Chủnghĩadântộc Địnhhướng Chuyện Chínhchịchínhem

Bàiviết này khảosát sựkhúcmắc giữa chínhtrị và họcthuật trong việc nghiêncứu ngônngữhọc Hán‑Việt. Hoàntoàn khôngphải là một lĩnhvực trunglập, từnguyênhọc tiếngViệt đãbị địnhhình bởi cảmthức dântộcchủnghĩa, khung ýthứchệ tưtưởng, và bốicảnh địalý-chínhtrị rộnglớnhơn trong quanhệ Trung‑Việt. Hệquả là một diễnngôn trongđó phântích ngônngữ thường mang trọnglượng chínhtrị, và tínhtrunglập của họcthuật thườngxuyên bị tổnthương.
Sự giaocắt giữa chínhtrị và ngônngữhọc lịchsử cho thấy cảmthức dântộcchủnghĩa, disản thuộcđịa, và thiênkiến hệtưtưởng đã ảnhhưởng đến diễnngôn họcthuật Việtnam nhưthếnào, nhiềukhi bópméo phântích kháchquan. Nhiều thôngtin sailệch, thường bắtnguồn từ các đónggóp không chuyên trên những nềntảng phổthông như Wikipedia và Britannica , đã lantruyền rộngrãi và được một bộphận giới họcthuật Việtnam chấpnhận, đặcbiệt là đốivới những nhóm chịu ảnhhưởng của các tườngthuật cơchế Trungquốc.
Bài này đốichiếu phươngpháp ngônngữhọc phươngTây với các tiếpcận truyềnthống của ngữhệ Hán‑Tạng, nhấnmạnh độsâu và độchínhxác của những côngcụ phụcnguyên âmvị cổđiển được các họcgiả Trungquốc sửdụng. Những vídụ như từ Việt cộ (cónghĩa ‘xekéo’) được truynguyên qua cổthư Hán và các môhình ngữâm, chothấy cách sosánh phụcnguyên cóthể làm sángtỏ từnguyên. Côngtrình của Bernhard Karlgren được dẫnchứng dùnglàm nềntảng trongviệc phụcdựng âmcổ tiếngHán và nhậndiện các quanhệ đồngnguyên giữa tiếngViệt và các ngônngữ Hán.
Sau cùng, bàiviết này đềra cách tiếpcận côngbằng và có tầmnhìn toàncầu hơn đốivới ngônngữhọc lịchsử tiếngViệt, mộtcách tiếpcận vượtkhỏi các ràngbuộc dântộcchủnghĩa hẹphòi và tiếpthu những phântích sosánh nghiêmtúc dựatrên cả truyềnthống phươngTây lẫn phươngĐông.
Độcgiả được báo trước rằng bài viết này trựctiếp đềcập đến các chiềukích chínhtrị trong quanhệ Trung‑Việt. Những ai cảmthấy không thoảimái hoặc nhạycảm với các chủđề nhưvậy nên cânnhắc thậnkỹ khi đọc hoặc bỏqua nó đi.
I) Sựkhúcmắc giữa chínhtrị và họcthuật
Table 1 – Cănnguyên biếnđộng của quanhệ Trung‑Việt
Vào tháng Mườihai năm 1922, Đại‑hội Thứ IV của Quốctế Cộngsản (Comintern) họp tại Liênxô và quyếtđịnh mởrộng tầm ảnhhưởng hệtưtưởng của mình vào Namkỳ thuộc quyền kiểmsoát của Pháp. Để thựchiện chiếnlược này, các cánbộ của Comintern tại Trungquốc đã nhào một nhânvật cáchmạng là Hồ Chí Minh, người đã nhậnđược sựhỗtrợ tàichính từ các đồngminh Trungquốc. Theo chỉthị của Comintern, Hồ Chí Minh chuyểnhướng sựhỗtrợ này đến các tổchức cộngsản Việtnam đượcgọilà Việtminh (Việtnam Đồngminh Hội), hoạtđộng dưới danhnghĩa Đảng Cộngsản Đông‑dương, thànhlập năm 1932 để phụcvụ các mụctiêu rộnghơn của Comintern.
Việtminh tiếnhành các hoạtđộng bí mật trong Việtnam, baogồm vậnđộng chínhtrị, tạo chiarẽ giữa các đảngphái quốcgia, và tổchức các vụámsát có chủđích. Dưới sựlãnhđạo của Hồ Chí Minh, lựclượng cộngsản củngcố quyềnlực thôngqua các biệnpháp như dùng tiền để giànhghế trong chínhphủ lâmthời vốnđược hìnhthành từ một liênminh quốcgia, rồi vềsau gạt bỏ các đồngminh này thôngqua những đợt thanhtrừng nộibộ.
