Sơlược về TiếngViệt Lịchsử

by dchph in collaboration with Copilot
Bàiviết này khảosát thànhphần cấuthành tiếng Hán‑Nôm với từvựng cóthể truynguyên ra gồmcó gốc tiếngHán Thượngcổ (Háncổ), một phânnhánh lịchsử của ngữhệ Hán‑Tạng. Các thànhphần cấuthành Hánngữ đó đã đivào tiếngViệtcổ trong thờikỳ Bắcthuộc (206 TCN-24 SCN) và vềsau được tiếng Hán-Trungcổ đời nhàĐường bồiđắp thêm, kếtquả là chúng đã kếttủa thành tiếngViệt, một thựcthể đadạng mà trongđó thànhphần Hán‑Nôm và Hán-Việt chiếmtrên 90% tổngsố từvựng.
Cộnghưởng tấtcả những tầnglớp này pháttriển thành tiếng Hán-Nôm cóđủ các phongcách chứcnăng, các dạng vănhọc, và cáchdùng khẩungữ, và chúng rồi kếtđọng vàotrong ChữNôm (HánNôm) và cuốicùng là Quốcngữ, mónquà văntự Latinhoá của tìnhtự dântộc. Thêmvàođó, hệthống thanhđiệu của tiếng Hán-Trungcổ gópphần tíchcực địnhhình âmvịhọc tiếngViệt, nhấnmạnh vịthế của tiếngViệt với tưcách là một ngônngữ hậuduệ BáchViệtcổ (Yue) được Hánhoá sâurộng.
I) Bốicảnh lịchsử
Tiếntrình pháttriển tiếng Hán‑Nôm liêntục qua nhiều triềuđại :
- Thờikỳ Hán (206 TCN đến 220 SCN): Tiếpnhận những từvựng Hán Thượngcổ banđầu, đặcbiệt trong các lĩnhvực hànhchính, quânsự và nôngnghiệp.
- Đời nhàĐường (618 SCN đến 907 SCN): Được bồiđắp bởi tiếngHán Trungcổ bậccao, làmtăng độ phứctạp về thanhđiệu và âmvịhọc.
- Việt độclập (hậu-Đường tư2 năm 939): ChữNho tiếptục giữ vịthế văntự quýtộc hậu đờiĐường; vềsau tự sángtạo chữNôm để kýâm vănhọc khẩungữ.
- Từ thuộcđịa đến thếkỷ 20: Chữ Quốcngữ Latinhoá chuẩnhóa toànbộ các tầnglớp ngônngữ baogồm vănhọc Hán‑Việt, khẩungữ Hán‑Nôm, và từvựng bảnđịa thành một hệthống văntự từkép có gạchnối đến cáchviết rời sau 1975 như trong cách sáchvở hiệnđại.
- Từ thếkỷ 21: Lần đưavào sửdụng hệthống chữviết đaâmtiết dínhliền từ năm 2000 như những bàiviết nầy.
Thử đặt lậpluận nầy vàotrong một trục thờigian rộnghơn, cần xemxét cả bốicảnh tiềnsử và lịchsử của Trungquốc và Việtnam , một chiềuhướng thường bị bỏqua trong thuyết NamÁ (Austroasiatic). Việc ràsát các thựcthể BáchViệt (Yue ‘Bod’) cho thấy tiếngViệt hiệnđại xuấthiện khá muộnmàng. Khi vượt rakhỏi khung Mon‑Khmer thuầntuý, ta nhậnra nhiều từ cơbản của tiếngViệt có từnguyên gốc Hán‑Tạng, quađó làm sốnglại giảthiết Hán‑Tạng được đềxuất từ cuối thếkỷ 19, nhưng đến thếkỷ 21 vẫn chưađược côngnhận rộngrãi.
Trướchết, hãy pháchoạ bốicảnh tiềnsử vào khoảng 5000 nămtrước, khi các cộngđồng BáchViệt bảnđịa (Taic hay tiền‑Yue) cưtrú ở miền Hoanam nay thuộc Trungquốc, hiệndiện truớckhi các bộtộc dumục tiền‑Tạng đặtchân đến. Vềsau, những nhóm tiền‑Hán táiđịnhcư — các chiếnbinh kỵmã hùngmạnh — đã chinhphục và khuấtphục các chưhầu trên những vùngđất phìnhiêu. Các triềuđại tiếptheo như Hạ (夏 Xià), Ân (殷 Yīn), Thương (商 Shāng), và nốikết là nhàChu (周 Zhōu) củngcố quyềnlực tốithượng lên các nhànước như Tần (秦 Qín), Sở (楚 Chǔ), Việt (越 Yuè), Ngô (吳 Wǔ), Yên (燕 Yān) và Tề (齊 Qí). Đến năm 221 TCN, nước Tần đã thôntính tấtcả bảy đốithủ, lậpnên Trungquốc thốngnhất đầutiên. Chính têngọi China cũng phátxuất từ các biếnthể của Qin (Tần). (1)
Bảng 1 — Trục thờigian tiếpxúc ngônngữ lịchsử
| Triềuđại | Ảnhhưởng lãnhthổ | Tầnglớp ngônngữ |
|---|---|---|
| Chu (1045–256 TCN) | Nhànước Việt bảnđịa (Yue) | Tầng cơsở tiền‑Hán (Pre‑Sinitic substrate) |
| Tần (221–207 TCN) | Thốngnhất Chưhầu; chinhphục Việt | Từvựng Hán Thượngcổ sơkỳ (Early Old Chinese loans) |
| Hán (206 TCN–220 SCN) | Củngcố miềnNam | Thuậtngữ hànhchính, nôngnghiệp |
| Đường (618–907 SCN) | Ảnhhưởng vănhọc bậccao | Bồiđắp thanhđiệu/âmvịhọc |
| Hậu-Đường | Độclập | ChữNho, ChữNôm |
| Thuộcđịa–Hiệnđại | Chuẩnhóa Quốcngữ | Hệthống văntự thốngnhất |
Triềuđại nhàTần ngắnngủi (221-207 TTL) được nhàHán kếtục, do Lưu Bang (劉邦 — Hán Caotổ) sánglập saukhi đánhbại lựclượng phụchưng của nướcSở vào năm 206 TTL. Trongkhiđó, tại phươngnam, Triệu Đà (趙佗, Zhào Tuó), một cựutướng và phóvương của NhàTần, đã hợpnhất các thuộcđịa người BáchViệt thành Vươngquốc NamViệt (南越 王國 NánYuè Wángguó) vào năm 204 TTL — một chínhthể tồntại suốt 93 năm (xem Keith Weller Taylor, The Birth of Vietnam [1983], được Bùi Khánh‑Thế dẫnlại trong APPENDIX I)
Bảnđồ nhànước Tần
Biêncương mởrộng của triềuđại Tần, vàokhoảng năm 206 TCN

Nguồngốc của nướcViệt bắtđầu từ năm 111 tr.TL, khi NhàHán thôntính Vươngquốc NamViệt (南越). Vùng lãnhthổ này vềsau đặttên là Annam (安南 都護府 ‘Annam Đôhộphủ’) dưới quyền caitrị của nhàĐường.
