphí 白費 báifèi

Những thídụ này chothấy tổhợp songâmtiết Việt thường lệchxa cả âm lẫn nghĩa sovới Hán. Đây khôngphải ngẫunhiên, mà là kếtquả của táicấu âmnghĩa và đảongược trậttự để phùhợp ngữpháp tiếngViệt.

2. 話 huà → hoa / phải

Tươngtự, 話 /huà/ → hoa là hợplý. Nhưng vìsao /huà/ → phải? Quyluật /hw-/ > /fw-/ được chứngthực trong Quảngđông và Phúckiến. Trong tổhợp songâmtiết, /fwa/ dễ chuyểnthành /fai/, sinhra baphải. Còn /huà/ đơnâmtiết → ‘lời‘, với dạng Hán-Việt ‘thoại’. Môhình này songhành với 火 huǒ → lửa, 夥 huǒ → lũ, và phùhợp ngaycả khuônmẫu biếnđổi âmđầu /th-/ ~ /l-/, nghĩalà, ‘thoại‘ > ‘lời‘.

/hw-/ > /fw-/ > /fai/ → baphải

huà đơnâmtiết → lời (thoại → lời)

3. 點 diǎn → lên

Các biếnđổi khác:

快 kuài → mau

點 diǎn → lên

Trong ngữcảnh này, lên không cónghĩalà ‘leolên’, mà là tiểutố mệnhlệnh dướidạng trạngtừ, như “hurry up” trong tiếngAnh. Biếnđổi [tjen] → [len] là khảdĩ. 點 [tjen] có trườngnghĩa rộng với nhiều hìnhthức ngữâm khácnhau: tiếng, châm, chấm, tí, điểm, đếm… — phảnánh độmở trườngnghĩa của 點 trong Hánngữ.

Xem lênđây 上來 /shànglái/: /shàng/ ứng với lên, còn /-lái/ là tiểutố trạngtừ, còn /-đây/ tươngứng với 這 zhèi.

4. 馨 xīn → cúng

Xem trườnghợp 溫 wēn → ấm, một đốiứng trựctiếp. Nhưng vìsao 馨 xīn lại thành cúng? Rõràng đây khôngphải cúng 供 gòng (HV cống) trong ‘cúngdâng’. Điều này phảnánh một biếnđổi ngữâm: 馨 xīn còn đọc là /xīng/, với dạng HánViệt /hinh/, Hán-Trungcổ /xieng/ < /hing/. Phụâm /x-/ vòm mềm thường chuyểnthành phụâm môivòm /k-/ hay /kʰ-/ trong tiếngViệt. Sosánh 慶, 磬, 罄 đều đọc /qìng/ và cho dạng Hán-Việt khánh. Tuyến biếnâm này giảithích các dạng thơmlừng ~ thơmlựng, vốn từ 慶香 xīnxiāng (‘hươngthơm’).

5. 場 chǎng → nhiều dạng Việt

Điềunày cũng đúng trong tổhợp viết dínhliền vớinhau dướidạng đaâmtiết. Hãy xemxét them trườnghợp khác 場 chǎng (HV trường, tràng), chữ nầy đã chora nhiều từ trong tiếngViệt với nhiều dạngthức khácnhau:

  • 劇場 jùchăng → sânkhấu (HV kịchtrường)
  • 式場 shìchăng → trườngthi (HV thítrường)
  • 戰場 zhànchăng → chiếntrận (HV chiếntrường), từđó biếnđổi thành trậnchiến (nghịchđảo)
  • 一場夢 yìchăng mèng → một giấc/cơn mơ/mộng (HV nhất trườngmộng)
  • 一場病 yìchăng bìng → một trận/cơnbệnh (HV nhất trườngbệnh)
  • 一場戲 yìchăng xì → một xuấthát (HV nhất trườnghí)
  • 一場空 yìchăng kōng → một khoảngtrống (HV nhất trườngkhông)
  • 在場 zàichăng → tạichỗ ~ tạitrận (HV tạitrường)

Quátrình hoàâm liênhội từ-nghĩa cóthể xảyra ngaytrong tiếng Hán trướckhi truyềnsang Việt, như trườnghợp 陣 /zhèn/ (HV trận) hay 齣 /chù/ (HV xuất) gắn với /chǎng/ (場).

Những thídụ này chothấy việc chuyểnđổi Hán → Việt khôngphải đốiứng 1–1. Mỗi chữ cóthể pháisinh nhiều dạng từ Việt, bị chiphối bởi biếnđổi ngữâm, mởrộng nghĩa và đảonghịch trậttự hìnhtiết.

Những thídụ này chothấy bảnchất đatầng của biếnđổi ngữâm từ Hán sang Việt. Mỗi tổhợp songâmtiết gồm những hìnhtiết bị ràngbuộc, khó tách, và mỗi âmtiết cóthể sinhra một âm mới lệchxa dạng từ đơnâmtiết gốc. Việc âm mới còn giữ nghĩa nguyênthuỷ hay không tuỳthuộc vào liênhệ ngữâm và ngữnghĩa với các từ khác.

Xét /mau-/ trong mauchóng 敏捷 mǐnjié (‘nhanh’), phảnánh một biếnthể của 盡快 jìnkuài (> ‘chóng’ + ‘mau’) và khẩungữ 馬上 mǎshàng. Những dạng này chothấy tổhợp songâmtiết Hán cóthể sinhra nhiều kếtquả Việt khácnhau, thường kèm đảongược trậttự hìnhtiết (hìnhvị-âmtiết) để phùhợp ngữpháp Việt. Hiệntượng đồngâm và cậnâm xuấthiện dàyđặc khôngriêng gì trong tiếngViệt mà trong cả hai ngônngữ

Bảnchất tiếngViệt từlâu bị hiểusai như một ngônngữ đơnâmtiết (tínhđơnâmtiết 單音節性), chủyếu gồm từ một âmtiết. Điềunày cóthể đúng trong thờicổ, nhưng khôngcòn phảnánh thựctế tiếngViệt hiệnđại. Ngộnhận này đã làm lệchhướng từnguyên học và cảntrở tiếntrình tìmhiểu tiếngViệt.

