Tínhtươngđối Âmvịhọc Lịchsử và Giớihạn của Sựphụcnguyên Ngữâm Lịchsử

by dchph in collaboration with Copilot
Giảthuyết NamÁ về nguồngốc tiếngViệt bị suyyếu vì thiếu nềntảng lịchsử và vì nănglực ngônngữ hạnchế của các tácgiả chủchốt trong việcsosánh lĩnhvực liênquan. Việc họ chịu phụthuộc vào các bảngtừcơbản để táithiết phụcnguyên âmtiết mà thiếusót tưliệu lịchsử đã dẫnđến những sailầm về phânloại có tínhhệthống. Khi khảosát bằngchứng cấutrúc, âmvị và ngữnghĩa, từnguyên tiếngViệt phùhợp nhấtquán hơnnhiều với môhình Hán-Tạng so với Môn-Khmer. Các thídụ như mẹ, mợ, mái, gàmẹ, gàmái, cậumợ đều cóthể truyvề gốc Háncổ 母 mǔ và các dạng pháisinh của nó.
I) Thiềnđạo của HánViệt
Từnguyên tiếngViệt cần được tiếpcận trong tâmthế thiềnquán, truytầm cộnghưởng âmthanh với chiềusâu lịchsử. Thuậtngữ HánNôm và HánViệt (1) ở đây phảnánh sựhộitụ tầnglớp giữa tiếngViệt và tiếngHán, khôngphải quanhệ huyếtthống. Các cộngđồng BáchViệt cổ tồntại trước Đời Tần, và nhiều từ Việt như cộ, sọ, răng, chua, heo, lợn tươngứng với các dạng Háncổ được ghi trong vănhiến. Những liênhệ này, thường bị các họcgiả NamÁ bỏqua, lại được chứngthực bởi các chìakhoá ngữâm như “đọcnhư” (讀若 HV độcnhược), “phiênthiết” (反切 HV phảnthiết), hìnhthanh 形聲. Từvựng HánViệt cho thấy quanhệ đồngnguyên sâulắng với gốc HánViệt cổ, táchbiệt với lớp từ Môn-Khmer.
Về mặt từnguyên, nghiêncứu nguồngốc của bấtkỳ từ Việt nào cũng cầnđược thựchiện trong tâmthế trầmtĩnh, như ngồithiền hay yoga, chậmrãi cảmnhận âmthanh nổ trênmôi. Thựcra tiếngHán cũngnên được khảosát nhưthế. Thídụ: 弩機 nújī (cònỏ), trong đó 弩 nú = nổ = nỏ = ná (cùng bảngvận với 魚 yú = ngư = nga = ngá = cá) và 機 jī = cơ = cò, như được môtả trong Thuyếtvăn Giảitự bởi Hứa Thận Đời Hán, chứ khôngphải là “conthoi” như Đoạn Ngọc Tài (段玉裁) Đời Thanh suyđoán (xem Xu Zhongshu 1934: 425, 427, 441).
II) Bằngchứng HánNôm bị bỏqua
Các họcgiả NamÁ hiệnđại quá chútrọng vào nhómtừ cơbản, bỏqua thanhđiệu và các thuộctính Hánngữ quantrọng. Họ hầunhư không xétđến lớp bằngchứng HánNôm trong ngônngữhọc lịchsử Trunghoa. ‘Việtic’ là thuậtngữ muộn, chỉ phânnhánh ngônngữ liênquan đến Việt-Mường; còn Việtcổ được ghibằng các tựdạng 粵, 越, 戉, 鉞… nay phânbố trong các phươngngữ NamHán như Quảngđông và Phớckiến.
Về thưtịch, bằngchứng từnguyên Việtcổ nằm rảirác trong vănhiến Trunghoa. Tính khảtín của các đồngnguyên được thểhiện qua các kýhiệu âmngữ như ‘đọcnhư’ 讀若, ‘phiênthiết’ 反切, ‘hìnhthanh’ 形聲. Thídụ: tiếngViệt cộ /ko6/ (HN xe) là biếnthể của 轂 gǔ, một dạngcổ của 車 chē (HV xa), được HậuHánthư ghi “đọcnhư” 居 jū (SV cư), vốn mang thanhphù 古 gǔ (HV cổ, Háncổ *ku). Nhiều tựdạng cổ được ghi trong Khanghi Tựđiển với hơn 50.000 mục, phảnánh các dạng phươngngữ và chìakhóa âmđọc.
Trong lĩnhvực từnguyên HánViệt này, theo thờigian, nhiều từ cổ bị maimột đã được nhậndiện, phântích và táithiết. Côngviệc ấy đãicáttìmvàng trong dòng vănhiến, để tìm từng từnguyên, thídụ:
- sọ 首 shǒu (SV thủ),
- răng 齡 líng (SV linh),
- ngọt 𩜌 yuē (SV ngạt),
- chua 酸 suān (SV toan),
- rát 熱 rè (SV nhiệt),
- heo 亥 hài (SV hợi),
- lợn 腞 dùn / 豘 tún (SV độn)
Các họcgiả NamÁ đã bỏqua những liênhệ này. Cóthể họ khôngbiếtrằng dấuvết ngônngữ Việtcổ và Háncổ đang dần được phụcnguyên qua phântích từnguyên. Những liênhệ này trảidài từ dạng tiền-Hán đến dạng Háncổ, rồi đến HánViệt.
Tấtcả những từ này đều thuộc loại đồngnguyêntừ 同源辭, thídụ 川 chuān, 水 shuǐ, 江 jiāng đều cónghĩalà “sông”. Từ sông của tiếngViệt khôngnên bị gán cứng vào 江. Từngốc HánViệt được giảđịnh là pháttriển từ dạng HánViệt cổ.
Cụthể, etymon HánViệt cổ 狗 gǒu tươngứng với chó, còn âm HánViệt cẩu tươngứng với dạng HánViệt cổ cầy. Đồngthời 犬 quán sinh ra cún. Tươngtự, 眼 yǎn và 目 mù tươngứng với mắt, còn 首 shǒu và 頭 tóu tươngứng với trốc. Những lớp này cho thấy quanhệ tầnglớp.
Ngượclại, bảngtừ Môn-Khmer khôngcó các dạng tươngứng cho những từ cănbản này, cho thấy giớihạn của môhình NamÁ (xem Nguyễn Ngọc San 1993).
III) Bối‑cảnh Khảo‑cổ và Lịch‑sử
Khai‑quật khảocổ tại nướcSở (楚國) ở Hoanam chothấy nhiều ditích tiền‑Thái nằm trong vănhoá Việt cổ. Điềunày phùhợp với ngônngữhọc lịch‑ử, đặcbiệt qua việc nhậndiện các từ HánViệt cổ.
Cần nhớ rằng LưuBang (劉邦), vịvua khaitổ nhàHán, vốnlà người nướcSở, cũng giốngnhư nhiều thuộchạ của ông. Sau quátrình Hánhoá các yếutố ngônngữ Sở gốc Thái‑Việt (Taic-Yue) được hấpthu vào Hánngữ và dần đượcxemnhư “thuần Hán”.