Trongsuốt gần một thiênniênkỷ, các triềuđại Trunghoa lầnlượt caitrị vùngđất này, chođếnkhi Nhà Đường sụpđổ vào năm 906 STL, khiến đếquốc phânliệt thành chín nước khácnhau. Trong bốicảnh ấy, cưdân Annam thoátkhỏi Đếquốc NamHán (南漢 帝國) đang tanrã và họ thiếtlập một nhànước độclập vào năm 939 STL (Bo Yang, 資治通鑑 Tưtrị Thônggiám của Tưmã Quang, quyển 69, tr. 209, 1993).
Saukhi giànhđộclập, vùngđất từng gọilà Annam được đổitên thành ĐạiViệt (大越) vào năm 1054, và vềsau là Việtnam (越南) vào năm 1804. Việtnam nổibật như quốcgia duynhất do hậuduệ của các nhóm tiền‑Việt (proto‑Yue) sánglập — tổtiên của những cộngđồng Việthoá vềsau trênkhắp miền Hoanam Trunghoa. Tráilại, các nhóm hậuduệ BáchViệt khác — ngườiQuảng ở Quảngđông, ngườiNgô ở Giangtô, người Mânnam ở Phúckiến, ngườiChoang ở Quảngtây, ngườiCám ở Giangtây, cùng nhiều cộngđồng đadạng tại Vânnam và Quýchâu — dầndần bị hấpthu vào cơcấu đếchế Trunghoa.
Những thầndân gốc NamViệt địnhcư tại Annam đã chịuđựng hơn một thiênniên dưới áchđôhộ và các cuộcxâmlược liêntiếp của các triềuđại nốitiếp ở phươngbắc Hoalục. Dù nhiềulần bị khuấtphục bởi các hoàngđế Trunghoa và tới mãi vềsau tới thờihiệnđại bởi những nhàcaitrị của một đếquốc đang trỗidậy lầnnữa — từ Mao Trạch-Đông và Đặng Tiểu-Bình đến Giang Trạch-Dân và Tập Cận-Bình — Việtnam vẫn giữđược chủquyền. Lịchsử này chothấy ảnhhưởng lâudài của độnglực chínhtrị Trunghoa đốivới các vùngđất phíanam biêngiới Trungquốc.
II) Sự Hánhoá và biếnđổi ngônngữ
Những thayđổi triềuđại trong Trunghoa khiến thếgiới bênngoài nhậnbiết vùngđất này dưới một tên chung: Trungquốc.
Khi bànvề ‘Hánhoá’, khóthể táchrời sứcmạnh chuyểnhóa của disản và vănhóa Trunghoa, vốn từlâu hấpthu yếutố ngoạilai và biến chúng thành bộphận cốtlõi mang bảnsắc riêng. Ngônngữ triềuđình là tiếngQuanthoại (官話) chẳnghạn, được các chínhthể phươngbắc, nhà Liêu, Kim, Nguyên, Thanh — tiếpnhận, dù các triềuđại ấy đều do tầnglớp quýtộc Thátđát (Tartar) lãnhđạo. Điều thúvị là Thổnhĩkỳ cũngcó nguồngốc này.
Về phươngdiện ngônngữ, tiếngQuanthoại hấpthu nhiều ảnhhưởng ngoạilai: hệthống tám thanhđiệu nguyênthủy bị rútxuống còn bốn thanh dưới tácđộng của các ngônngữ ‘Altaic’ không thanhđiệu và các phụâm cuối như /‑p/, /‑t/, /‑k/ biếnmất — đólà những thayđổi khácbiệt rõrệt sovới đặctrưng tiếng Hán-Trungcổ. Dùvậy, tiếngQuanthoại tiếptục biếnhoá thành tiếngPhổthông ngàynay, là quốcngữ hiệnđại của Trungquốc, phảnánh quátrình tiếpnhận và điềuchỉnh dưới các triềuđại phươngbắc.
Sau khi nhàTần thốngnhất Hoalục vào năm 221 TCN–206 TCN, yếutố Hánngữ lantràn tới các phươngngữ BáchViệt lớn — Ngô, Mân (Hokkien/Phúckiến), Quảngđông, và Annamcổ — chồnglớp lên nềntảng BáchViệtcổ và tạonên những ngữloại Hánhoá ở mứcđộ cao. Chính chutrình qualại này giảithích các từđồngnguyên Việt tươngứng với các từgốc Hán‑Tạng. Giốngnhư các phươngngữ Việt khác, Việtcổ từng gópphần địnhhình phânnhánh Hánngữ chođến khi tiếng Annam táchrời sau độclập vào thếkỷ thứ 10. (Xem Các Từnguyên HánTạng Sosánh)
Qua nhiều thếkỷ, các từ gốc Việt cũng tácđộng ngượclại vào tiếngHán Thượngcổ và rồi chúng tiếptục xuấthiện trởlại trong các ngônngữ Hán dưới dạng đổimới. Hệthống thanhđiệu (từ ba đến mười thanh) nhìnchung vẫn tươngđồng, chỉ khácbiệt ở cách phátâm vùngmiền. Các cặptừ songhành cho thấy quanhệ từnguyên cơbản:
- Hán-Nôm ‘gạo’ ↔ ‘lúa’ (稻 dào)
- Và các tươngứng về ‘voi’, ‘cá’, ‘cáo’, ‘têgiác’
(Xem APPENDIX G: Tsu-lin Mei, The case of “ngà”).
Thídụ điểnhình là bộ mườihai congiáp trởthành Hệthống Thậpnhị Canchi sửdụng trong Hoàngđạo Trunghoa. Phầnlớn têngọi được vaymượn và táidụng trong các ngônngữ thiểusố ở miền Hoanam Trungquốc ngàynay. Ngoạilệ duynhất là thỏ 兔 (tù, HV thố) — một hìnhtượng maymắn trong cả truyềnthống Hán lẫn Altai — dưới dạng từ thỏ trong tiếngViệt. Mườimột tên congiáp cònlại trong tiếngViệt hiệnđại đều bắtnguồn từ lớp từvựng chung bảnđịa, với các từđồngnguyên được ghinhận trong nhiều cộngđồng ngônngữ miền Hoanam Trungquốc.
III) Sự pháttriển chữviết tiếngViệt
Tưliệu sử chothấy các thànhtố từvựng của cưdân BáchViệt bảnđịa và lớp tiền‑Hán sơkhởi từng hoànhập vào một thứ ngônngữ ngoạigiao gọi là Nhãngữ 雅語, nghĩađen là ‘lờinói thanhnhã’, được các quốcgia ngàyxưa ở Đạilục Trunghoa sửdụng. Các bộ sử thờitrước gợiý rằng thứ ngônngữchung này có nguồngốc từ ngữhệ Tháicổ (Taic), vốn là ngônngữ của thầndân nướcSở (楚國) thời Xuânthu (771–403 TTL). Từ nềntảng ấy, Tháicổ tiếnhóa thành họ ngữhệ Daic-Kadai ngàynay, tiêubiểu qua các nhóm người Dai, Thái, Lào, và Tày ở Việtnam. Là một nhánh hậuduệ của Thái-Việt (Taic-Yue) một tầngnền quantrọng trong từvựng tổtiên của tiếngViệt đã hìnhthành từ thuởđó.