Nghiêncứu này nhằm sửalại ngộnhận đó bằngcách đặt trọngtâm vào songâmtiết trong việc khảosát từvựng gốcHán của tiếngViệt. Thay vì bámvào các âmtiết rời và gốc đơn, hướngtiếpcận này xem trọng cấutrúc, ngữnghĩa và ngữâm của toànbộ tổhợp songâmtiết. Đồngthời, nó xáclập quanhệ họhàng giữa tiếngHán và tiếngViệt qua phântích từvựng và ngữâm lịchsử.

Cảhai chiềuhướng songâmtiết và nguồngốc Hán gắnbó chặtchẽ, như chính hai ngônngữ. Nghiêncứu ở lĩnhvực này khôngthể táchkhỏi lĩnhvực kia. Karlgren (1915), Haudricourt (1954), Chang (1974), Denlinger (1979), Pulleyblank (1984) và nhiều họcgiả khác dựavào tiếngViệt để phụcnguyên âm Háncổ. Ngược lại, các chuyêngia tiếngViệt như Haudricourt (1954), Lê (1967), Ðào (1983) dựavào phươngngữ Hán để soisáng từnguyên Việt. Tấtcả đều nhậnra quanhệ gầngũi — dùlà ditruyền hay khuvực — giữa Hán và Việt. Nhưng vì họ giớihạn trong đơnâmtiết, họ không thấyrằng phầnlớn từvựng tiếngViệt thựcra có nguồngốc Hán. Cáchnhìn hạnhẹp này chekhuất các biếnđổi ngữâm và cấutrúc vì chúng chỉ lộra khi từnguyên được xemxét dưới lăngkính songâmtiết.

Hướngtiếpcận songâmtiết dựatrên hai tiềnđề. Thứnhất, cả tiếngViệt hiệnđại và tiếngHán hiệnđại đềulà ngônngữ songâmtiết: về ngữnghĩa và từvựng, cảhai đều bị chiphối bởi từkép. Thứhai, khi xáclập được đồngnguyên ở tầng từvựng cơbản, thì quanhệ họhàng giữa hai ngônngữ trởnên hợplý, vì lớp từ cơbản là lõi nguyênthuỷ của bấtkỳ ngônngữ nào. Như ta sẽ thấy, tiếngViệt có quanhệ gần với cả Hán cổ lẫn Hán hiệnđại, vănngôn lẫn khẩungữ (gọichung là ‘Hán’). Hướngtiếpcận này đã cho kếtquả đángchúý: nhậndiện khoảng 20.000 từ Việt gốcHán, nhiều từlâu bị xếpnhầm vào lớp Nôm hay ‘thuầnViệt’.

G) Từkép Việt và hệ thống tươngứng Hán

Tổhợp songâmtiết Việt cũng có thể truyvề Hán và điều này cho thấy songâmtiết là cầu nối hai hệ ngônngữ, không phải ngoại lệ.

Gócnhìn songâmtiết này cũng phùhợp với cách xửlý từvựng Hán. Mỗi từ Hán gồm một hay nhiều hìnhtiết, mỗi hìnhtiết ứng với một chữ, bấtkể đơnâm hay đaâm. Trong cả Hán lẫn Việt, hìnhtiết thường trùng với âmtiết, và chúng tựdo kếthợp để tạo từ mới. Điều quantrọng là những kếthợp này thường sinhra ngữnghĩa pháisinh mới, khôngphải tổngthế của từng phầnnhỏ gọplại — đúng như trong tiếngViệt.

Xem các thídụ sau:

1. Phía Hán → Việt

  • 馬上 mǎshàng → mauchóng (‘nhanh’)
  • 起碼 qǐmǎ → ítra (‘ít nhất’)
  • 便宜 piányì → bèo (‘rẻ’)
  • 東西 dōngxī → đồđạc (HV ‘đôngtây’)
  • 聊天 liáotiān → tròchuyện
  • 無聊 wúliáo → lạtlẽo ~ nhạtnhẽo
  • 陌生 mòshēng → lạlùng
  • 花生 huāshēng → đậuphụng (Hảinam /wun1dow2/)

2. Phía Việt → Hán

  • mặnmà 舔蜜 tiánmì (~ mậtngọt)
  • thathiết 體貼 tǐtiè
  • cẩuthả 苟且 kǒuqiě (~ ẩutả)
  • vấtvả 奔波 bēnbó (~ bônba)
  • múarối 木偶戲 mù’ǒuxì
  • trờinắng 太陽 tàiyáng
  • bồihồi 徘徊 báihuái
  • chịuđựng 忍受 rěnshòu
  • bắtđền 賠償 péicháng (~ bắtthường)

Những thídụ này cho thấy tổhợp songâmtiết — dù Hán hay Việt — thường sinhra ngữnghĩa không thể rútgọn thành tổngthể của từng âmtiết. Chúng cũng chothấy tiếngViệt đã tiếpthu, thích-ứng và táicấutrúc các tổhợp songâmtiết Hán mộtcách hệthống: khi thì mởrộng nghĩa, khi thì biếnđổi âm, khi thì đảongược trậttự để phùhợp ngữpháp Việt.

Với các thídụ Hán, bấtkỳ nhà ngônngữ nào cũng nhậnra độ phứctạp: từđiển Hán đầy những chữ và từ đaâmtiết mang nhiều nghĩa, thường không liênquan trựctiếp đến hìnhthái chữviết. Khi đivào tiếngViệt, hiệntượng này vẫn giữnguyên: từ gốcHán thường mởrộng nghĩa, lệchnghĩa, hoặc táchkhỏi nghĩa gốc. Vìvậy, không lấylàmlạ khi dạng Việt khôngcòn giống dạng Hán.