Hiệntượng tươngtự xảy ra với Môn-Khmer: những nhóm Môn-Khmer từ vùng tâynam BắcViệt dicư vào đồngbằng Sông Hồng, tiếpxúc với cưdân Thái bảnđịa và người BáchViệt từ Độngđìnhhồ. Sựhộitụ này tạo ra các lớp giaothoa ngônngữ thường bị phânloại sai hoặc giảnlược (Nguyễn Ngọc San 1993: 43).
IV) Hướngđến phươngpháp mới
Dù những phát‑hiện này có làm lunglay giảthuyết Môn‑Khmer hay không, chúng vẫn bổsung cho lĩnhvực HánViệt học vốn còn thiếu pháttriển. Côngtrình hiệnnay chủyếu dựa vào các âmđọc HánViệt lịchsử, trong khi từnguyên HánViệt lại tiếnbộ theo hướng đồngđại.
Hai kỹthuật mớI làm tăng độ tin‑cậy:
Phươngpháp tươngđồng – nhậndiện các từnguyên gốcHán bị chekhuất dưới lớp từvựng Môn‑Khmer. Thídụ: chim ‘bird’ 禽 qín, chuột ‘mouse’ 鼠 shǔ, ngựa ‘horse’ 午 wǔ, heo ‘boar’ 亥 hài, trâu ‘buffalo’ 丑 chǒu.
Phươngpháp địnhâm – khảo‑sát các từnguyên “anhchịem” trong cùng trườngnghĩa, như đất 土 tǔ ‘soil’ và 地 dì ‘land’; nặng ‘heavy’ 重 zhòng (SV trọng) và nhẹ ‘light’ 輕 qīng (SV khinh).
Phươngpháp tươngđồng cho phép nhậndiện tíchcực và táithiết hợplý các từnguyên tiếngViệt gốcHán, kể cả những dạng bị chekhuất dưới lớp từcơbản Môn‑Khmer. Không có phươngpháp này, nhiều dạng đã cóthể bị bỏqua. Thídụ: chim tươngứng 禽 qín, chuột tươngứng 鼠 shǔ, ngựa tươngứng 午 wǔ, heo tươngứng 亥 hài, trâu tươngứng 丑 chǒu. Những trườnghợp này cho thấy tưduy tươngđồng cóthể hélộ các quan‑hệ từnguyên sâulắng vốn bị chephủ bởi các phânloại bề‑mặt.
Phươngpháp tươngđồng cũng cho phép khảo‑sát các từnguyên “anhchịem” trong cùng trườngnghĩa hoặc cùng phạmtrù vănhoá. Nếu một từ chia sẻ đặcđiểm ngônngữ với một dạng gốcHán, các dạng liênquan cóthể được giảđịnh thuộc cùng một thểloại từnguyên. Thídụ: đất tươngứng 土 tǔ (‘soil’), còn 地 dì (‘land’) chia sẻ cùng trườngnghĩa. Tươngtự, nặng tươngứng 重 zhòng (SV trọng), và nhẹ tươngứng 輕 qīng (SV khinh).
Trong ngữcảnh vănhoá, các quan‑hệ này mởrộng sang các tổhợp hìnhtiết mang ýnghĩa chung:
懷念故土 huáiniàngùtǔ → nhớvềđấttổ 心地 xīndì (SV tâmđịa) → tấmlòng 重擔 zhòngdàn → gánhnặng 輕視 qīngshì → khinhkhi, xemnhẹ 容易 róngyì → dễdàng 困難 kùnnán → khókhăn
Những thídụ này thểhiện cả nghĩađen (正義 zhèngyì) lẫn nghĩabóng (偏義 piānyì).
Phươngpháp đinhâm tậptrung vào đặcđiểm haimâm của từ songtiết. Cáchtiếp‑cận này giúp truytìm từnguyên của nhiều từ HánViệt cơbản và thường bổtrợ cho phươngpháp tươngđồng. Thídụ: 田地 tiándì tươngứng đồngruộng; 下地 xiàdì ‘ra đồng’ tươngứng radồng. 地 dì (SV địa) ánhxạ đến đồng, còn 田 tián (SV điền) liênquan đến cả đồng và ruộng. Trong trườnghợp này, 地 dì cóthể tiếnhóa thành đồng, được biểuthị bằng 垌 tóng (‘paddy field’), vốn liênquan ngữnghĩa với 田 tián.
Phươngpháp đinhâm yêu‑cầu nhà ngônngữhọc lịchsử xem các biếnđổi âmthanh trong từ songtiết Hán như các hiệntượng đồngđại. Mỗi âmtiết cóthể hoạtđộng như một đơnvị tựsinh với các đặctính riêng. Thídụ: 田 tián vốn nghĩa “săn” trong HánCổ và cóthể đồngnguyên với từ Việt săn, theo quyluật biếnđổi /t‑ ~ s‑/ (MC dɛn < OC *l’iːŋ).
Quátrình này không tuân theo các quy tắc cứng của HánTrung, HánViệt hay QuảngĐông, mà phảnánh các kếtquả ngẫuphát do biếnđổi từvựng, co rút, hoáthân, đảovị hoặc tráivận. Đây là các hiệntượng đồngđại, trong đó mỗi hìnhtiết cóthể phânnhánh thành nhiều dạng âmvị.
Hai phươngpháp tươngđồng và đinhâm địnhvị lại từnguyên tiếngViệt trong liêntục Hán‑Việt, tháchthức giớihạn của táithiết NamÁ và mởra các hướng mới cho âmvịhọc lịchsử sosánh.
V) Đưa tiếngViệt vào khung Hán‑Việt của ngữhệ Hán‑Tạng
Cuốicùng, hai phươngpháp mởrộng này – tươngđồng và địnhâm – cungcấp bằngchứng về các đặcđiểm Hánngữ nằmẩn trong tiếngViệt. Chúng đặtnềntảng cho việc phânloại tiếngViệt vào một phânnhánh HánViệt mới, nằm trong ngữchi Hán thuộc ngữhệ Hán‑Tạng.
A. Vịtrí ngônngữ
Hai phươngpháp trên hélộ các đặcđiểm Hánngữ nằmẩn trong tiếngViệt. Chúng củngcố việc phânloại tiếngViệt vào một phânnhánh HánViệt mới, thuộc nhánh Hán trong họ Hán-Tạng.
Hán-Tạng
└── Hán
├──Bảy nhóm phươngngữ Hán
└── HánViệt cổ
└── Hán-Nôm
----------------------
(*) (dựa trên đồngnguyên của hơn 400 từ Hán‑Tạng cơbản với các dạng HánViệt.)
1. Sựdungnạp NamÁ
Làm thế nào để các từnguyên Môn‑Khmer phùhợp trong khung lýthuyết này? Để đápứng yêu‑cầu của các nhà NamÁ học, một vịtrí được đềxuất như sau:
Làm sao các từnguyên Môn‑Khmer, tức các đồngnguyên NamÁ, cóthể được đặt vào sơđồ trên?