Giaiđoạn sớm của tiếngViệt — tiếng Annamcổ — bắtđầu hìnhthành khi các thànhtố Háncổ được dunhập vào lãnhthổ Annam dưới đời TâyHán (206 TTL-24 STL). Những ảnhhưởng này tiếptục biếnđổi qua các triềuđại vềsau. Đến khi Annam giành chủquyền năm 939 STL, chữHán tại Annam được gọilà chữNho (儒字), hay tiếngHán vănngôn (文言文 wényánwén), vẫnlà ngônngữ chínhthức của hànhchính và họcthuật. Dạng tiếngViệt mà ta nhậnbiết ngàynay chỉ thựcsự địnhhình vào thếkỷ XII (Nguyễn Ngọc San, 1993, tr. 5).
Từ thếkỷ 15 trởđi, vănhọc bảnngữ bắtđầu xuấthiện bằng chữNôm (𡨸喃) (2), một hệthống chữ cảibiên dựavào từ cấutrúc chữHán, đánhdấu bướctiến quyếtđịnh trong việc hìnhthành chữviết riêng của Việtnam. Sang thếkỷ thứ 18, do sựphứctạp của các chữ Việthoá bằng chữHán này, các giáosĩ phươngTây sángtạo ra một hệthống kýâm Latinhoá cho tiếngViệt. Hệchữ Latinh này trởnên phổbiến rộngrãi đầu thếkỷ XX nhờ tính đơngiản, dù chỉđược chínhthứchoá vào năm 1945. Lúcấy, hệchữ quốcgia đó gọi là chữ Quốcngữ đã được chínhquyền thuộcđịa Pháp tíchcực cổxuý như một biệnpháp giảmthiểu ảnhhưởng vănhóa Trunghoa tại Annam.
Trên thựctế, hệchữ Latinh mới chủyếu đóng vaitrò ghiâm cho cả từvựng thuần Việt và Hán-Nôm. Nó baogồm toànbộ từvựng Hán-Nôm và Hán‑Việt, hoànhập chung mộtcách tựnhiên vào chínhtả Latinh. Trongkhiđó, các từ vaymượn tiếngPháp chỉ đónggóp dưới một nghìn mục, phầnlớn tầnsuất sửdụng rấtthấp, trong tiếngViệt hiệnđại. (APPENDIX A: Polysyllabic Vietnamized English and French words)
Trong một bàiviết đăng trên Tậpsan Khoahọc, Trường Đạihọc Khoahọc Xãhội & Nhânvăn, Đạihọc Quốcgia, số 38 (2007, tr. 3–10), cố Gíáosư Bùi Khánh‑Thế có viết bài khảosát sự tươngtác và giaolưu Hánngữ trong lịchsử ngônngữ Việtnam, dẫnlại nghiêncứu của các thầy hướngdẫn của ông trongđó có GS Nguyễn Tài Cẩn (1998). Ông tómlược những điểm cốtlõi trong bảng tổngkết dướiđây.
Bảng 2 – Phânchia giaiđoạn các thờikỳ lịchsử của sựpháttriển của tiếngViệt
| Giaiđoạn | Đặcđiểm ngônngữ | Hệ văntự | Thờikỳ |
|---|---|---|---|
| A) Proto‑Việt | 2 ngônngữ: tiếngHán (khẩungữ lãnhđạo) và tiếngViệt | 1 văntự: chữHán | Thếkỷ 8–9 |
| B) Việt Cổsơ | 2 ngônngữ: tiếngViệt (khẩungữ lãnhđạo) và vănngôn Hán | 1 văntự tiền‑cổ: chữHán | Thếkỷ 10–12 |
| C) Việtcổ | 2 ngônngữ: tiếngViệt và vănngôn Hán | 2 văntự: chữHán và chữNôm | Thếkỷ 13–16 |
| D) Việt Trungđại | 2 ngônngữ: tiếngViệt và vănngôn Hán | 3 văntự: chữHán, chữNôm, chữQuốcngữ | Thếkỷ 17–18 và nửa đầu thếkỷ 19 |
| E) Việt Cậnđại | 3 ngônngữ: tiếngPháp, tiếngViệt, vănngôn Hán | 4 văntự: Pháp, Hán, Nôm, Quốcngữ | Thờikỳ Phápthuộc |
| G) Việt Hiệnđại | 1 ngônngữ: tiếngViệt | 1 văntự: chữQuốcngữ | Từ 1945 đến nay |
Dựavào sự hìnhthành tiếng Hán-Việt, cuốn Annam Dịchngữ và cuốn Từđiển Alexandre de Rhode (1651), H. Maspéro chia thành:
A) Proto-Việt trước thếkỉ 10
B) Việt tiềncổ: thếkỉ 10 (hìnhhành tiếng Hán-Việt)
C) Việtcổ: thếkỉ 15 (Annam dịchngữ)
D) Việt trungđại: thếkỉ 17 (Từđiển A.de Rhôde 1651)
E) Việt hiệnđại: thếkỉ 19
(Dẫnlại theo Nguyễn Tài Cẩn (1998, p. 8) GS Bùi Khánh-Thế dẫnlại. (See Appendix I)
Côngtrình này pháttriển luậnđiểm rằng lõi từvựng Hán và Việt cùng chiasẻ từnguyên BáchViệt (Yue), được gọilà ‘Việt’ (越, Yuè) trong tiếngViệt và ‘Jyut6’ (粵, Yuè) trong tiếngQuảng, nằm trên một tầng Hán‑Tạng sâuhơn.
Ngônngữ vănhọc cổđiển của các thờikỳ vềsau hấpthu nhiều thàntố bảnđịa được ghi dưới mục Nhãngữ 雅語 (De Lacouperie 1887). Chính thứ ngônngữ ngoạigiao ấy đã cungcấp nềntảng để Háncổ, Hán Thượngcổ và Hán Trungcổ hìnhthành.
Bảng 3 – Lịchsử tómlược
Tưliệu khảocổ và lịchsử chothấy vùngđất nay thuộc vùng Hoanam Trungquốc, nằm vùngdưới Sông Dươngtử (揚子江), vốnlà quêhương nguyênthủy của cưdân BáchViệt cổ. Dướithời NhàChu (1045 TTL–256 TTL), đặcbiệt vào giaiđoạn cuối thời ĐôngChu (kếtthúc năm 221 TTL), các cộngđồng bảnđịa này chiếm phầnlớn dâncư trong bảy nước sauđó bị NhàTần thôntính. NhàTần, trỗidậy như quốcgia mạnhnhất, đã thốngnhất các vùngđất ấy dưới danhnghĩa Trungquốc (中國).
Saukhi bị chinhphục, cưdân Thái‑Việt (Taic‑Yue) được sápnhập trướchết vào nhàTần (秦朝, 221–207 TTL) rồi tiếptục rơivào tay triềuđại NhàHán. Qua thờigian, nhiều nhóm người này dầndần tựnhận mình là ‘ngườiHán’ (漢人), têngọi xuấtphát từ NhàHán (漢朝) do LưuBang (劉邦) sánglập — ông vốnlà thầndân nướcSở (楚國人). Các hoàngđế Hán vềsau tiếptục đẩylùi các nhóm BáchViệt độclập ở miền Hoanam Trungquốc, khiến họ dần bị dồnxuống phươngnam.
Tại vùngđất vềsau gọilà Annam, từng bị NhàHán caitrị trong một thờigian dài, ranhgiới giữa cưdân Việt bảnđịa và lớp dân Hán dicư vềsau dần mờnhạt. Nhiều đợt dânTrunghoa tịnạn khỏi các biếnđộng triềuđại ở phươngbắc hoàtrộn với cưdân sởtại, xoábỏ các ranhgiới tộctính rànhmạch.