Thídụ, hãy xemxét hìnhtiết 起 qǐ. Nghĩalõi là ‘dậy’, như trong 起義 qǐyì → HN nổidậy. Nhưng trong các tổhợp khác, 起 chora nhiều nghĩa khácnhau. Tươngtự, 順 shùn (HV thuận) trong 順便 shùnbiàn (HN sẵntiện, luôntiện) rõràng là từnguyên của cả hai hìnhtiết ‘sẵn’ và ‘luôn’ trongkhi 順 trong 順利 shùnlì (HN suônsẻ) and 孝順 xiàoshùn (HN hiếuthảo) lại chora thêm ‘suôn‘ and ‘thảo‘. Nhưvậy, cả 起 và 順 đều là hìnhtiết bị ràngbuộc trong Hánngữ trong những trườngnghĩa kểtrên, và trong Việtngữ chúng cũng sảnsinhra nhiều âm, nhiều nghĩa, nhiều từ — với năngsuất đángkể. Điềunày chothấy một phầnlớn từvựng Việt cóthể ápdụng nguyênlý nầy để truyvề Hán.

H) Tácđộng lên từnguyên học Hán-Nôm

Hướngtiếpcận songâmtiết táicấu lại toàn bộ từnguyên học tiếngViệt: biếnđổi âm không còn là chuyện của từng âmtiết riênglẻ mà là sự biếnhoá của cụm âmtiết nghĩa khôngcònlà tổng của từng phần màlà nghĩa pháisinh của tổhợp vay mượn không còn là đốiứng 1–1 màlà đatuyến, nghĩalà mộtchữ → nhiều dạng Việt

Điều này đặt tiếngViệt vào đúng vịtrí trong bứctranh ngônngữ loạihình, tươngtự sựtiếnhoá của các gốc đaâmtiết Ấn-Âu.

Như các thídụ trong bài chothấy, ngộnhận xem Hán và Việt là đơnâmtiết đã chekhuất thựcthể songâmtiết. Khi chỉ phântích âmtiết rời, họcgiả bỏlỡ quyluật biếnđổi ngữâm trong tổhợp songâmtiết. Lịchsử cóthể chothấy cả hai đãtừng biểuhiện đaphần dưới hìnhthức đơnâmtiết. Với Hán, điềunày dễ kiểmchứng qua cổthư dày hàng mấy nghìn năm của họ. Với Việt, tưliệu chỉ tồntại khoảng mộtnghìn năm trởlại với nhữnggì cấtgiấu còn sótlại saukhi bị nhàMinh caitrị và tiêuhuỷ trong haimươi năm vào thếkỷ thứ 15, nên mỏng hơn. Tuyvậy, lớp từ cơbản chung vẫn chỉra một tầng đơnâmtiết cổ.

Nhưng trong tiếngViệt hiệnđại, tìnhhình đã rõ: hàngnghìn từ songâmtiết và đaâmtiết trànngập từđiển, dù được viết táchrời từng âmtiết. Barker (1966) từng khẳngđịnh tiếngViệt là đơnâmtiết, nhưng nếu ápdụng lôgic đó củ ông cho tiếngAnh, thì tiếngAnh cũng sẽ thành một ngônngữ đơnâmtiết. Nhậnđịnh của ông chothấy sựhiểubiết hạnchế củ chính ông về tiếngViệt, và tiếcthay, mộtsố họcgiả Việtnam lại tintheo chỉvì ông là người phươngTây. Cáchnói ‘mộtsố tổhợp, mộtsố từláy, mộtsố vaymượn’ khiến ngườiđọc tưởng chúng là ngoạilệ, trong khi thựctế chúng chiếm phầnlớn từvựng bềthế của tiếngViệt. Theo tiêuchí đó, chính ông bị loạikhỏi tưcách chuyêngia.

Đúnglà nhiều từ songâmtiết tiếngViệt cóthể tách thành âmtiết có nghĩariêng. Nhưng vôsố từ khác thì không. Các từ chỉ bộphận cơthể như cùichỏ (‘khuỷu+tay’), đầugối (‘đầu+gối’), mắccá (‘mắt+cá’), màngtang (‘thái+dương’), mỏác (‘thóp’), chânmày (‘lông+mày’) đều songâmtiết và khôngthể táchra d0ơnlập, giốngnhư các từ tươngứng trong tiếngAnh. Dù đầu (‘head’) hay gối (‘lean’) còn nghĩariêng, tổhợp đầugối là một đơnvị mang ngữnghĩa cốđịnh. Điềunày đúng với hàngloạt từ songâmtiết khác: càunhàu, cằnnhằn, bângkhuâng, bồihồi, bùingùi, mồhôi, mồcôi, bằnglòng, taitiếng, tạmbợ, tráchmóc. Các tổhợp HánViệt như hiệndiện, phụnữ, sơnhà, và các dạng đaâmtiết như mêtítthòlò, húhồnhúvía, bađồngbảyđổi, hằnghàsasố, lộntùngphèo, tuyệtcúmèo… càng chothấy sứcsống của cấutrúc đaâmtiết. Nếu được viếtliền thayvì táchrời ra từng âmtiết, những từ này sẽ cho ngườingọạiquốc học tiếngViệt một ấntượng hoàntoàn khác — kểcả Barker.

Các họcgiả Việt như Bùi Ðức Tịnh (1966, tr.82) và Hồ Hữu Tường đã đúng khi bácbỏ phânloại đơnâmtiết và xem tiếngViệt là ngônngữ songâmtiết. Tỷlệ từ HánViệt trong tiếngViệt hiệnđại — tươngtự vaitrò Latinh và Hylạp trong tiếngAnh — đủ để xáclập songâmtiết, ngaycả trướckhi xé đến từ bảnđịa và các dạng đaâmtiết. Người Hàn và Nhật đã nhậnra điềunày từlâu và luôn viết từ Hán theo dạng ghépkhối dínhliền. Ngượclại, chữQuốcngữ tớinay vẫncòn viết táchrời ra từng âmtiết, chekhuất bảnchất từvựng thậtsự.