Để thoả‑mãn yêu‑cầu của trườngphái NamÁ, vốn giảđịnh cả tuyến Taic > Môn‑Khmer, một sơđồ vịtrí được đềxuất như sau:
Tháicổ (proto‑Taic)
├── HánViệt cổ
│ └── Hán
│ └── HánNôm* → Annam cổ → tiếngViệt
│
└── Thái (Taic)**
└── NamÁ*** → Mon‑Khmer → Việt-Mường → Việtcổ → tiếngViệt****
----------------------
(*) baogồm HánViệt
(**) các yếutố ngônngữ cótrước phânloại NamÁ
(***) Yue (BáchViệt) khôngcó yếu‑tố Hán
(****) trùng với tuyến trên, cóthể lượcbỏ
2. Nguồngốc Tháicổ (proto‑Taic)
Lýthuyết Hán-Việt cổ trìnhbày ởtrên gợiý rằng các dạng ngônngữ Việtcổ cóthể phátxuất từ một họ Tháicổ (proto‑Taic) chung, có niênđại khoảng 4.000–6.000 nămtrước. Tầng ngônngữ cổ này cóthể cũng gópphần hìnhthành họ tiền-NamÁ (proto‑Austroasiatic) ngày nay. Toànbộ quátrình này diễnra songhành với sựlantruyền của vănhoá trốngđồng Đôngsơn, do những nhóm BáchViệt cổ mang theo khi dicư xuống quầnđảo Indonesia, nơi các divật ấy vẫncòn hiệndiện.
Nếu giảđịnh này đúng, thì lýthuyết trướcđây về một lànsóng dicư ngược từ bánđảo Đôngdương lên phươngBắc khôngthể gán cho ngườiViệt hay ngườiNamÁ như thườngđược suyđoán. Cả hai môhình — NamÁ Môn‑Khmer và Hán‑Việt cổ — đều mang tínhgiảthuyết.
3. Hộinhập và bảnsắc
Trong cùng thời kỳ hìnhthành ấy, các thựcthể Việt‑Hán (Yue-Han) bắtđầu địnhhình thôngqua sự hộinhập các yếutố ngônngữ và vănhoá. Sựchuyểnhóa này xảyra giữa các nhóm bảnđịa tạichỗ và các cộngđồng Hán‑Tạng dicư từ phíanam sông Hoànghà, chiếcnôi của vănminh Thương‑Ân. Từ sựhộinhập này xuấthiện nềntảng ditruyền và vănhoá mang bảnsắc Trunghoa sơkhai.
Những cộngđồng sớm này chiasẻ các truyềnthống thầnthoại vẫn còn vangvọng trong kýức vănhoá Trunghoa và Việtnam. Các truyềnthống thầnthoại chung gồm:
- 炎帝 Yándì (HV Viêmđế)
- 神農 Chénnóng (HV Thầnnông)
- 龍種 Lóngzhǒng (HN ‘conrồng’, conrồngcháutiên)
Những nhânvật này kếttinh disản tượngtrưng ởkhắp lưuvực Trườnggiang.. (See Nguyen Nguyen’s On the Origin of Vietnamese)
4. Ranhgiới linhhoạt
Dù xem BáchViệt là dòngdõi chủđạo hay xem NamÁ Môn‑Khmer là một nhánh thứyếu, cả hai nhóm dườngnhư đều tiếnhóa từ một tầngtổ chung — thường gọi là Tháicổ (proto‑Taic) — có niênđại khoảng 4.000–8.000 nămtrước. Ở giaiđoạn sớm ấy, ranhgiới giữa các cộngđồng này còn linhhoạt và phụthuộc vào cách diễngiải, dựa chủyếu trên bằngchứng khảocổ và các huyềnthoại truyềnkhẩu được kểlại qua nhiều thếhệ.
Về mặt lịchsử, dù một số giảthuyết vẫncòn tính giảđịnh, những giảthuyết khác lại được chứngthực bởi thưtịch cổ. Thưtịch cổ xácnhận sựhiệndiện của BáchViệt:
- 夜朗國 Yèlángguó (HV Dạlangquốc) ở Tứxuyên
- 越國 Yuèguó (HN nướcViệt) ở Giangtô (Thiệuhưng)
- 楚國 Chǔguó (HN nướcSở) ở phíatây
- 吳國 Wúguó (HN nướcNgô) ở phíabắc
- 閩粵 MǐnYuè (HV MânViệt) ở phíanam
Những nhànước này tồntại trong thời Chiếnquốc (475–403 TCN), là nơi cưtrú của các cộngđồng BáchViệt cổ (proto‑Yue) mang bảnsắc vănhoá riêngbiệt.
Tưliệu lịchsử thời kỳ này cungcấp bằngchứng đángkể về các cộngđồng nói tiếng Tháicổ (Taic), vùng địnhcư của họ, và các dạng ngônngữ cóthể họ đã sửdụng. Rõràng họ là cưdân thuộc các tộc BáchViệt vềsau, nói các ngônngữ Việtcổ (Yue) và giữ gìn bảnsắc vănhoá riêng trong thời Chiếnquốc.
B. Giớihạn của thuyết NamÁ
Tuynhiên, các họcgiả NamÁ đã gán cho những cộngđồng này một nhãn chung “NamÁ” mà không làmrõ tínhphứctạp của nguồngốc họ. Tiềntố “Austro‑” chỉ cónghĩa là “phươngnam”, nhưng “phươngnam” ởđây chỉ vùng nào? Hoanam? Phíanam Bánđảo Đôngdương? Hay thậmchí Nambáncầu? Sự mơhồ này phảnánh giớihạn của môhình NamÁ, vốn bỏqua tầngnền Việt‑Thái (Yue‑Taic) và tínhliêntục lịchsử của nó.
Mãiđến đầu thậpniên 1970, vănchương ViệtNam vẫncòn chịu ảnhhưởng sâuđậm của phongcách Trunghoa. Vănxuôi và thica đều mang tínhmỹhọc cổđiển, với thơ thường theo vậnluật Đườngthi và giàu hìnhảnh gắnvới bốicảnh Trunghoa cổtruyền. Cảnh tuyết phủ ở Tôchâu hay Hàngchâu trởthành môtíp sáomòn, nhưng biểutrưng cho ảnhhưởng bềnbĩ của thica cổđiển Trunghoa. (Xem Tô Kiều Ngân 2013; Hà Đình Nguyên 1992)
Ngượclại, vănbản thếkỷ XXI — đặcbiệt trên các báo chínhthức như Tuổitrẻ và Thanhniên — thểhiện phongcách Việt hiệnđại, tựdo, phảnánh chủđề đươngđại, viếtbằng ngônngữnói, và sự táchrời khỏi khung vănchương cổđiển Trunghoa, đánhdấu một chuyểnbiến vănhoá‑ngônngữ rộnglớn.