Lớp trầmtích lịchsử ấy còn tồntại đếnnay ở Việtnam — quốcgia duynhất còn sótlại từ các nền vănhóa cổ như Sở (楚), Thục (蜀), Việt (粵), NamViệt (南越), Đạilý (大理), và Namchiếu (南詔). NgườiViệt (dântộc Việtnam) là disản lâubền của khối BáchViệt chạyxuống phươngnam. Trớtrêu thay, quátrình bànhtrướng đặctrưng lịchsử của Trunghoa vềsau lại được phảnánh bởi chính ngườiViệt: saukhi giành chủquyền, Việtnam tiếptục mởrộng lãnhthổ xuống phươngnam, dẫnđến sựsụpđổ của Vươngquốc Chămpa và việc sápnhập mộtphần sườn đông của Đếquốc Khmer cổ.
IV) Sửhọc và ngônngữhọc
Lịchsử Việtnam và Trunghoa đanxen chặtchẽ chođến khi Annam giànhđược độclập khỏi sựcaitrị của nhàĐường. Sửký Việtnam hìnhthành thựcsự khámuộn, mãiđến sau thếkỷ thứ 10; các tưliệu sớmhơn chủyếu dựadẫm vào sửsách Trunghoa, thường thiếu các nguồn đốichiếu độclập. Nguyênlý này cũng ápdụng trong ngônngữhọc: bấtkỳ nghiêncứu toàndiện nào về tiếng Việt hoặc Hán đều khôngthể táchrời nhau, đặcbiệt trong các vấnđề liênquan đến Háncổ, từnguyên Hán‑Việt, và các đặctrưng cấutrúc chung (xem Vương Lực, 1957).
Trong hơn hai thếkỷ trước năm 939 STL, Việtnam cổ tồntại như một quậnhuyện của Trunghoa, gọilà Annam Đôhộphủ (679–860, 863–906). Sựkiện này giảithích sựhiệndiện lớp từvựng tiếngHán Trungcổ dàydặc trong tiếngViệt. Giaiđoạn ảnhhưởng cuối cùng — sau sự sụpđổ của nước NamHán thời hậu‑Đường — có ýnghĩa đặcbiệt: từvựng nhàquan lanrộng vào ngônngữ thườngnhật, tươngtự như cách từ Latinh và Hylạp thấm vào tiếngAnh, và củngcố một tầng tiếngHán Trungcổ trong tiếngViệt. Chính tầng này khiến tiếngViệt có nhiều nét gần với tiếngQuảngđông, đặcbiệt ở việc giữđược đủ tám thanhđiệu, gồm cả thanhnhập 入聲 (Rusheng).
Tuynhiên, tráingược với quanniệm phổbiến, tiếngViệt lại gần với tiếngQuanthoại — một ngônngữ triềuđình — hơnlà với tiếngQuảngđông, vốn phảnánh một nền vănngôn đờiĐường. Một trong những đặctrưng ngữâm của tiếngViệt là các dàydặc của như /‑owŋ/, gópphần tạonên âmđiệu và cấutrúc thanhđiệu đặcthù. Phạmvi và các tuyếndẫn ảnhhưởng của Quanthoại sẽ được phântích chitiết trong các chương sau.
Cả dạng vănhọc lẫn khẩungữ phátxuất từ ngônngữ đời Đường đều được hoànhập trọnvẹn vào tiếngAnnam (thuậtngữ dùng ởđây để tránh cáchgọi hồicố ‘tiếngViệt’, tươngtự sựmơhồ của thuậtngữ chữ ‘Hán’) (3) . Các dạng này lưuhành rộngrãi trong xãhội, khôngchỉ trong giớisĩphu mà còn trong quầnchúng. Sựphổbiến ấy giảithích vìsao tiếngViệt thường mang sắcthái biểuđạt và nhịpđiệu gần với Quanthoại.
Thựctế lịchsử này cũng giảithích sựtồntại bềnvững của các biếnthể Hán‑Việt có hệthống và tầng từvựng tiếngHán Trungcổ kéodài lâuhơn saukhi Việtnam giànhđược độclập vào thếkỷ thứ 10. Các thànhtố ngữâm, từvựng và ngữpháp từvựng những tầng này đã địnhhình tiếngViệtcổ, trởthành nềntảng của tiếngViệt Trungđại, và vẫncòn là bộphận khôngthểtáchrời của tiếngViệt hiệnđại.
Sựhiệndiện của chúng nhưvậy giảithích vìsao tiếngViệt, dùcó nềntảng Việt‑Thái (Yue‑Taic), vẫngiữ những tươngđồng cấutrúc với tiếngQuảngđông, đặcbiệt ở đường nét thanhđiệu và cách hìnhthành từghép. (4)
Bảng 4 – Thờibiểu Annam lậpnước và các tầng ngônngữ
| Giaiđoạn / Triềuđại | Trạngthái chínhtrị | Tácđộng ngônngữ |
|---|---|---|
| 679–860, 863–906 (Đường) | Annam Đôhộphủ (安南 都護府) | Vaymượn rộngrãi tiếngHán Trungcổ; hìnhthành ngônngữ hànhchính chung |
| Hậu‑Đường (906–939) | Sựsụpđổ của Đếquốc NamHán (南漢帝國) | Từvựng triềuđình thượnglưu lanrộng; củngcố tầng tiếngHán Trungcổ |
| 939 STL | Độclập dưới thời Ngô Quyền | Bảotồn đủ tám thanh, gồmcả thanhnhập 入聲 |
| Thếkỷ 10–12 | Chủquyền sơkỳ | Dạng vănhọc + khẩungữ đờiĐường hoànhập vào tiếngAnnam |
| 1054 | Đổitên thành ĐạiViệt (大越 DàYuè) | Củngcố từvựng Hán‑Việt; chữNho giữ vịthế vănhọc |
| Từ thếkỷ 15 trởđi | Vănhọc bảnngữ | Xuấthiện chữNôm (𡨸喃) dùng biểuđạt từvựng bảnđịa |
| Thờikỳ Thựcdân – hiệnđại | Chuẩnhoá chữQuốcngữ | Thốngnhất chínhtả |
Nguồn: GS Nguyễn Tài Cẩn
Ảnhhưởng Hánngữ khôngphải là toànbộ bứctranh. Bêndưới lớp Hánhoá dàyđặc ấy là các thànhtố BáchViệt cổ, và nhiều từ Thái‑Việt (Taic-Yue) bảnđịa đã bị hiểunhầm thành từ Hán, một môthức cũng xuấthiện tại Việtnam, nơi những từ nhưvậy lạiđược gọilà từ ‘thuầnViệt’. Vìthế, tiếngViệt còngiữ nhiều tànlưu xuấtxứ từ kho từvựng Việtcổ, với các đặctrưng nguyênthuỷ được thểhiện theo phongcách rất Việtnam; các biếnthể tầngphủ Hán cóthể đóng vaitrò như những bộđiềubiến thanhđiệu cho các từ khôngthanhđiệu trong một số ngônngữ Hán‑Tạng khác. Trongkhi các từ gốcViệt thường bị chephủ dưới dạng Hán, thì các thànhtố Thái‑Việt cổ đivào Hánngữ lại đồngthời lạiđược bảntồn trong tầng Việtcổ nguyênthuỷ. Qua nhiều thờikỳ, lớp Hán‑Việt tươngtác với thóiquen ngônngữ Thái-Việt, tạo nên những khuônmẫu cúpháp đặcthù — chẳnghạn môhình ngữpháp [ danhtự + tínhtự ] như gàcồ so với tiếngQuanthoại 公雞 gōngjī.