Điềunày cũng đúng với tiếngHán. Các phươngngữ Hán hiệnđại hầunhư đều songâmtiết. Chou (1982, tr.106) dẫn Eugene Chin, đạiý nóilà nếu xem từ chứkhôngphải hìnhtiết (âmtiết của một hìnhvị – morpheme) là đơnvị cấutrúc của tiếngHán, thì tiếngHán là ngônngữ đaâmtiết, nhưng theo nguyêntắc sốnhiều, tiếngHán là songâmtiết.

Từ tiềnđề này, hiểurằng tiếngViệt và tiếngHán phảiđược nghiêncứu như hai hệthống ngônngữ songâmtiết. Một từ songâmtiết Hán cóthể pháisinhra nhiều dạng Việt. Thídụ: 三八 sānbā (HV tambát, đếntừ ‘8 tháng 3, ngày Quốctế Phụnữ’) chora tầmphào, tầmbậy, tầmbạ, bảláp, bảxàm, basạo, xàbát, xằngbậy, v.v.

Vấnđề của họcthuật cũ là: vì xem hai ngônngữ là đơnâmtiết, họ cứ cắmđầu đitìm đốiứng 1–1 giữa chữ Hán và từ Việt. Cách này bóhẹp từnguyên vào âmtiết rời, chekhuất độnglực biếnđổi âm songâmtiết.

Thựctế, cả hai ngônngữ đều songâmtiết, và biếnđổi âm của chúng tuân theo những nguyêntắc giống các ngônngữ đaâmtiết khác. Trong họ Ấn-Âu, chẳnghạn, các gốc đaâmtiết tiếnhoá không đều: Latinh gelatan → Pháp gelée; hay police → politi, polizei, policia, polizia, polite, polis, polisi, và cả phúlít (dạng vaymượn cũ vào tiếngViệt). TiếngViệt và tiếngHán cũng phảiđược hiểu theo cách đó: như hai hệ ngônngữ songâmtiết mà biếnđổi âm diễnra ở cấpđộ tổhợp, khôngphải âmtiết rời.

Vậy quyluật này hélộ điềugì về từ Việt gốcHán? Về lýthuyết, khi một chữ Hán — đồngthời là một âmtiết và một từ — được vay vào tiếngViệt, nó phải chora một dạng duynhất. Nhưng thựctế phứctạp hơn nhiều: một chữ Hán cóthể cho ra nhiều âm và nhiều từ Việt khácnhau.

II. Từđaâmtiết và Từnguyên Hán-Nôm

Những bằngchứng đưara trong nghiêncứu này cho thấy tiếngViệt khôngthể đượchiểu dưới lăngkính đơnâmtiết lỗithời. Cả tiếngViệt và tiếngHán đều là ngônngữ songâmtiết, và sựphụthuộc chung vào từkép đã địnhhình quỹđạo tiếpxúc lịchsử của chúng. Khi truydấu các môhình biếnđổi ngữâm songâmtiết — thường gồm đảotrậttự, láyhoá, hay mởrộng nghĩa — ta thấy những quyluật có hệthống giảithích vìsao nhiều từ Việt tưởng là ‘thuầnViệt’ hay ‘Nôm’ thựcsự lạicó nguồngốc Hán.

Hướngtiếpcận songâmtiết táicấutrúc lại toànbộ từnguyên học tiếngViệt: biếnđổi ngữâm khôngcòn là chuyện của từng âmtiết riênglẻ, màlà sựbiếnhoá của cả cụmtừ đaâmtiết. Điềunày đặt tiếngViệt vào đúng vịtrí trong bứctranh loạihìnhhọc, tươngtự sựtiếnhoá của các gốc đaâmtiết Ấn-Âu. Kếtquả là một hìnhảnh chínhxác hơn về tiếngViệt là một ngônngữ gắnbó đậmđà và sâurộng với tiếngHán — khôngchỉ qua từvựng mà còn qua lôgic cấutrúc và ngữâm.

Nhậnra mốiliênhệ này giúp ta vượtkhỏi giớihạn của họcthuật cũ và nhìn tiếngViệt dưới góccạnh của một ngônngữ được hunđúc qua nhiều thếkỷ tiếpxúc tíchcực của Hán và Việt. Nhờđó, ta khôngcòn ngộnhận về tínhđơnâmtiết để mởđường tìmhiểu rộnghơn, đầyđủhơn về từnguyên tiếngViệt.