1. Sự hộinhập và hìnhthành Hán‑Việt (Sinitic‑Yue)
Từ gócnhìn pháttriển Hánngữ, cóthể giảđịnh rằng Hán‑Việt (Sinitic‑Yue) tiếnhóa qua sựhộinhập giữa ngônngữ của cưdân BáchViệt bảnđịa và các nhóm Hán‑Tạng sớm. Những nhóm sau mới đến này — cóthể là dân dumục, thôngminh, và có tổchức quânsự — có khảnăng họ là tổtiên của cưdân Nhà Ân. Họ địnhcư dưới vùng phíanam Hoànghà; họ tiếnvào vùng cưtrú của các cộngđồng BáchViệt cổ ở Hoanam ngàynay. (1)
Các từnguyên liênquan đến sự hộinhập này, vốn xuấtphát từ ngônngữ BáchViệt cổ, vẫncòn hiệndiện trong tiếngnói của các dân tộc thiểusố như Choang (Nùng), Thái (Tày), Đồng, Miêu (Mèo). Những tànlưu ngônngữ này là bằngchứng thuyếtphục về một tầngnền lịchsử sâulắng đã địnhhình sựtiếnhóa của Hán‑Việt còn hiệndiện ở Hoanam ngày nay. (Xem What Makes Chinese So Vietnamese – Appendix K)
2. Trườnghợp ngoạilệ của tiếngViệt
Riêng đối với tiếngViệt, lịchsử chothấy đâylà một trườnghợp đặcbiệt của một dạng Việtngữ đã Hánhoá, hoàtrộn mạnh với yếutố Hán do trảiqua 1.060 năm dưới sựcaitrị của Trunghoa như một quậnhuyện. Tuynhiên, mứcđộ Hánhoá của tiếngViệt thấp hơn nhiều sovới quátrình đã biến các thứtiếng Quảngđông và Phúckiến trởthành các “phươngngữ Hán” từ đời Hán và Đường. Hai vùng ấy tiếptục chịu lànsóng di‑ư của ngườiHán qua nhiều thếkỷ; tráilại, từ năm 939, cưdân Việt trong cươngthổ Annam đã giữđược chủquyền và để tiếngViệt tiếnhóa theo hướngriêng. Hiệntượng tươngtự đang xảyra tại đảo Hảinam của Trungquốc, nơi lànsóng dicư từ phươngBắc tăngmạnh từ đầu thiênniênkỷ này. Nhiều chuyêngia Việtnam chưa chúý đầyđủ đến những chitiết lịchsử này.
3. Phânloại trong ngữhệ Hán‑Tạng
Việc phânloại tiếngViệt vào ngữhệ Hán‑Tạng dựatrên bằngchứng đángkể từ các yếutố ngônngữ cốtlõi và từnguyên liênquan đến nguồngốc Hán‑Tạng (xem What Makes Chinese So Vietnamese: Chapter 10, về từnguyên Hán‑Tạng).
Theođó, các phươngpháp được đềxuất trong nghiêncứu này khácbiệt đángkể sovới các môhình có củngcố giảthuyết NamÁ về nguồngốc tiếngViệt.
Tựutrung, các mụctừ Hán‑Việt được khảosát ởđây đốilập rõ với đặctính ngônngữ trong từvựng Môn‑Khmer. Sựđốilập này sẽ được trìnhbày trong các phântích sosánh ở phần au.
VI) Về tínhtươngđối của âmvịhọclịchsử và giớihạn của táithiết
Từ đầu thậpniên 1980, các vùng núi dọcrìa tây Tâynguyên — nơi cưtrú của các tộcngười nóitiếng Môn‑Khmer từ cổđại — đã chứngkiến biếnđộng dâncư đángkể. Nhiều nhóm dân từ miền Bắc ViệtNam, vì nghèođói, đã dicư vào đây, làm thayđổi cânbằng xãhội và vănhoá lâuđời.
Đồngthời, Trungquốc tiếptục đưa côngnhân sang làmviệc trong các tôgiới tại Việtnam. Nhiều người ởlại vĩnhviễn saukhi hếthạn thịthực, gópphần làm thayđổi cơcấu dâncư địaphương.
Quátrình dicư tưởngnhư đơnthuần này thựcra đã làmtăng độphứctạp của tiếpxúc ngônngữ vùngmiền. Sựtươngtác giữa các tộcngười đã diễnra liêntục từ cổđại vẫncòn tiếptục, và lànsóng hiệnđại chỉlà sựtiếpnối của môhình giaothoa đangữ lâuđời ấy.
A. Sựhìnhthành của các cặptừ đồnggốc
1. Đồngnguyên tầnglớp
Đối với từnguyên của các cặptừ đồnggốc tiếngViệt, hẳn đãcó một giaiđoạn ươmủ trướckhi các dạng pháisinh xuấthiện trong một hệthống đồngnguyên. Nhiều từ thoạtnhìn cóvẻ “thuầnViệt”, nhưng khi khảosát kỹ cóthể xuấtphát từ một tầng tiền‑Hán hoặc phi‑Hán, kýhiệu ởđây là [X], thídụ:
- VS sông (river) <~ { Taic ~ [X] ~ Yue } ~> 江 jiāng (‘river’)
- VS sọ (cranium) <~ { Taic ~ [X] ~ Yue } ~> 首 shǒu (‘head’)
Điều này đốilập với sựtiếnhóa muộnhơn của 頭 tóu (SV đầu). Đángchúý, cùng một tự 首 shǒu lại có dạng Việtcổ là trốc. Âm HánViệt đầu 頭 tóu trong tổhợp songtiết 頭腦 tóunǎo sinhra cả SV đầunão (‘headquarter’) và VS đầunậu (‘ringleader’), trong đó đầunậu lại mang nghĩa ‘đầunão’ trong tiếngHán.
Mộtsố từnguyên cóvẻ giảđịnh nhưng khi phântích lại chothấy đồngnguyên cùngchung một tầnglớp, thídụ:
- HV ngà 牙 yá (SV nha) — Hán ‘răng’, HN ‘ngàvoi’
- HN răng (‘tooth’) cf. Háncổ */run/ vs. 齡 líng (Háncổ /*reːŋ/, ‘răng’)
(Xem Tsu‑lin Mei về 牙 trong What Makes Chinese So Vietnamese – Appendix G.)
Trong những trườnghợp khác, gócnhìn lịchsử giúpxácđịnh thứtự xuấthiện theo thờiđại. Xem thídụ:
VS lẽsống (‘raison d’être’) ~ SV lýtưởng 理想 lǐxiǎng
HV sinhhoạt (生活 shēnghuó) ~ HN cuộcsống, trong đó 生 shēng tươngứng HN sống, và 活 huó tươngứng HV cuộc.
Các cặp từ đồnggốc khác gồm:
HN bậnviệc (‘busy’) ~ 忙活 mánghuó HN loliệu (‘handle’) ~ 料理 liáolǐ
Mỗi tự 生, 活, 忙, 想, 料, 理 đều mang nhiều từnguyên và phùhợp chặtchẽ với ngữnghĩa của từng dạng tiếngViệt. Đángchúý, trong tiếngNhật, 料理 còn mang nghĩa ‘nấunướng’.