Sựphânbiệt này làmcơsở cho nhậnđịnh rằng cộngđồng ‘BáchViệt’ cótrước sựxuấthiện của tổtiên của ngườiHán nói một ngônngữ Hán‑Tạng nàođó thời sơkhai — tại miền Hoanam Trungquốc. Các từnguyên cốtlõi chung giữa Taic‑Việt, Hán, và Việt trong những tiếngnói thuộc ngữhệ Hán‑Tạng như được trìnhbày ở bàiviết Vietnamese Parallels With the Sino-Tibetan Languages.
Dưới gócđộ nhânsinhhọc, các nhóm Thái (Tai) có trước người BáchViệt (Yue hoặc ‘Bod’), rồi đến tộc Dai (Tày, Thái) , những cộngđồng từng nắmquyền thốngtrị nướcSở. Trong khônggian vănhóa Sở ấy, LưuBang — vốn là thầndân nướcSở — trỗidậy và cuốicùng sánglập NhàHán. Sựthăngtiến của ông gắnliền với việc ông được bổnhiệm làm thứsử vùng Hántrung trướcđó, nay thuộc nam Thiểmtây, nơi quân Sở từng chiếnthắng quân Tần.
V) Nhohọc trong vănviết tiếngViệt
Về mặt thuậtngữ, Hán‑Nôm (Sinitic‑Vietnamese) và Hán‑Việt (Sino‑Vietnamese) là hai lớp từvựng khácnhau; lớp trước gồm nhiều tầng từđôi đồngnguyên bị lớp sau chồnglên, lớp Hán-Nôm được hìnhthành bởi các dạng Quanthoại khẩungữ lantruyền ítnhất từ thời NhàHán thếkỷ 2 TTL chođến đời nhàMinh thếkỷ thứ 15.
Sựtồntại bềnvững của nhiều cốđịnhngữ trong tiếngViệt songhành với các biểuthức tươngứng trong Quanthoại hiệnđại cho thấy Quanthoại sơkhai cóthể từng đóng vaitrò ngônngữnói songhành trong giới quanlại để phụcvụ côngvụ. Như phântích của GS Nguyễn Tài Cẩn (Bảng 4) đã nêu, cáchsửdụng này có nhiều khảnăng baogồm các chiếuchỉ nhàvua, vănbản phápluật, và các tấubiểu dânglên triềuđình nhàĐường tại Tràngan (長安), naylà Tâyan (西安市). (5)
Là một đôhộphủ dưới triềuđại nhàĐường, Annam đónggóp cho triềuđình thôngqua các kênh ngườiAnnam tậnsự hànhchính, họcthuật và thợthủcông. Chính những kênh này đã đưa vào tiếngAnnam một lớp từvựng Hán tiếngHán Trungcổ bậccao — những dạng cũng lưuhành trong tiếngQuảngđông — trong suốt triềuđại nhàĐường (618–906).
Từ thời thịnh Đường chođếnkhi tànlụn dần vào cuối thếkỷ 19, phongcách vănngôn Háncổ (文言文) được sửdụng rộngrãi trong cáchviết tiếngViệt. Lối vănhọc côđọng, nhiều điểncố này đã địnhhình cả thơ Đườngluật lẫn vănbản vănhọc tiếngViệt, chođến khi chữQuốcngữ Latinhhoá xuấthiện và mởra một xuhướng vănchương mang tính vănnói hơn (Nguyễn Thị Chân‑Quỳnh, 1995).
Về mặt từvựng, một tầng từvựng Hán‑Việt — có khảnăng bắtnguồn từ khẩungữ thời Đường — được bảotồn với một phongcách đậmnét tiếngHán, tươngtự như vănnói tiếngQuảngđông. Khi tiếngViệt cổđại chuyểnsang giaiđoạn cuối của tiếngViệt Trungđại, các hưtừ mới xuấthiện như những côngcụ thiếtyếu trong cách đặtđể cấutrúc câucú. Qua nhiều giaiđoạn tiếpxúc, lớp từvựng nhàHán và nhàĐường đã đưa thêm từvựng vào tầng từvựng Hán‑Việt.
Nóirộnghơn, chúng thuộcvề một nhóm từvựng gốcHán được địaphươnghoá cóhệthống thôngqua cáchđọc dựa trên các phươngngữ Hán thời Trungcổ, có khảnăng liênquan đến một phươngngữ Thiểmtây thờicổ. . Ảnhhưởng của tiếng Hán-Trungcổ sovới tiếngQuảngđông có môthức songhành này giốngnhư cách Háncổ thời Tần‑Hán địnhhình các phươngngữ MânNam (MinNan) như Phúckiến, Hạmôn (Xiamen, ‘Amoy’), Hảinam, và Triềuchâu.
Đến thếkỷ 16, nhiều thànhtố tiếngHán Trungcổ đã tiếnhoá thành các hưtừ Hán‑Việt (虛辭 xūcí, như ‘giớitừ’, ‘tiểutừ’). Tiểutừ là một lớp từ rất quan trọng trong văn Hán cổ, thường gồm: 之, 也, 乎, 者, 矣, 焉, 以, 於, 其, 乃, 以, 而… Đây là những từ không dịch theo nghĩa từvựng, mà dịch theo chứcnăng.. Chúng trởthành bộphận khôngthểthiếu trong nhóm từvựng tiếngViệt nhưlà ‘à, ạ, nhé, nhỉ, mà, cơ, chứ, thôi, vậy, hả, mà, thì, với, bằng’… Tới đầu thếkỷ 20, những đổimới này ngàycàng phảnánh các mẫu cúpháp tiếngPháp. Các giớitừ đảmnhiệm các chứcnăng ngữpháp tươngtự các ‘proposition’ trong tiếngAnh như ‘of, although, not, in, at, from, hence, albeit’, v.v.
Những yếutố từ côngcụ này trởthành thànhphần cúpháp thiếtyếu để xửlý ngữpháp khôngbiếnhình (‘case’) trong cả tiếngViệt lẫn tiếngHán, giúp liênkết câuvăn mà khôngcần biếnđổi hìnhthái (x. Nguyễn Ngọc San, 1993, tr. 138–142).