A) Từkép

Ngáoộp, yếuxìu, ủdột, giómáy, lộnxàngầu, liềntùtì, bủnxỉn, rửngmỡ, lậtđật, bệurệu, mốckhính, thúiình, bệrạc, bêtha, chìnhình, đẩyđà, thắcmắc, trịchthượng, trịchbồlương, ởtruồngnhồngnhộng, trầntruồng, tòmò, tấtbật, bứcxúc, bứcrức, nóngtánh, nóngmáy, nónglòng, mongngóng, táymáy, tấtbật, bângkhuâng, bộpchộp, bồihồi, hữnghờ, phảngphất, mơhồ, chạngvạng, chậtvật, khúcmắc, ngờvực, bạttai, tuyệtcúmèo, háchxìxằng, hộtxíngầu, tứđỗtường, sạchbách, yêuđương, thươnghại, ấmcúng, làmbiếng, tộinghiệp, mồcôi, goábụa, híhửng, thấpthỏm… càphê, càrem, càpháo, càlăm, càkêdêngỗng, lacà, càgiựt, càgật, càrá, càrà, càrỡn, càrờ, Càná, càna, càtàng, càchớncàcháo, càtrậtcàduột, càrăng, càdựt, càràng, càlắc, càrịchcàtang, càtàng, càtửng… cùlần, cùlao, cùlét, cầncù, lùcù, cùrũ… hoasoan, hoavôngvang, hoacứtlợn, hoamắt, tàihoa, hoatay, hoaliễu, đàohoa, hoahoèhoasói, bahoa, bahoachíchchoè … bagai, batrợn, tàiba, ađồngbảyđổi, chúangôiba, hộtxíngầu, caochótvót, baphải, bahồi, bồhòn, bồcâu, baquân… táhoảtamtinh, cứuhoả, hoảlò, hoảdiệmsơn, nhảydù, bếpmúc, baola, thừamứa, đằmthắm, nhạtthếch, chánphèo, ếẩm… châuchấu, bươmbướm, đuđủ, chuồnchuồn, lạcđà, sưtử… dưahấu, dưagan, bíđao, khổqua… trảđủa, chénđũa, bùlubùloa, sàbát, viếtlách, xấcbấcxangbang, tầmbậytầmbạ, tầmphào, bảvơbảláp, trớtquớt, tầmgửi, contầm, bánhtầm, bánhít, bánhdây, bánhdày, bánhxe, coicọp, bắtcóc, bắtnạt, bắtđền, đánhcá, cábóng, cháphi, cátô, cáhồng, cáthu, cáẻm, cáchẻm, cáchép, cángừ, cáđộ, đánhđáo, độcđáo, laỏmtỏi, chầndần, càmràm, cằnnhằn, phànnàn, nhõngnhẽo, tiềnnong, ruồngrẫy, obế, tângbốc, bặmtrợn, tréocẳngngỗng, baquexỏlá, thảgiàn, diệuvợi, xaxăm, xaxôi, xalắcxalơ, sạchbách, bângkhuâng, mônglung, ngỡngàng, ngơngác, tọcmạch, heomay, cùichỏ, chânmày, bảvai, chómực, chómá, chóđẻ, nhàquê, nhàvăn, nhàngủ, nhàmát, nhàtu, nhàlao, laocông, laophổi, mộttay, taychơi, tayvợt, tàytrời, chẫmrãi, gấprút, lẹlàng, tệlậu, cửasổ, maymắn, hấphối, dốtnát, thơngây, ủmtỏi, đắngngắt, giàusụ, nghèonàn, chậmrì, lềmề, nhẹhẫng, bãithama, gạocội, biểnlận, sinhnhai, etc.

Ghichú: Trong ngữcảnh này, từkép chỉ một hìnhtố bị ràngbuộc bámsát vào một căntố, một đơnvị khôngthể táchra thành những âmtiết độclập hay dùng riênglẻ, mặcdù các tựtố gốc tiếngTrung của nó cóthể mỗi đơnvị đều mang chứcnăng của một từ độclập. Trong tiếngViệt, những tựnguyên nhưvậy thường xuấthiện dưới dạng một âmtiết đơnlẻ không mang ýnghĩa tựthân và bắtbuộc phải kếthợp với một âmtiết khác để hìnhthành một đơnvị từvựng hoànchỉnh. Những cấutrúc hợpthể kép nhưvậy xuấthiện rộngrãi trong tiếngViệt hằngngày.

Một phép sosánh hữuích cóthể thấy trong tiếngAnh: các từ windy, curious, vague, pitiful, lovely, creamy, marvelous, tomato, salmon, unique, butterfly, kitchen, handy, camel, melon, excited, hoặc handsome đều khôngthể tách thành những âmtiết mang nghĩa và cóthể dùng độclập. Các từkép hợpthể tiếngViệt vậnhành theo cùng một cách.

B) Từghép

Mồhôi, nướcmắt, nhanhchóng, nóngnực, nổigoá, nhàthờ, trườnghọc, giấybút, sinhđẻ, vợchồng, chamẹ, anhem, nhàcửa, trờiđất, đồngruộng, tiềnbạc, bànghế, chuacay, maquỷ, thầnthánh, trờiphật, bảngđen, sôngnúi, nhànước, máybay, sânbay, nhàmáy, ghếngồi, bànviết, giườngngủ, phòngăn, quẹtlửa, máylạnh, tủlạnh, máyhát, lýlẽ, chờđợi, ănuống, rượuchè, cờbạc, cấmkỵ, cẩuthả, etc.

Ghichú: Cũng như tiếngAnh hìnhthành các từghép như blackboard, therefore, airplane, moreover, billboard, airport, bookworm, football, baseball, notebook, software, hardware, honeymoon, plywood, handicraft, aircraft, shipyard, graveyard, grapefruit, jackfruit và pineapple, tiếngViệt cũng sởhữu mộtsốlượng lớn các từghép. Trong những cấutrúc này, mỗi âmtiết cấuthành vẫn giữ nguyên tưcách của một đơnvị mangnghĩa và cóthể dùng độclập.

C) Từkép hoặc từláy đaâmtiết

Lễlạc, tếtnhất, chắcchắn, lạnhlẽo, mấpmé, nướcnôi, nóngnẩy, nựcnội, caucó, cầukỳ, buồnbã, laođao, lậnđận, lếtthết, lúclắc, làulàu, vấtvả, tấttả, vậtvã, văngvẳng, lacà, dỡẹt, dỡình, ỡmờ, vờvĩnh, hữnghờ, chắcchiu, chătchíu, mằnmặn, ngọtngào, ngánngẫm, khờkhạo, giàgiặn, xaxôi, nặngnề, nhẹnhàng, tươmtất, rấmrớ, rầmrộ, rưngrưng, rộnràng, rùrì, rúrí, rờrẫm, rậmrực, tùtúng, phâyphây, phephẩy, phăngphăng, mêmẫn, chămchỉ, lolắng, mắcmỏ, rẻrúng, ấmức, viễnvông, mơmàng, sâusắc, đenđuá, hồnghào, hoahoè, dạidột, sờsoạn, mòmẫm, hẹphòi, rộngrãi, ấmức, thẳngthừng, quạuquọ, chắcchắn, vắngvẻ, côicút, lỗlã, dưdã, đauđớn, luônluôn, mêmãi, nhanhnhẩu, runrẩy, lắclư, lườilĩnh, liềnliền, nhạtnhẽo, nhạtnhoà, nhútnhát, dạndĩ, mạnhmẽ, nhẹnhàng, nặngnề, thấplètè, sạchsànhsanh, đồngxuteng, liềntùtì, lấplalấplững, bùlubùloa, híhahíhửng, xíxaxíxọn, lúngtalúngtúng, càrịchcàtang, lấplalấplững, bùlubùloa, híhahíhửng, tấtatấtửng, xấcbấcxangbang, lấplalấplửng, etc.