Saukhi Nhậtbản thấtbại trong Thếchiến II, Việtminh tiếmquyền vào thángtám năm 1945. Pháp, dưới sựlãnhđạo của Charles de Gaulle, đãcó một quyếtđịnh quantrọng khi điềuquân đến Việtnam với cáicớ giảigiáp quân Nhật. Độngthái này tạo cơsở để Việtminh huyđộng nguồnlực quốcgia và củngcố quyềnlực. Khi Pháp tìmcách táithiết lập quyềnbá thuộcđịa, hànhđộng này vôtình khiến các lựclượng Việtnam quytụ dưới mặttrận do cộngsản lãnhđạo, lựclượng này nhậnđược sự hỗtrợ quânsự từ Trungquốc theo đườnglối Mao saukhi lựclượng Quốcdânđảng thuatrận mất chínhquyền tại Hoalục năm 1949.
Thắnglợi của Trungquốc mởđường cho tầmnhìn của Mao về việc xuấtkhẩu cáchmạng vôsản. Việtnam trở thành ưutiên chiếnlược, và lựclượng cộngsản tìmcách đưa tấtcả các phái chínhtrị vào phạmvi ảnhhưởng của mình. Sau nhiềunăm khángchiến, Chiếntranh Đôngdương lầnthứnhất kếtthúc năm 1954 với Hiệpđịnh Genève và các phe chấpnhận chiađôi Việtnam tại vĩtuyến 17. Phía cộngsản kiểmsoát miềnBắc, trong khi miềnNam được Hoakỳ hỗtrợ saukhi Pháp chấpnhận thuacuộc và rútlui.
Trong thờikỳ Chiếntranhlạnh, Việtnam trở thành điểmnóng giữa khối cộngsản và phươngTây. Hoakỳ tìmcách ngănchặn sựmởrộng của chủnghĩa cộngsản bằngcách hỗtrợ miền Nam, trongkhi miền Bắc, được Trungquốc và Liênxô hỗtrợ, tăngcường chiếndịch quânsự. Chiếntranh Việtnam leothang vào năm 1965, với hơn hai triệu binhlính Hoa‑kỳ luânphiên thamchiến. Trungquốc cungcấp hỗtrợ đángkể cho miền Bắc, baogồm đơnvị phòngkhông và hỗtrợ hậucần với sựthamgia của nhânviên Trungquốc. Cuộcchiến kéodài làm suygiảm tinhthần của Hoakỳ, gâyhơn 53.000 thươngvong. Hiệpđịnh Paris năm 1973 đánhdấu sự bắtđầu rútquân của Hoakỳ, dưới sựđiềuphối của Tổngthống Richard Nixon và Ngoạitrưởng Henry Kissinger. Vào thángtư năm 1975, lựclượng miềnBắc chiếm Sàigòn, kếtthúc chiếntranh và đểlại khoảng hai triệu thươngvong người Việtnam, gồm cả dânsự và quânnhân.
Theo chính lời Lê Duẩn phátbiểu vào thờiđiểm bùngnổ chiếntranh biêngiới năm 1979, vị Tổng Bíthư Đảng Cộngsản Việtnam trong thậpniên 70–80 đã nói: “Chúngta đánh Mỹ là đánh cho Trungquốc và Liênsô.” Mọi người Việtnam nên thuộclòng câunói nổitiếng này. (Nguồn: Lê Duẩn).
Sựhỗtrợ kếthợp từ Trungquốc và Liênxô đã giúp các lựclượng cộngsản Việtnam mởrộng ảnhhưởng trên toàn bánđảo Đôngdương. Tuynhiên, sựhỗtrợ này cũng đikèm những chiphí mà mộtsố quanđiểm xemnhư một dạng “bẫynợ địalý-chínhtrị”. Nhiều thuyếtâmmưu lantruyền chorằng các lãnhđạo cấpcao của Việtnam bị tácđộng bởi lợiích Trungquốc, với cáobuộc hốilộ và chiphối. Dù tồntại những cáobuộc này, các nhóm chốngảnhhưởng Trungquốc trong Bộ Chínhtrị — những nhânvật như Lê Duẩn, Đỗ Mười và Lê Đức Anh — vẫn tìm cách hạnchế sự chiphối từ phương Bắc.
Năm 1979, Việtnam tiếnquân vào Kampuchia nhằm chấmdứt chếđộ Khmer Đỏ, một lựclượng diệtchủng sátnhân được Trungquốc hậuthuẫn. Sựcanthiệp này làm giánđoạn vịthế chiếnlược của Trungquốc trong khuvực và dẫnđến cuộcchiến biêngiới Trung‑Việt kéodài 6 tháng, tiếptheo là những cuộc đụngđộ lẻtẻ cho đến năm 1989.
Tómlại, quanhệ Trung‑Việt hiệnđại vẫn tiềmẩn nhiều căngthẳng. Việtnam đãtừng trởthành chiếntrường của Chiếntranhlạnh, và cuộc đốiđầu ýthứchệ giữa chủnghĩa cộngsản và dânchủ phươngTây đã khiến hàngtriệu người Việtnam thươngvong. Dù Trungquốc tiếptục tìmcách mởrộng ảnhhưởng, truyềnthống tựchủ của Việtnam chothấy quốcgia này khó cóthể trởthành một nước chuhầu lệthuộc. Tinhthần khángcự, hìnhthành qua nhiều thếkỷ vachạm, vẫn địnhhình tháiđộ của Việtnam đốivới ông lánggiềng phương Bắc.