Dưới gócđộ loạihình, khi các phươngngữ miềnnam Trunghoa mang đậmnét đặctrưng tiếngHán thuộc phạmvi ngữhệ Hán‑Tạng, việc phânloại dựatrên các thànhtố chiếm ưuthế. Tìnhhuống này tươngtự các kếtquả ngoạingữ khác (6) :
- tiếngPháp ảnhhưởng La‑tinh sovới tiếngAnh gốc Anglo‑Saxon
- tiếngAnh bên Úc sovới tiếngAnh Ấnđộ
- tiếngBungari và tiếngAfrikaans sovới tiếngHàlan
- tiếngPháp‑Latinh sovới tiếng ‘Gaulish’
- tiếngPháp Haiti so với tiếngPháp Marốc
Bảng 5 — Trườnghợp của tiếng Afrikaans
Tiếng Afrikaans, còn được biếttới với tên ‘Cape Dutch’, là một trong mười một ngônngữ chínhthức của NamPhi. Nó hìnhthành vào thếkỷ 17 từ phươngngữ Zuid‑Holland (Nam Hàlan) được những ngườiđịnhcư Hàlan sửdụng tại NamPhi trong giaiđoạn này. Ngônngữ này còn được người gốc HàLan, Pháp, Đức, cũngnhư những người bị họ bắt làm nôlệ sửdụng làm côngcụ giaotế. Từ thếkỷ 18 trởđi, tiếng Afrikaans dần pháttriển các đặctrưng thành một ngônngữ riêng.Tiếng Afrikaans vaymượn từvựng từ tiếngAnh, tiếngĐức và tiếngPháp, phảnánh nềntảng vănhóa và ngônngữ của cộngđồng Âuchâu địnhcư tại NamPhi. Nó cũng tiếpnhận nhiều từ của các ngônngữ bảnđịa châuPhi. Ngữpháp của nó được đơngiảnhoá, chẳnghạn như việc lượcbỏ các đuôi độngtừ chỉ thì. Về ngữâm, có những thayđổi như việc đơngiảnhoá âm “sch” của tiếngHàlan thành “sk” (vídụ từ Hàlan schoen trởthành skoen, nghĩalà ‘giày’).Chođến giữa thếkỷ 19, tiếng Afrikaans chủyếu là ngônngữnói, còn tiếngHàlan chuẩn thì đượcdùng trong vănviết như côngvăn. Vềsau, một phongtrào xuấthiện nhằm cổvũ Afrikaans như một ngônngữ vănhọc. Ngônngữ này dần thâmnhập vào báochí, trườnghọc và nhàthờ. Năm 1925, Afrikaans chínhthức thaythế tiếngHàlan chuẩn.Ngàynay, tiếng Afrikaans được sửdụng chủyếu tại NamPhi và Namibia, và íthơn tại Botswana, Zambia, và Zimbabwe. Ướctính năm 2020 cho rằng số người nói Afrikaans vàokhoảng 15 đến 23 triệu. Phầnlớn các nhàngônngữhọc xem Afrikaans là một ngônngữ ‘creole’.Ngườita ướctính rằng khoảng 90%–95% từvựng Afrikaans có nguồngốc từ tiếngHàLan, cùngvới mộtsố từ vaymượn từ các ngônngữ khác, gồm tiếngĐức và các ngônngữ Khoisan của NamPhi. Những điểm khácbiệt sovới tiếngHàlan gồm ngữpháp và hìnhthái phântích, cùng mộtsố khácbiệt ngữâm. Hìnhthức vănbản của Afrikaans và Hàlan vẫngiữ mứcđộ tươngthông rấtcao. Vào tháng 5 năm 2022, Afrikaans được côngnhận chínhthức là một ngônngữ bảnđịa của NamPhi.
Nguồn: Afrikaans – Wikipedia
Kếtluận
Nhànước Việtnam với lịchsử của tiếngViệt khôngthể táchrời khỏi vànhđai ảnhhưởng Trunghoa kéodài hàng thiênniênkỷ. Từ khi nhàHán thôntính NamViệt năm 111 TTL chođến thờikỳ Annam Đôhộphủ đờiĐường, Việtnam đã tiếpthu tầnglớp từvựng Háncổ và tiếngHán Trungcổ, hệthống thanhđiệu và phongcách vănhọc. Những tầnglớp này — dùlà trong cáchđọc Hán‑Việt, họcthuật Nhohoc, hay sángtạo vănnói chữNôm — đã tạonên khungnền nângđỡ cho tiếngViệt hiệnđại.
Thếnhưng, bêndưới lớp phủ Hánhoá dàyđặc ấy là nềntảng sâuhơn của lớp Thái-Việt (Taic-Yue), một cơtầng cótrước sựbànhtrướng của Trunghoa và vẫncòn hiệndiện qua các từnguyên đồnggốc, đườngnét thanhđiệu và các tươngđồng cấutrúc trong những phươngngữ miềnnam. Vìthế, tiếngViệt mang trongmình một disản kép: các tànlưu Việtcổ được địaphươnghoá theocách rất riêng, và các thànhtố Hán được táicấutrúc qua nhiều thếkỷ tiếpxúc.
Sựxuấthiện của chữQuốcngữ trong thờikỳ cậnhiệnđại đã hợpnhất những tầnglớp này vào một hệchữ thốngnhất, trongkhi các từ vaymượn tiếngPháp chỉ giữ vaitrò thứyếu. Dưới gócđộ loạihình, tiếngViệt là một ngônngữ laitạp — phần nào tươngtự Afrikaans, tiếngPháp Haiti, hay tiếngAnh Anglo‑French — nhưng vẫn độcđáo ở sựcânbằng giữa nềntảng Việt bảnđịa và ảnhhưởng tiếngHán lâudài.
Saucùng, hànhtrình ngônngữ của Việtnam phảnánh chính lịchsử của nướcta: gắnbó sâusắc với Trunghoa, nhưng đồngthời được đánhdấu bởi tinhthần độclập và khảnăng thích-ứng. TiếngViệt hômnay vừalà khotàng disản Việt cổ, vừalà chứngtích sốngđộng của hàng thếkỷ Hánhoá, phânkỳ và sángtạo bềnbỉ.
Sách Thamkhảo:
Alves, Mark J. 2001, 2007, 2009. Works on Sino‑Vietnamese grammatical categories and loanwords.
Annam Dịch ngữ (安南 譯語). 15th century. Vietnamese–Chinese Glossary.
Baxter, William H. 1991. “Zhou and Han Phonology in Shijing.” In Studies in the Historical Phonology of Asian Languages. Amsterdam: John Benjamins.
Benedict, Paul. 1975. Austro‑Thai Language and Culture. HRAF Press.
Bo Yang 伯楊. 1983–1993. 司馬光 資治通鑑 (Sima Guang’s Zizhi Tongjian). 72 vols. Taipei: Yuan‑Liou Publishing Co.
Brodrick, Alan Houghton. 1942. Little China: The Annamese Lands. Oxford: Oxford University Press.
Bùi, Khánh‑Thế. 2007. “Sự tương tác và giao lưu Hán ngữ trong lịch sử ngôn ngữ Việt Nam.” Tập san Khoa học 38: 3–10.
Cao Xuân‑Hạo. 2001. Tiếng Việt, Văn Việt, Người Việt. TP HCM: NXB Trẻ.
Chao, Yuan‑Ren. 1933. “Tone and Intonation in Chinese.” Bulletin de l’Institut de Historique et Philologique.
De Lacouperie, Terrien. 1887/1966. The Languages of China Before the Chinese. Taiwan: Ch’eng‑wen Publishing.
Ferlus, Michel. 2012. Linguistic Evidence of the Trans‑Peninsular Trade Route from North Vietnam. Mahidol University / SIL International.
Forrest, R. A. D. 1948, 1960. Works on Chinese language and archaic finals.
Hannas, William C. 1997. Asia’s Orthographic Dilemma. Honolulu: University of Hawaii Press.
Haudricourt, André‑Georges. 1954, 1961. Works on Old Chinese reconstruction and Austroasiatic connections.