Ghichú: Các từláy gồm một âmtiết gốc đi kèm với một biếnthể được biếnđổi ngữâm nhằm làm biếnđổi nhẹ ýnghĩa của căngốc. Thànhphần thêmvào này — thường khác biệt về thanhđiệu, phụâm đầu hoặc phụâm cuối — giữ tưcách của một hìnhtố bịràngbuộc và khôngthể dùng độclập. TiếngAnh có những cấutrúc tươngtự trong các từ childish, slowly, talkative, handy, continuous, fashionable, horrendous, fabulous, excited, exciting, initial, vital, likewise, shaking, shaky, lonesome, troublesome và mimicry, nơi thànhphần phụgia cũng không mangnghĩa độclập.

D) Hỗnhợp các từđaâmtiết “Việthoá” tiếngHán và từvựng cóthể thuộc nhóm lâncận Môn-Khmer và Tháicổ

Đâylà những từ được hìnhthành bằngcách kếthợp các yếutố của toànbộ lớptừ Hán-Việt, Hán-Nôm và những từ bảnđịa khác mộtcách khôngphânbiệt.

Bơsữa, sữatuơi, sữachua, dưachua, tráibơ, tráisu, súbắp, diễnsô, bầusô, bánhbìtquy, bánhít, bánhchưng, bánhxèo, nămhợi, nămgà, tuổidậu, tuổihợi, làmthịt, làmcao, làmtàng, làmlẻ, làmăn, mầnăn, nângcao, lênmặt, lêngiọng, xuốnggiọng, xuốngnước, câucú, thathiết, thêthảm, tủithân, mồcôi, đầunậu, băngđảng, xốngáo, súngống, daobúa, hồhỡi, tụctằn, cánúc, hầubao, đầuđuôi, đóikhát, sấmsét, tàylay, tèmlem, xegắnmáy, câulạcbộ, hầmbàlần, tạppílù, nồiniêusoongchả, đaotobúlớn, nởmàynởmặt, bàconchòmxóm, đếnhẹnlạolên, bèogiạtmâytrôi, anhemcộtchèo, anhemcôcậu, anhemthúcba, mẹchồngcondâu, đèocaogióhút, tiềnrừngbạcbể, trànggiangđạihải, vòngvotamquốc, hốilộđútlót, etc.

E) Các từđaâmtiết tiếngAnh và tiếngPháp được Việthoá

Việc dùng những dạng chínhtả bị biếndạng của tên riêng nướcngoài — chẳnghạn như viết “Xan Phờranxítxcô” thaycho San Francisco — khôngphải là quychuẩn và cũng khôngthểchấpnhận. Bàinày vìvậy không sửdụng những dạng giảtạo nhưthế mà chỉdùng những dạng chínhtả đã được thừanhận và tựnhiên hơn.

Càphê, càrem, xecamnhông, côngtennơ, đầukéocôngtennơ, phíchnước, sônước, canô, thùngphuy, lôcanh, origin, gin, gen, building, oánhtùtì, bíttết, lagu, sàlách, nướcsốt, xàbông, sôcôla, suwinggum, sabôchê, dămbông, phôma, yaua, vôlăng, mêgabai, internet, website, software, mashup, interview, rôbô, radiô, lade, photocópy, cọppi, ốcxygen, cạtbônát, đềphô, dốpdiếc, vốtka, virút, cờlê, mỏlết, tivi, video, dĩacompact, galăng, đôla, vila, tắcxi, xebuýt, phẹcmatuya, gạcmănggiê, cômpa, tráibôm, bômhơi, dăngxê, câulạcbộ, vacăng, ôtô, nhàga, ôten, dầuxăng, bùlon, cáisoong, chơigem, mànhìnhled, trượtpaten, chạymaratông, menbo, hợpgu, hợprơ, hămbơgơ, mesừ, mađam, xinêma, tuydô, kílômét, centimét, milimét, xebuýt, xemôtô, môtơ, đènmăngxông, xyláp, phạcmaxi, đốctờ, đìaréctơ, áoghilê, bộcomplê, ôpạclơ, micờrô, phắctuya, trảbiu, ốcxíthoá, sida, aid, căngxe, buyarô, rờmọt, móocchê, súngcanhnông, tủbuýpphê, chạyápphe, nhàbăng, trảcheck, sờnáchba, mìncơlaymo, bốtdờsô, aláchsô, ạctisô, căngtin, míttinh, Ácănđình, Hoathịnhđốn, Balê, Ănglê, Vaticăn, sôviết, bônxêvích, gạcđờco, gácgian, trứngốplết, hộtgàốpla, áobànhtô, áomăngtô, bugi, épphê, ácxít, átpirin, kýninh, đờmi, đờmigạcxông, đíplôm, đíplôma, găngtơ, ápphích, táplô, bancông, salông, khănmùxoa, lêmônát, rượurum, rượuvan, đườngrầy, xetăng, tănglều, miniduýp, carô, súngrulô, xerulô, mọtphin, xìphé, pháctuya, côngtắc, côngtơ, rôbinê, marisến, phôngten, bôlêrô, tănggo, rumba, phăngtadi, phuộcxét, xìcăngđan, sanđan, bigiăngtin, phúlít, batong, măngsông, đènpin, rờmọt, rờmoọc, boongtàu, tíchkê, bánsôn, đitua, vãira, đítcô, đăngxe, lăngxê, pianô, viôlông, honđa, trumpét, càtômát, xúchxích, patê, tráibơ, đắcco, xêrum, xiarô, xêry, băngrôn, băngnhạc, đồlen, rumba, bếpga, môđen, môđẹc, xilô, nồixúpde, pađờxuy, sơmi, balô, búpbê, tắcxi, buộcboa, côngtra, dềpô, áopull, quầngin, jắtkết, zêrô, sốpphơ, xếplớn, pátpo, vida, bida, côcacôla, pépsi, vôlăng, ămpiya, ampe, kílôoát, tăngdơ, xuỵtvôntơ, cátsét, ghisê, nhàbăng, tivi, gàrôti, chơisộp, kháchsộp, compiutơ, còmmăng, tíchkê, díppô, san-phơ-ran-xit-cô, etc.