Ngược lại, từnguyên tiếngViệt so với Môn‑Khmer hiếm khi chophép phân‑tích tầnglớp như vậy. Các đồngnguyên cơbản rất khó xáclập, ngoại trừ một vài trườnghợp như các sốtừ một đến năm được giảđịnh là gốc Môn‑Khmer.
2. Mẫubiếnđổi âmthanh
Thayvì ápdụng môhình một-đối-một cho các mẫubiếnđổi âmthanh, việc giảđịnh rằng một từ Hán chỉ tươngứng với một từ đồngnguyên trong tiếngViệt là không thực tế. Có nhiều ngoại lệ, và một số mẫubiếnđổi quenthuộc vẫn xuấthiện, như:
- /s‑ > t‑/
- /sh‑ > th‑/
- /th‑ > t‑/
- /san/ > /tam/
- /sui/ > /tuy/
- /shui/ > /thuy/
Các bảng quyđổi nhưvậy cógiátrị trong ngành Hán-Việt lịchsử, nhưng cũng ápdụng cho các yếutố vaymượn từ tiếngPháp, tiếngAnh, và các ngônngữ NamÁ ‘phi‑Yue’ khác như Munda và Namđảo. Tuynhiên, các tươngứng Hán‑Việt cũngcó những lệchchuẩn riêng, như:
- /l‑ ~ s‑/
- /l‑ ~ d‑/
- /b‑ > s‑/
- /s‑ > r‑/
- /h‑ ~ t‑/
- /j‑ ~ m‑/
Những bấtquytắc này nhấnmạnh nhucầu phânbiệt đồngnguyên thựcsự với các dạng giốngnhau ngẫu nhiên — thídụ: tiếngAnh six so với VS sáu, hay cut so với VS cắt. Tươngtự, các từ sốđếm Khmer từ một đến năm cóthể trùngvới tiếngViệt do ngẫunhiên hoặc vaymượn, giốngnhư một số tên congiáp.
Trong phạmvi vùngmiền, việc xácđịnh quanhệ đồngnguyên còn phứctạp hơn, thídụ:
- Malay mat ~ VS mắt (‘eye’)
- Chamic ni ~ VS nầy (‘this’)
- Chamic nớ ~ VS đó (‘that’)
- Chamic tê ~ VS đấy (‘there’)
Nhiều trườnghợp buộc phải phântích riênglẻ.
Dù các yếutố ngoạilai được lượcbỏ để giữ phươngpháp rõràng, Háncổ vẫn phảiđược xétđến khi khảosát từnguyên Hán‑Việt. Cả tiếngHán lẫn tiếngViệt đềucó mẫubiếnđổi âmthanh bấtquytắc hỗtrợ giảđịnh đồngnguyên. Các chuyêngia Hánngữ lịchsử từlâu đã chấpnhận cáchtiếpcận này. Với hơn sáu môhình phụcnguyên Háncổ hiệnnay — mỗi môhình do một họcgiả lớn pháttriển — câuhỏi đặtra là: môhình nào phùhợp nhất cho việc nghiêncứu Hán‑Việt?
3. Các môhình phụcnguyên tiếng Háncổ
Việc chọn một môhình duynhất không đơngiản. Ngườita dễ bị cuốnvào việc chọn môhình củngcố giảthuyết cósẵn. Chẳnghạn, tácgiả nhiềulần tránh việc chỉ dựavào môhình Pulleyblank 1984, dù môhình này có hệthống phụâm‑nguyênâm rất gần với các vần trònkhép tiếngViệt hiệnđại — thídụ:
- không /k’owngw1/ cho 空 (‘empty’)
- học /hɔwkw8/ cho 學 xué (‘study’)
Không phươngngữ Hán nào táihiện chínhxác các vần này. Còn nhiều trườnghợp khác cần khảosát.
Trừ khi có chúthích khác, tácgiả sửdụng một môhình táithiết tổnghợp từ nhiều nguồn. Cáchtiếpcận này cóthể không làm hàilòng những ai mong đợi một môhình Háncổ chuẩn, nhưng nó phảnánh thựctế rằng mọi âm táithiết phụcnguyên đều gây tranhluận và không có giátrị nào được chấpnhận tuyệtđối. Điều này phùhợp với bảnchất động của sự biếnđổi âmthanh đồngđại.
4. Trườnghợp nghiêncứu: 羅 luó
Lấy 羅 luó (‘lưới’), tạo ra:
- SV la
- VS rọ, chài, lưới, chàilưới
Các phụcnguyên:
- *la (Coblin 1983)
- *jraih (Norman 1957)
- *lâ (Karlgren 1957)
- *lar (Li 1976)
- *raj (Schuessler 1987)
- *la (Zhou 1973)
Tácgiả chọn *jraih, vì dạng này hợplý để sinhra chài, và các biếnthể khác như HV la, HN lưới. Đối với 籮 (cùng bộ 羅), tácgiả giữ âm Quanthoại luó, phùhợp với VS rỗ, rọ. Các dạng này cóthể là vaymượn muộn từ tiếng Quanthoại và được xếpvào từnguyên Hán‑Việt.
Trong trườnghợp 羅 luó → HN lưới, sựtươngđồng âmthanh gợi ý một vaymượn từ dạng Quanthoại cổ nghĩa là “sàng”, hoặc ngượclại. Vì người Hán phươngBắc cổ chủyếu dumục, ít thạonghề đánhbắt, trong khi cưdân phươngNam giỏi nghề chàilưới, nên chàilưới cóthể là sángtạo phươngNam. Dạng *jraih cóthể là gốc của chài, được giữlại trong tổhợp songtiết.
B. Tính linhhoạt phươngpháp
Việc điềuchỉnh môhình táithiết không mâuthuẫn. Mỗi môhình là một biếnthể của cùng một gốc Háncổ. Trong trườnghợp này, cóthể giảđịnh một gốc chung [lwo].
Vềmặt âmthanh, mọi biếnthể đều cóthể pháttriển từ *jraih — giátrị thuyếtphục nhất khi sosánh liênmôhình. Gốc này liênkết Hán hiệnđại luó và HN chài. Dạng cổ [X], gầnvới tiếngViệt hiệnnay, sinhra chàilưới, một tổhợp songtiết theokiểu ghépcặp đồngnghĩa. Như nhiều tổhợp songtiết tiếngViệt, cả chài và lưới đều cóthể là độngtừ và danh từ.
Phântích biếnđổi âmthanh của chàilưới tuân theo phươngpháp táithiết linhhoạt, thừa nhận rằng âmthanh thayđổi theo thời gian và khônggian. Dù môhình táithiết có chặtchẽ đến đâu, không môhình nào cóthể khẳngđịnh tuyệtđối cách một tự được phátâm tại một địa phương cụthể hàng thếkỷ trước.