Karlgren, Bernhard. 1915–1964. Étude sur la Phonologie Chinoise; Grammata Serica Recensa; Tones in Archaic Chinese; Word Families in Chinese. Stockholm: Museum of Far Eastern Antiquities.
Lü, Shih‑P’eng 呂士朋. 1964. Vietnam During the Period of Chinese Rule. Hong Kong: Hong Kong University Press.
Mei Tsu‑lin. 1970. “Tones and Prosody in Middle Chinese and the Origin of the Rising Tone.” Harvard Journal of Asiatic Studies.
Nguyễn Ngọc San. 1993. Tìm hiểu về Tiếng Việt Lịch sử. TP HCM: NXB Giáo dục.
Nguyễn Tài Cẩn. 1979. Nguồn gốc và Quá trình Hình thành Cách đọc Âm Hán‑Việt. TP HCM: NXB KHXH.
Nguyễn Tài Cẩn. 1996. Ngữ pháp Tiếng Việt. Hanoi: NXB Đại học Quốc gia.
Nguyễn Tài Cẩn. 2000. Giáo Trình Ngữ âm Lịch sử Tiếng Việt. TP HCM: NXB Giáo dục.
Nguyễn Thị Chân‑Quỳnh. 1995. Lối xưa Xe ngựa…. Paris: Antiêm.
Norman, Jerry. 1988. Chinese. Cambridge: Cambridge University Press.
Rhodes, Alexandre de. 1651. Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum. Paris.
Taylor, Keith Weller. 1983. The Birth of Vietnam. Berkeley: University of California Press.
Wang, Li 王力. 1957. Classical reference on Chinese historical linguistics.
CHÚTHÍCH
(1)^ (1) Tần, (2) Chệt. (3) Tầu, (4) Tàu 秦 Qín (Tần) [ M 秦 Qín < Middle Chinese tʂjin < OC *tʂin | Chinese dialects: Cant. ceon4, Hẹ cin2, Tn ćhiẽ 12, Ta ćiẽ 12, Dc ćhĩ 12, Nx chin12
Tựđiển KhangHi: Mụctừ ‘Tần’ (秦)
Hìnhthức cổ và âmđọc
Trong Đườngvận, Quảngvận, Tậpvận, Loạibiên, Vậnhội, Chínhvận: đọc /qín/, phiênthiết 匠隣切 (tượng‑lân‑thiết) hoặc 慈隣切 (từ‑lân‑thiết). Âm: /qín/ (螓).
Địnhnghĩa
Tên một quốcgia.
Theo Thuyếtvăn Giảitự, Tần là vùngđất được phongcho hậuduệ của Bá Di. Đâylà vùngđất màumỡ, thíchhợp choviệc trồngngũcốc.
Trong ThiKinh · Tần Phong · Xa Lâm và lờichú, ‘Tần’ là tên một thunglũng ở Longtây, nằm vềphía đôngbắc Núi Điểuthử thuộc Ungchâu.
Chúgiải: Ngàynay là đình Tần và cốc Tần.
Bốicảnh lịchsử
Thờikỳ Xuânthu có nước Tần. NhàHán đặt quận Thiênthủy tạiđây; đến đời Bắc-Ngụy đổithành Tầnchâu.
Trong Thịdanh, chữ Tần (秦) cónghĩa là ‘bếnđò’ (津), vì đấtđai màumỡ, ẩmướt.
TamTần (三秦)
Theo Sửký· Hạng Võ bảnkỷ: HạngVũ chia Quantrung thành ba vùng, phongcho ba tướng Tần đầuhàng:
- Trương Hàm làm Ung Vương (雍王)
- Tưmã Tín làm Tắc Vương (塞王)
- Đổng Ỷ làm Trịch Vương (翟王)
Gọichung là TamTần.
ĐạiTần (大秦)
Theo HậuHán · TâyVực truyện: ĐạiTần chỉ vùng đất phíatây biển (Hảitâyquốc). Người ởđó caolớn, ngaythẳng, giống người Trunghoa, nên gọilà ĐạiTần.
Ghichú ngữâm
Chữ 秦 Qín (‘Tần’) có vần kết thúc bằng âmmũi mở /‑n/, khó chuyểnsang âm /‑w/ (trònmôi, khéplại).
Theo Thuyếtvăn Giảitự, âmcổ của 秦 (vốn chỉ một loạingũcốc) gầnvới 舂 (cōng, HV ‘thông’, Hán-Nôm ‘tàu’).
Sosánh quyluật biếnâm, điềunày giốngvới biếnđổi:
痛 tòng (SV thống) → ‘đau’.
Ngoàira, chữ này từng được mượn để đọc 牆 (qiáng, HV ‘tường’), vốn tươngứng với Hán-Nôm ‘thương’ ~ Hán-Nôm ‘đau’.
Bốicảnh lịchsử mởrộng
Trước và sau thời Chiếnquốc (ĐôngChu), chữ 秦 Qín được dùng rộngrãi để chỉ nước Tần — quốcgia mà Tần Thỉhoàng thốngnhất cùng sáu nước khác năm 246 TTL.
Trong vănhóa Việtnam, Tết Đoanngọ (mùng 5 tháng 5 âm lịch) có dấuấn một phongtục lớn. Một tậptục là gói bánhgạonếp và thảxuống sông để ngăn khôngcho lũ cá đến rỉa xác Khuất Nguyên, một trungthần nướcSở, người đã trầmmình xuống sông tựvẫn để không rơi vào tay quân Tần.
Vì thế, trong tiềmthức lịchsử, chữ ‘Tần’ gắnvới sựchốngđối và thậmchí tâmthức khinhghét.
Ngàynay, vùngđất nướcSở xưa thuộc Tỉnh Hồbắc, cóthể từng thuộc hoặc liênquan mậtthiết đến vùng BáchViệt phươngnam hơn 2.000 năm trước (Vânnam, Quảngtây, Hồnam, Quảngđông, Phúckiến, Chiếtgiang, Giangtô…).
Điều này củngcố khảnăng liênhệ giữa ‘Tần’ → ‘Tàu’, như trong tiếngViệt ‘Tàuô,’ phùhợp với sắcphục đen của quan Tần.
Về giảthuyết “Tàu” = “tàughe”
Có ýkiến chorằng ‘Tàu’ từ ‘tàughe’, vì ngườiTàu là những người đến Việtnam bằng thuyền.
Nhưng đây chỉlà giảthuyết dângian.
Liênhệ ngônngữ hợplýnhất vẫnlà:
Tần = “Tàu”
Người các nước chưhầu bị Tần thôntính đều cămghét Tần (“Tàu”).
Quan sát ngônngữ khác
Người QuảngĐông tại Việtnam thường tựgọi là Thòngdành (唐人 Tángrén, ‘người Đường’) hay ngườiĐường.
Âm /thòng/ trong 唐 cóthể chuyểnsang ‘tàu’ theo quyluật biếnâm /‑ương/ → /‑au/.
Tuynhiên, giảithích ‘Tần’ = ‘Tàu’ vẫn mạnhhơn.
NgườiViệt không cămghét người Quảngđông như cămghét ‘Tần’.
Trong tiềmthức, ngườiViệt cólẽ nhậnra người Quảngđông thuộc một nhánh BáchViệt đã bị Hánhoá hoàntoàn — như trườnghợp Triệu Đà, tựxưng NamViệtvương, đóngđô tại Phiênngung (Quảngchâu).