Ghichú: Những biếnthể tiếngViệt của các từ vaymượn tiếng Pháp và Anh này được viếttheo chínhtả tiếngViệt. Mặcdù phạmvi của nhóm này khá nhỏ, nó vẫn chothấy rõ cấutrúc kếthợp đaâmtiết: mỗi âmtiết giữvaitrò như một thànhphần tíchhợp của toànbộ đơnvị và khôngthể dùng độclập, ngaycảkhi âmtiết ấy ở nơikhác trong tiếngViệt cóthể mang một ýnghĩa khôngliênquan. Rấtít dạngtừ nhưvậy cóthể nhậnra ngoài những chínhtả phichuẩn nổitiếng như “Xan Phờ-ran-xítx-cô”.

Những vídụ này chothấy rằng nếu các từ songâmtiết HánViệt đượcxemnhư những từvaymượn ngoạilai trong tiếngViệt, thì bảnchất cấutrúc của chúng về cơbản là nhưnhau: chúng là những đơnvị hợpthể mà các thànhphần của chúng trong tổhợp từđaâmtiết khôngđược táchrời.

F) Từđaâmtiết tiếngViệt mang sắcthái vănhóa gốcHán

  • ănđòn 挨打: ăidă (deserved punishment)
  • ăntiền 贏錢: yínqián (win a bet)
  • ănnhậu 應酬: yìngchóu (have a drink)
  • ănmày 要飯: yàofàn (beggar)
  • bốmẹ 父母 fùmǔ (parents)
  • chúbác 叔伯 shūbó (paternal uncles)
  • chịem 姊妹 jiěmēi (sisters)
  • anhchị 兄姐 xiōngjiě (elder siblings)
  • anhem 兄弟 xiōngdì (brothers)
  • cậumợ 舅母 jiùmǔ (maternal-uncle household)
  • buồngngủ 臥房 wòfáng (bedroom)
  • bưngbít 矇蔽 méngbì (to obscure; to deceive)
  • bênhvực 包庇 bāobì (to shield; to take sides)
  • ngànhnghề 行業 hángyè (profession)
  • trướctiên 首先 shǒuxiān (first; firstly)
  • thươngyêu 疼愛 téngài (to love dearly)
  • dandíu 有染 yǒurǎn (to have an affair)
  • thùhằn 仇恨 chóuhèn (hatred)
  • tứcgiận 生氣 shēngqì (anger)
  • chờđợi 期待 qídài (expectation)
  • sânkhấu 劇場 jùchǎng (theater; stage)
  • trườnghọc 學堂 xuétáng (school)
  • tầmbậy 三八 sānbā (nonsense; absurdity)
  • nóixàm 瞎說 xiāshuō (talk nonsense)
  • giôngbão 暴風 bàofēng (rainstorm)
  • đấtđai 土地 tǔdì (land)
  • chốitừ 推辭 tuīcí (to decline; refuse)
  • rútlui 退走 tuìzǒu (to withdraw)
  • lẽsống 理想 lǐxiǎng (ideal)
  • căngthẳng 緊張 jǐnzhāng (tense; stressful)
  • riêngtư 隱私 yǐnsī (privacy)
  • chửimắng 咒罵 zhòumà (scolding; cursing)
  • trongsạch 清潔 qīngjié (clean; pure)
  • banngày 白日 báirì (daytime)
  • bantrưa 白晝 báizhòu (midday)
  • chạngvạng 旁晚 pángwǎn (dusk)
  • tốităm 黑暗 hēi’àn (darkness)
  • quêhương 家鄉 jiāxiāng (homeland)
  • lánggiềng 鄰居 línjū (neighbor)
  • bầubạn 陪伴 péibàn (to accompany)
  • xơitái 吃生 chīshēng (eat raw food)
  • đánhcá 打魚 dǎyú (to fish)
  • đánhbạc 賭博 dǔbó (gambling)
  • ănthua 輸贏 shūyíng (winning and losing)
  • suônsẻ 順利 shùnlì (smoothly)
  • hiếuthảo 孝順 xiàoshùn (filial piety)
  • sẵnsàng 現成 xiànchéng (ready-made)
  • bồihồi 徘徊 páihuái (melancholy; wandering)
  • bắtcóc 綁架 bǎngjià (kidnap)
  • hòhẹn 約會 yuēhuì (dating)
  • tháovác 操持 cāochí (to manage)
  • côngcuộc 工作 gōngzuò (task; work)
  • xinlỗi 道歉 dàoqiàn (to apologize)
  • xinchào 見過 jiànguò (greeting)
  • tiềncủa 錢財 qiáncái (wealth)
  • vốnliếng 本錢 běnqián (capital)
  • đitiền 隨錢 suíqián (monetary gift)
  • cógiá 好價 hǎojià (high-priced)
  • củacải 財產 cáichǎn (property)
  • đánhcắp 打劫 dǎjié (to rob)
  • ngâythơ 幼稚 yòuzhì (naive)
  • khônlanh 靈巧 língqiǎo (clever; nimble)
  • lanhlợi 伶俐 línglì (witty; quick-minded)
  • dêxồm 婬蟲 yínchóng (lecherous)
  • hẹnhò 約會 yèhuì (dating)
  • đánhcướp 打劫 dăjié (rob)
  • đánhbài 打牌 dăpái (play cards)
  • tầmbậy 三八 sānbà (tầmbạ, sàbát)
  • chánngán 厭倦 yànjuān (sick of)
  • bậtcười 發笑 fáxiào (laugh)
  • bậtkhóc 發哭 fákù (cry)
  • banngày 白日 báirì (daytime)
  • bồcâu 白鴿 báigē (pigeon)
  • chạngvạng 旁晚 bángwăn (at dusk)
  • cảgan 大膽 dàdăn (daring)
  • khờkhạo 傻瓜 săguā (foolish)
  • ấmcúng 溫馨 wēnqìng (cozy)
  • muárối 木偶戲 mù’ǒuxì (puppetry)
  • xinlỗi 請罪 qǐngzuì (apologize)
  • xinchào 見濄 jiànguò (hello)
  • chắcchắn 確定 quèdìng (certainly)
  • đưađón 接送 jiēsòng (see off and pick up)
  • chờđợi 期待 qídài (expect)
  • yêuđương 愛戴 àidài (love)
  • thươngyêu 疼愛téng’ài (affection)
  • khôngdámđâu 不敢當 bùgăndàng (it is not so)
  • banngàybanmặt 青天白日 qīngtiānbáirì (in broad daylight)
  • đấttrờichứnggiám 天地作證 tiāndìzuòzhèng (Heaven and the Earth be the witnesses)
  • trờibấtdunggian 天不容姦 tiānbùróngjiān (God punish bad people)
  • langbạtkỳhồ 狼跋其胡 lángbáqíhú (take on an adventure)
  • nhưcágặpnước 如魚得水 rú​yú​dé​shuǐ​ (like a fish back in water), etc.