Bảng sosánh các cặptừ đồnggốc đượcdẫn
| Gloss | HánNôm | HánViệt | Hán | Meaning / Ghichú |
|---|---|---|---|---|
| River / stream | sông | giang | 江 jiāng | ‘river’; VS sông chothấy tầngnền BáchViệt |
| Head / cranium | sọ; VS trốc | đầu | 首 shǒu / 頭 tóu | VS trốc corresponds to 首 shǒu |
| Tooth / tusk | ngà | nha | 牙 yá | VS ngà ‘tusk’; SV nha ‘tooth’ |
| Tooth / age | răng | linh | 齡 líng | Nghĩalà ‘(tuổi của )răng’ Háncổ */run/; layered cognacy with ‘tooth’ vs. ‘age’ |
| Life / existence | lẽsống, cuộcsống | lýtưởng, sinhhoạt | 理想 lǐxiǎng, 生活 shēnghuó | 生 shēng → HN sống; 活 huó → HV cuộc |
| Busy / activity | bậnviệc | manghoạt | 忙活 mánghuó | trườngnghĩa songhành; parallel semantic field |
| Handle / manage | loliệu | liệulí | 料理 liáolǐ | TiếngNhật, 料理 = ‘nấunướng’ |
| Net / basket | rọ, chài, lưới, chàilưới | la | 羅 luó, 籮 luó | Từ HánNôm songlập; từđơn phụcnguyên với nhiều âmtiết; compounds show southern innovation; multiple reconstructions |
Ngaycả trong thời hiệnđại, việc xáclập âmđọc chínhxác của phầnlớn các từ vaymượn ngoạilai vẫn là côngviệc hếtsức côngphu. Chẳnghạn: Miên (高)棉 cho “KhMER”, Mỹ 美 cho “AMERica”, Đức 德 cho “DEUtsch”, Pháp 法 cho “FRance”, Anh 英 (格蘭) cho “ENGland”, Sina 支那 cho “China”, Nga (俄)羅斯 cho “ROssia” (Россия), v.v.
C. Âmvịhọclịchsử như một thực‑hành tươngđối
Âmvịhọclịchsử vốncó tínhtươngđối. Biếnđổi âmthanh nộitại cóthể xảyra trong một ngônngữ, và một giátrị âmthanh cóthể đúng ở thờiđiểm này nhưng khôngđúng ở thờiđiểm khác. Vìvậy, các môhình táithiết phụcnguyên nênđược xemnhư những khung gợiý, đạidiện cho các hệthống âmthanh giảđịnh trong những khônggian và thờiđại cụthể. Đốivới bấtkỳ một từ Hán nào, nhiều biếnthể âmđọc cóthể từng tồntại, mỗi biếnthể phảnánh mộtcách hiểu về âmđọc cổ. Giátrị táithiết phụcnguyên cóthể chỉđược chấpnhận rộngrãinhất dựatrên dữliệu nhấtđịnh, thường dựavào vậnthư, chúâm, hoặc kinhđiển Phậtgiáo.
Lấy 羅 luó (‘lưới’) làm thídụ. Âmđọc của nó biếnđổi giữa các phươngngữ Hán hiệnđại, thậmchí ngay trong cùng một tiểu‑phươngngữ. Đối với lõi âmthanh của 羅 trong 籮 luó, cóthể giảđịnh một dạng gốc */xxx/, dạng này tiếnhóa thành Quanthoại luó và sinhra nhiều cặptừ tiếngViệt chỉ “rổ, rá, rọ”: rỗ, sọt, rõ, rọ, rá. Những biếnđổi này cóthể xảyra ở nhiều thờiđiểm và khônggian khác nhau. Đángchúý, âm Hán Trungcổ đời Đường của 羅 là /la1/, như trong 羅漢 Luóhàn (‘arhat’), tươngứng HV Lahán.
Một thídụ khác: 車 chē. Trong HậuHánThư, 車 được chúâm là [tɕy] (“車 讀若 居”), tức đọc gần với 居 jū (SV cư). Đếnnay, ngườiHán chơi cờtướng vẫn gọi quâncờ 車 là [tɕy], chothấy sựliêntục âmthanh. Tự 居 mang phùhiệu 古 gǔ (SV cổ), vốn sinhra các dạng tiếngViệt liênquan đến “xe”: cộ, xe, xecộ, cỗ, cỗxe, tấtcả đều từ 車 chē (SV xa). Những diễngiải khác dựatheo nhiều họcgiả khác, chỉlà các giátrị táithiết tươngđối.
Bằngchứng bổsung nằm trong nhóm bốn tự 車 như 輂 jù, 輋 jù, 檋 jù, 梮 jù, tươngứng HN cộ, như trong 輂車 jùchē → HN xecộ. Tổhợp này — “車 chē (xe)” + “車 chē (cộ)” — tạonên kháiniệm hiệnđại “xehơi”. Môhình pháttriển từvựng này songhành với trườnghợp chàilưới, nơi chài tươngứng */jraih/ và đồngnghĩa với lưới, tạothành tổhợp songtiết. Vềmặt lịchsử, chài cótrước lưới, và lưới cótrước HV la và Quanthoại luó. Giátrị âmthanh muộnnhất phảnánh âm Hán Trungcổ, vốn tiếnhóa đồngđại thành các dạng Việt như rỗ, rọ, v.v.
Tấtnhiên, các tổhợp táithiết phụcnguyên phải tuântheo những giớihạn nhấtđịnh. Chẳnghạn, 山水 tươngứng HV sơnthuỷ và HN nonsông, nhưng các dạng laicăn như sơnsông hay nonthuỷ không thể hìnhthành theo môhình {VS+SV} hoặc {SV+VS} nếu khôngđược ngườinói tựnhiên tiếpnhận.
D. Làmviệc với các môhình phụcnguyên
Như Axel Schuessler nhậnxét: “tấtcả chỉ là giảthuyết… mỗi môhình đềucó một ýtưởng nàođó mà tôi chorằng cầnđược cânnhắc khi cốgắng phụcnguyên tiếng Háncổ.” Tinhthần ấy địnhhướng cách sửdụng các giátrị âmthanh tươngđối qua thờigian‑khônggian. Mỗi dạng — kýhiệu /xxx/ và cặptươngứng /XXX/ — được rútra, táicấutrúc, hoặc điềuchỉnh để phùhợp với từnguyên Hán‑Việt khảdĩ. Chúngta dựavào thànhquả của các chuyêngia thayvì “phátminh lại bánhxe”; dựavào một môhình duynhất dễ dẫnđến lệchchuẩn âmvị và căngthẳng từnguyên.
Thayvì tự tạo môhình, ta thíchứng kếtquả của nhiều họcgiả lớn để phụcvụ khoa Hán‑Việt. Đâylà cách hiệuquảnhất để xửlý tínhphứctạp của Háncổ mà khôngsavào tranhluận việc táithiết phụcnguyên. Dựavào một môhình duynhất — dù của ta hay của ngườikhác — đều dễ gặp vấnđề hoàgiải âmvị và sailệch từnguyên.