Biếnâm Trung → Tàu
Trong phân tích ngữâm:
- 中 Zhōng (‘Trung’) cóthể chuyểnsang Tàu theo biếnđổi:
- /ʈ‑/ → /t‑/
- /‑ŋʷ/ → /‑w/
Giống quyluật: 痛 (tòng, HV thống) → ‘đau’.
Vídụ:
- 秦晋之緣 Qín‑Jìnzhīyuán → Kếtduyên Tần‑Tấn
- 秦人 Qínrén → ngườiTàu
- 三秦 SānQín → BaTàu
- 秦越 Qín‑Yuè → Tàu‑Việt
Thuậtngữ ‘China’ và ‘Chinese’ đều bắtnguồn từ NhàTần (246–210 tr.TL).
‘Tần’ cũng là họ, tên bộtộc, và tên vùng đất (như Thiểmtây).
Trong tiếngViệt, ‘Chệt’/’Chệc’ mang sắcthái miệtthị, cóthể từ 潮 /cháo/ (Triềuchâu).
Chuỗi biếnâm: 潮 cháo → Triều → Tiều → Tàu.
TamTần (三秦) — giảithích mởrộng
(1) Sau khi Tần diệtvong, Hạng Võ chia Quantrung cho ba tướng nhàTần:
- Trương Hàm → Ung Vương
- Tưmã Tín → Tắc Vương
- Đổng Ỷ → Trịch Vương
Gọichung là TamTần (Sửký · Tần Thỉhoàng bảnkỷ).
Vềsau, TamTần chỉ vùng nay là Thiểmtây.
Thơ Vương Bột: “Thànhcác chống TamTần, phongkhói trông Ngũ Quan.”
(2) TamTần cũng chỉ ba châu:
- Tầnchâu (秦州)
- Đông Tầnchâu (東秦州)
- Nam Tầnchâu (南秦州)
Ngụy Thư · Nhĩ Chu Thiên Quang truyện: “Từ TamTần, sông Hà, sông Vị, Quáchchâu, Lươngchâu, Thiệnthiện đều đến quyphục.”
Thônggiám: Hồ Tam-Tính chú: “TamTần tức Tầnchâu, Đông Tầnchâu, Nam Tầnchâu.”
Ghi chú: “BaTàu” trong tiếngViệt là cáchgọi miệtthị người Trunghoa.
(2)^ ‘ChữNôm’ được biểuthị bằng 𡨸喃, cũng được viết dưới dạng 字喃.
(3) ^ Sựtồntại của ‘tiếng Annam’ trong khẩuâm Hảinam: Cáchgọi ‘Annam’ (安南話) vẫncòn được sửdụng trong tiếngHảiNam, phátâm là /A1nam2we1/. TiếngHảiNam là một phân‑phươngngữ thuộc hệ Mânnam, nằm trong nhóm Phúckiến (Hokkien, Hạmôn), được ngườidân tỉnhđảo Hảinam, Trunghoa sửdụng.
(4)^ Hãy xét thêm một trườnghợp khác, một vídụ cóthể xem là “Việtnam” hơn là “Trunghoa”, dù vẫnđược cấutạo từ vậtliệu ngônngữ Hán. Đó là cặp ‘phải’ và ‘trái’, hai từ khác với các từ tươngứng trong tiếngHán nhưng lại tươngứng về mặt ýniệm với cặp “đúngsai” và “phảitrái”.
Trong tiếngViệt, ‘trái’ vừa cónghĩalà “sai”, vừa nghĩalà “bêntrái”. Nghĩa “sai” cóthể liênquan đến saitrái (差錯 chācuō, HV saitô, HN ‘sai’), trongđó 錯 cuō đikèm với 差 chā (‘sai’ trong tiếngViệt). Về mặt ngữâm, HN ‘trái’ cóvẻ liênhệ với 左 zuǒ (HV tả, ‘trái’). Trongkhi đó, ‘phải’ hoạtđộng tươngtự như tiếngAnh ‘right’, vừa nghĩa “bênphải”, vừa nghĩa “đúng”, nhưtrong ‘phảichăng’ 平等 píngděng (HV bìnhđẳng). Sựliênhệ này còn thấy trong từkép ‘phảitrái’ (是非 shìfēi, HV thịphi), nghĩalà “đúngsai”.
Đáng chúý, tiếngViệt ‘phải’ (‘đúng’) khôngphảilà từ đồngnguyên 右 yòu (HV hữu, ‘bênphải’) nhưtrong ‘tảhữu’ (左右 zuǒyòu, HN ‘tráiphải’). Tuynhiên, các tươngđồng ngữâm gợiý một mốiliênhệ giữa 右 /yòu/ và ‘phải’ trong môhình biếnâm /y‑ ~ b‑/. Môhình này xuất hiện trong các cặp từkép trong tiếngViệt:
- 郵 yóu (HV bưu, ‘bưuđiện’)
- 由 yóu (HN ‘bởi’, ‘vì’, ‘do’)
- 柚 yóu (HN ‘bưởi’, nhưtrong ‘tráibưởi’)
- 游 yóu (HN ‘bơi’, ‘lội’)
Những tươngứng này gợiý rằng 右 yòu cóthể từng mang những đặctrưng ngữâm gần với tứ ‘phải’. Cóthể trong thời tiềnsử, phải từng có âm gần với /bɨw/.
Điểm quantrọng hơn là: nhiều từ tiếngViệt hiệnđại được sángtạo bằng vậtliệu ngônngữ Hán. Cặp ‘phảitrái’ (是非 shìfēi) phảnánh môhình tạo từ songđối trong tiếngViệt, tươngtự các cặp:
- caothấp 高低 (HN ‘caothấp’)
- tonhỏ 大小 dàxiǎo (HN ‘tonhỏ’)
- nặngnhẹ 輕重 qīngzhòng (HN ‘nặngnhẹ’)
(5)^ Sosánh với tiếngAnh được sửdụng tại nhiều vùng trên thếgiới trong các thuộcđịa cũ của Anhquốc, ta cóthể hìnhdung rằng tiếngQuanthoại sơkỳ cólẽ đãtừng đượcdùng làm tiếngnóichung (lingua franca) tại Annam trước năm 939 SCN.
(6)^ Tươngứng ngônngữ trong các thuộcđịa cũ: Tươngtự vaitrò của tiếngAnh được sửdụng như tiếngnóichung toàncầu trong các thuộcđịa cũ của Anhquốc, tiếngQuanthoại sơkỳ cóthể đã đảmnhiệm một chứcnăng tươngtự tại Annam trước năm 939 SCN. Ngay cả ngàynay, cưdân Hànội vẫn gắnkết sự thanhnhã và tinhtế với ngườidân Tràngan của thời Thịnh-Đường, và tựxưng nhưvậy với một ýthức vănhóa đầy tựhào. Hìnhảnh ẩndụ này phảnchiếu tâmthức đầu thếkỷ 20 qua câu “Saïgon est Paris de l’Orient” (Sàigòn là Balê của Viễnđông), mặcdù ngườiPháp chỉ đặtchân đến Sàigòn vào năm 1868 và sựhiệndiện thuộcđịa của họ tại Việtnam chỉ kéodài đến năm 1954.

Leave a Reply