Ghichú: Trong chínhtả Pinyin tiêuchuẩn, các vídụ tiếngTrung nêutrên được viết dưới dạng kếthợp vì chúng vốn dĩ là đaâmtiết, mặcdù dấu thanh đôikhi đặtlên sai nguyênâm — chẳnghạn như 醉酒 zuìjiǔ sovới tiếngViệt sayrượu, 真牛 zhēnniú sovới chơingầu, 垂柳 chuíliǔ sovới liễurũ, hoặc 拜求 bàiqiú so với váicầu. Những từđồngnguyên cơbản và phi­cơbản này, cùngvới toànbộ lớp từvựng Hán-Việt và Hán-Nôm vốn khôngthểthiếu trong tiếngViệt, chothấy một nguyêntắc cấutrúc chung: tiếngTrung là một ngônngữ đaâmtiết, và tiếngViệt cũngvậy. (Xem Rethinking Mandarin Romanization)

x X x

Kếtluận — Những điểmchính

• TiếngViệt vềmặt cấutrúc là một ngônngữ đaâmtiết. Từvựng của nó được hìnhthành từ những đơnvị âmtiết kếtchặt, chỉ trởthành một đơnvị từvựng hoànchỉnh khi được kếthợp, tươngtự như các hợpthể trong tiếngTrung.

• Cấutrúc kếthợp đaâmtiết là tựnhiên chứ không phải ngoạilệ. Các từ vaymượn tiếng Pháp và Anh được Việthoá theo chínhtả tiếngViệt cũng chothấy nguyêntắc này: những âmtiết ấy khôngthểtáchrời mà vẫngiữ nguyênnghĩa.

• Từvựng Hán-Việt và Hán-Nôm tuântheo cùng một logic cấutrúc. Nếu xem chúng như những từvaymượn ngoạilai, thì tínhsongâmtiết của chúng hoàn­oàn phùhợp với các hợpthể tiếngViệt khác.

• Việc không tươngứng giữa các cặp đơnâmtiết Hán–Việt là điều đươngnhiên. Nhìn tiếngViệt như một ngônngữ đaâmtiết giúp giảithích vìsao mộtsố từđồngnguyên songâmtiết tiếngTrung lại biếnđổi ngữâm khácvới các từđơnâmtiết.

• Các hợpthể và các từláy giữ vaitrò trungtâm trong quátrình hìnhthành từvựng tiếngViệt. Những môthức này chothấy nhiều âmtiết tiếngViệt là những hìnhtố bịràngbuộc, chỉ mangnghĩa trong một đơnvị lớnhơn.

• Âmvịhọc lịchsử trởnên mạchlạchơn dưới môhình đaâmtiết. Nhậndiện cấutrúc hợpthể giúp giảithích các nhóm từđồngnguyên, đánhgiá chứngcứ liênngônngữ, và tíchhợp tàiliệu bổtrợ khi sosánh lịchsử ngữâm tiếng Việt và Trung.

Sáchthamkhảo

Jean Aitchison. (1994). Language Change: Progress or Decay? Cambridge: Cambridge University Press.

Mark J. Alves. (2001). “What’s So Chinese About Vietnamese?” In Papers from the Ninth Annual Meeting of the Southeast Asian Linguistics Society.

Raimo Anttila (Editor). (1989). Historical and Comparative Linguistics. Amsterdam/Philadelphia: John Benjamins.

Milton E. Barker. 1966. “Viet-Muong Tone Correspondences”, in Norman Zide (ed.) Studies in Comparative Austroasiatic Linguistics . The Hague: Mouton.

Leonard Bloomfield. (1933). Language. New York: Henry Holt.

Theodora Bynon. (1977). Historical Linguistics. Cambridge: Cambridge University Press.

André G. Haudricourt. (1954). “Comment reconstruire le chinois archaïque.” Word, 10, 351 – 364.

André G. Haudricourt. (1961). “The Limits and Connections of Austroasiatic in the Northeast.” In Norman Zide (Editor), Studies in Comparative Austroasiatic Linguistics. The Hague: Mouton.

Lü Shih‑P’eng. (1964). Việtnam During the Period of Chinese Rule. Hong Kong: University of Hong Kong.

Nguyễn Tài Cẩn. (1979). Nguồn gốc và Quá trình Hình thành Cách đọc Âm HánViệt. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà Xuất Bản Khoa học Xã hội.

Nguyễn Tài Cẩn. (2000). Giáo Trình Ngữ âm Lịch sử Tiếng Việtnam. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà Xuất Bản Giáo dục.

Keith Weller Taylor. (1983). The Birth of Việtnam. Berkeley: University of California Press.

Herold J. Wiens. (1967). Han Chinese Expansion in South China. USA: Shoe String Press.

Leave a Reply