Các căngthẳng minhhoạ:
- 季 jì (‘season’) ~ HV quí /qwej1/ ~ HN mùa
- 貴 guì (‘expensive’) ~HN mắc ~ HV quí /qwej1/
- 活 huó (‘work’) ~ HN việc ~ HV hoạt /hwat7/ ~ 務 wù (HV vụ) ~ 役 yì (HV dịch /zijt7/)
- 時 shí (‘time’) ~ HN khi /k’ej1/ ~ HV giờ /jiə2/
Những từnguyên này cóvẻ đồngnguyên giữa Hán và Việt, nhưng không môhình táithiết đơnlẻ nào cóthể chứa hết. Một cáchtiếpcận linhhoạt, sosánh, dựatrên bốicảnh lịchsử và tinhvi ngônngữ là điều cầnthiết.
Kếtluận
Bàiviết này đềxuất táiphânloại tiếngViệt vào một phânnhánh Hán‑Việt của họ Hán‑Tạng, táchbiệt với giảthuyết NamÁ Môn‑Khmer. Tuyến pháttriển (Tháicổ → Hán‑BáchViệt → Hán → Hán‑Việt → Annam → tiếngViệt) được củngcố bởi hơn 400 đồngnguyên với tiếngHán, cùng tưliệu lịchsử và khảocổ.
Vănchương Việt, Hánhoá sâusắc chođến cuối thếkỷ XX, vẫngiữ tính mỹhọc Đườngthi và hìnhảnh cổđiển; dùcho vănxuôi hiệnđại càng gầnvới lờiăntiếngnói khẩungữ, tầngnền Hán‑Việt vẫn hiểnhiện. Khảocổ nguồngốc Sở và BáchViệt, ditruyềnhọc, và thưtịch cổ xácnhận yếutố Thái-BáchViệt cổ đã hiệndiện trong tiếngViệt trướckhi có sựhiệndiện của didân Môn‑Khmer, tháchthức môhình NamÁ. Từ Yue với các dạng chữHán 越, 粵, 戉, 鉞 mãhoá bảnsắc tầngnền trong từnguyên Việt.
Về phươngpháp, chúngtôi phêbình môhình NamÁ vì dựavào cáchthức khảosát vùngmiền lạchậu và từnguyên suyđoán, kêugọi sựnghiêmtúc mới dựatrên songngữ và ngônngữhọc lịchsử. Cáchnhìn này khôngchỉ làmrõ bảnsắc ngônngữ Việt mà còn mởra đốithoại về tínhliêntục HánViệt sâulắng.
References
Aitchison, Jean. Language Change: Progress or Decay? Cambridge University Press, 1994.
Alves, Mark J. “Categories of Grammatical Sino‑Vietnamese Vocabulary.” Mon‑Khmer Studies 37 (2007): 217–229.
Alves, Mark J. “What’s So Chinese About Vietnamese?” In Papers from the Ninth Annual Meeting of the Southeast Asian Linguistics Society, 2001.
Anttila, Raimo (ed.). Historical and Comparative Linguistics. Amsterdam/Philadelphia: John Benjamins, 1989.
Baxter, William H. & Sagart, Laurent. Old Chinese: A New Reconstruction. Oxford University Press, 2014.
Bloomfield, Leonard. Language. New York: Henry Holt, 1933.
Bynon, Theodora. Historical Linguistics. Cambridge: Cambridge University Press, 1977.
Edmondson, Jerold A. “Tibeto‑Burman Languages of Việtnam.” In Linguistics of the Tibeto‑Burman Area, 2002.
Ferlus, Michel. Linguistic Evidence of the Trans‑Peninsular Trade Route from North Việtnam. Mahidol University / SIL International, 2012.
Haudricourt, André G. “Comment reconstruire le chinois archaïque.” Word 10 (1954): 351–364.
Haudricourt, André G. “The Limits and Connections of Austroasiatic in the Northeast.” In Studies in Comparative Austroasiatic Linguistics, ed. Norman Zide. The Hague: Mouton, 1961.
Karlgren, Bernhard. Grammata Serica Recensa. Stockholm: Museum of Far Eastern Antiquities, 1957.
Kelley, Liam C. “The Biography of the Hồng Bàng Clan as a Medieval Vietnamese Invented Tradition.” Journal of Vietnamese Studies 7, no. 2 (2012): 87–122.
Lü, Shih‑P’eng. Việtnam During the Period of Chinese Rule. Hong Kong: University of Hong Kong, 1964.
Matisoff, James A. Sino‑Tibetan Etymological Dictionary and Thesaurus (STEDT). University of California, Berkeley, ongoing project.
Nguyễn Tài Cẩn. Giáo Trình Ngữ âm Lịch sử TiếngViệtnam. TP HCM: NXB Giáo dục, 2000.
Nguyễn Tài Cẩn. Nguồn gốc và Quá trình Hình thành Cách đọc Âm HánViệt. TP HCM: NXB Khoa học Xã hội, 1979.
Peiros, Ilia & Starostin, Sergei. Comparative Vocabulary of Sino‑Tibetan Languages. Moscow: Nauka, 1996.
Pulleyblank, Edwin G. Middle Chinese: A Study in Historical Phonology. Vancouver: University of British Columbia Press, 1984.
Sagart, Laurent & Baxter, William. Old Chinese Reconstruction Project. 2011.
Schuessler, Axel. ABC Etymological Dictionary of Old Chinese. University of Hawai‘i Press, 2007.
Sidwell, Paul. “The Austroasiatic Central Riverine Hypothesis.” Journal of Language Relationship 4 (2010): 117–134.
Sun, Tianxin. Yuenan Han Ziyin de Lishi Cengci Yanjiu 越南漢字音的歷史層次研究. Taiwan Pedagogy College, 2011.
Taylor, Keith Weller. The Birth of Việtnam. Berkeley: University of California Press, 1983.
Wiens, Herold J. Han Chinese Expansion in South China. USA: Shoe String Press, 1967.
FOOTNOTES
(1) Tươngứng với các thuậtngữ tiếngAnh
Sinitic‑Vietnamese ↔ HánNôm (tầnglớp) / Hán‑Nôm (phânloại) Sino‑Vietnamese ↔ HánViệt (tầnglớp) / Hán‑Việt (phânloại)
Vìvậy:
- HánNôm = tầng Sinitic‑Vietnamese trong tiếngViệt
- Hán‑Nôm = phạmtrù họcthuật về Sinitic‑Vietnamese
- HánViệt = tầng Sino‑Vietnamese
- Hán‑Việt = hệthống Sino‑Vietnamese với tưcách một nhãn phânloại
Về mặt ngônngữ, các thuậtngữ HánNôm sovới Hán‑Nôm, cũng như HánViệt sv. Hán‑Việt, thểhiện sự khácbiệt về ngữnghĩa và nỗlực chuẩnhóa trong tiếngViệt. Hán‑Nôm thường chỉ hệthống chữviết lịchsử kếthợp giữa chữHán và chữNôm của Việtnam, nhấnmạnh quanhệ cấutrúc giữa hai hệthống này. Ngượclại, HánViệt ámchỉ từvựng Hán-Việt có nguồngốc Hán đã được tíchhợp vào tiếngViệt, nhấnmạnh các điềuchỉnh ngữâm cụthể.
Trong khi đó, Sinitic‑Vietnamese và Sino‑Vietnamese tạora một bốicảnh rộng hơn cho quanhệ này. Sinitic‑Vietnamese không chỉ baogồm lớp từvựng HánViệt đã được chuẩnhóa mà còn baogồm các tầnglớp lịchsử của sự vaymượn và các thíchứng trong ngônngữ địaphương. Thuậtngữ này khảosát một phổ rộng ảnhhưởng và cách sửdụng, từ các từ vaymượn cổxưa cho đến các điềuchỉnh hiệnđại. Ngượclại, Sino‑Vietnamese thường chỉ một tậphợp từvựng đã được quyphạm hoá, tiếpthu từ các nguồngốc Hán Trungcổ, củngcố cả quanhệ ngữâm lẫn ngữnghĩa. Sự phânbiệt này làm nổibật tính tiếnhóa của tiếngViệt dưới ảnhhưởng tiếngHán, nhấnmạnh cả quanhệ ngônngữ lịchsử lẫn hiệnđại.
(2)^ Triều Thương còngọilà Ân, Ân-Thương (khoảng thếkỷ 17 trước Côngnguyên đến khoảng thếkỷ 11 trước Côngnguyên), là vươngtriều đầutiên của Trungquốc có văntự ghichép trựctiếp vào thờikỳ đồđồng.
Trong giaiđoạn đầu Triều Thương nhiềulần dờiđô; đến 273 năm cuối, Bàn Canh đóngđô tại Ân (nay là Thànhphố Andương, Trungquốc), vìthế Triều Thương còn đượcgọilà Triều Ân; đôikhi cũng gọilà Ân-Thương hay Ân.
Vào hậu kỳ Triều Thương, lịchsử Trungquốc chuyển từ thờiđại dãsử sang thờiđại chínhsử. Thương là vươngtriều kế tiếp Triều Hạ trong lịchsử Trungquốc, và sovới Hạ thì Thương có tưliệu khảocổ phongphú hơn nhiều. Thương Thang, thủlĩnh bộlạc Thương, vốnlà chưhầu của Hạ, saukhi liênminh chưhầu đánhbại nhàHạ trong trận Minhđiều thì lậpquốc. Trảiqua 17 đời 31 vịvua; đến đời cuối Trụvương bị Chu Vũvương đánhbại và mất trong trận Mụcdã. (https://zh.wikipedia.org/wiki/商朝 )
Theo truyềnthuyết Việtnam chép trong Lĩnhnam Chíchquái, vào thời nhàÂn của Trunghoa, Hùngvương vì “khuyết lễ triềucống” nên khiến Vua Ân đemquân sang xâmphạt (gọilà “Ânkhấu”; còn ĐạiViệt Sửký Toànthư · Ngoạikỷ · Hồngbàng Kỷ lại ghilà vào đời “Hùngvương thứsáu” thì “trongnước có loạn”). Khi đạiquân đã ápsát biêncảnh, tại Huyện Tiêndu (Vũninh), Xã Phùđổng có một đồngtử ba tuổi tự xin ratrận, dẫnquân Hùngvương tiếnthẳng đến tiềntuyến của quân Ân: “vung kiếm mà tiến, quanquân (tức quân Hùngvương) theosau”. Vua Ân tửtrận tại trậntiền, còn đồngtử thì “cởiáo cưỡingựa mà bay lêntrời”. Từ đó Hùngvương tôn đồngtử ấy làm “Phùđổng Thiênvương” và lậpđền thờphụng.
Tuynhiên họcgiả Việtnam cậnđại Trần Trọng Kim với tháiđộ tôntrọng sựthực chỉrõ rằng truyềnthuyết “Triều Ân xâmlược” là điều sailầm. Ông lậpluận: “Triều Ân Trungquốc đóng tại lưuvực Hoànghà tức các vùng nay là Hànam trựclệ Sơntây, và Thiểmtây. Còn toànbộ vùng Trườnggiang khiấy đềulà đất Mandi. Từ Trườnggiang đến BắcViệt ta đườngsá cựckỳ xaxôi. Dẫu kh ấy nước ta có Hồngbàng làmvua thì chắcchắn cũng chưa có kỷcương gì chỉ như một vị langquan của giống Mường mà thôi; vìvậy khônghề có thôngthương gì với Triều Ân thì làmsao có thể phátsinh chiếntranh? Hơnnữa sửsách Trungquốc cũng khônghề ghichép việc này. Vậy có lýdo gì để nói ‘Ânkhấu’ chính là người của Triều Ân Trungquốc?”
Dođó Trần Trọng Kim xem “Ânkhấu” chỉ là “một bọn giặccướp mang tên ấy” màthôi.
(Source: https://baike.baidu.com/view/1854748.htm)
Phần bổsung:
[Có bằngchứng chothấy nước Vănlang có sựtiếpxúc với Triều Ân (nhàThương) qua cổvật đồng vào thếkỷ 10 TCN tìmthấy ở Hồnam. Trừphi bộtộc Lạcviệt từng thuộc về nướcSở cổ (?)]
Những truyềnthuyết liênquan đến Thánh Gióng khôngphải là trọngtâm của khảocứu này; ởđây chúngta chỉ xétđến phươngdiện ngônngữ. Tuynhiên, vẫn tồntại những bằngchứng chothấy quốcgia Vănlang cổ đãcó tiếpxúc với Triều Thương, qua việc pháthiện các cổvật bằng đồng của Triều Thương vào thếkỷ 10 trước Côngnguyên tại Tỉnh Hồnam.
Trong bàiviết của Lâm Khởi về nhómngười Trungquốc đưa được cổvật trởlại Hồnam, có đoạn:
“Một món đồđồng Trungquốc 3000 nămtuổi, gọilà minfanglei, sắp được đưa trởvề nơi sinhthành của nó để đoàntụ với chiếcnắp mà nó đã bị táchrời gần một thếkỷ. Cuộcđoàntụ này thựchiện được là nhờ một thươngvụ tưnhân do các nhàsưutầm Trungquốc thựchiện ngày 19 thángtư tại New York. Được tônxưng là ‘vua của mọi loại fanglei’, chiếc đồđồng hìnhvuông này có niênđại Triều Thương (khoảng thế kỷ 16–11 trước Côngnguyên), vốnlà một lễkhí dùng đựng rượu cúngtế. Nó được khaiquật tại Đàouyên, Tỉnh Hồnam, vào năm 1922.”
(Source: http://www.chinadaily.com.cn/cndy/2014-03/21/content_17366159.htm)

Leave a Reply