Việc thảoluận chínhtrị là cầnthiết, vì các vấnđề ngônngữ được khảosát ởđây gắnchặt với bốicảnh lịchsử và hệtưtưởng. Bàiviết này không chỉ giới‑hạn trong cơcấu chínhtrị đơnnhất của Việtnam mà còn đềcập đến những đốikháng địalý‑chínhtrị rộnghơn đốivới Trungquốc, một lĩnhvực mà nhiều họcgiả Trungquốc khó tiếpnhận. Độcgiả được khuyếnkhích tiếpcận nộidung với tinhthần rộngmở, nhằm hiểurõ các tiềnđề lịchsử giảithích vìsao căngthẳng chínhtrị đã địnhhình, và đôi khi bópméo, diễnngôn ngônngữhọc. Những căngthẳng này tồntại vì có nguyênnhân. Về từnguyên, tính chủquan được thểhiện qua nghiêncứu này bắtnguồn từ các quanđiểm phâncực trong truyềnthống họcthuật xoayquanh chủthể Hán, đặcbiệt trong giới họcgiả địaphương. Tácgiả mong làm sángtỏ cănnguyên lịchsử của tháiđộ đốikháng Việtnam, hìnhthành qua nhiều thếkỷ chịu ảnhhưởng và áplực từ Trungquốc.
Khi bàn về mốiliênhệ lịchsử giữa hai nền vănminh Việt và Hán, các chủđề chínhtrị gầnnhư luôn xuấthiện. Tại Việtnam, hệtưtưởng chínhtrị thường được trìnhbày dưới dạng chủnghĩadântộc vẫn ảnhhưởng mạnh đến diễnngôn họcthuật. Mặcdù những chủđề này thườngđược tránh trong vănbản họcthuật, sựhiệndiện rộngkhắp của chúng trong tưduy đạichúng khiến việc táchrời nghiêncứu ngônngữ khỏi bốicảnh chínhtrị gầnnhư khôngthể. Lịchsử, chủnghĩadântộc và chínhtrị của Việtnam gắnkết chặtchẽ đếnmức bấtkỳ phântích nghiêmtúc nào về một yếutố cũng tấtyếu liênquan đến hai yếutố cònlại.
Chínhtrị, về bảnchất, làm suygiảm tínhkháchquan của họcthuật. Trong thếgiới Hánngữ, sựcanthiệp chínhtrị từlâu đã ảnhhưởng đến các tườngthuật lịchsử. Sửhọc hậuchiến của Nhậtbản, kýức chưa được hoàgiải của Hànquốc về các tộilỗi thờichiến, và kýức Trungquốc về thảmsát Namkinh đều chothấy vếtthương dântộc cóthể địnhhình các cách diễngiải lịchsử. Lịchsử các cuộcxungđột giữa Trungquốc và Việtnam cũng kéodài và phứctạp khôngkém. Trong các chếđộ cộngsản, lịchsử thườngđược viết để phụcvụ lợiích của đảng cầmquyền. Ngượclại, họcthuật phươngTây thường duytrì ranhgiới rõràng hơn giữa nghiêncứu họcthuật và chínhtrị, nên nó thường đượcxem trungtính hơn. Tại Việtnam và Trungquốc, các họcgiả thường được đàotạo để phụcvụ tườngthuật nhànước, khiến phântích kháchquan trở nên lýthuyết nhiều hơn thựcchất. Trong bốicảnh nhưvậy, tínhkháchquan trởthành một lýtưởng vaymượn — một kháinệm được tiếpnhận hơn là được thựchành.
II) Các trườnghợp nghiêncứu về ngônngữ và chínhtrị
Những hệquả chínhtrị của các độnglực này có phạmvi rấtrộng, và đãlàm tổnthương tínhkháchquan trong việc nghiêncứu ngônngữhọc. Thayvì nétránh, bàiviết này trựcdiện với chúng. Tácgiả chorằng trongkhi đặt từnguyênhọc trên nềntảng lịchsử thì sựsángtỏ và tínhnghiêmtúc mới cóthể đạtđược và trongkhi đó lịchsử lại thườngđược viết bởi những kẻ cầmquyền. Hiểu bốicảnh lịchsử là điều thiếtyếu để truytìm nguồngốc của các hìnhthức ngônngữ nhưng là condaohailưỡi. Chẳnghạn, quátrình tiếnhoá của 潮州 Cháozhōu (Triềuchâu) và các dạngpháiinh như 潮 cháo (HV trào, Triều, HN Tiều, và vềsau là Tàu — một từ mang sắcthái miệtthị dùng để chỉ người Trungquốc tuỳtheo ngữcảnh — chothấy sựchuyểndịch chínhtrị và vănhóa cóthể tácđộng đến ngônngữ nhưthếnào.
Giớihọcthuật thừanhậnrằng tiếngViệt pháttriển songhành với tiếntrình lịchsử của dântộc. Tháchthức là ởchỗ làmsao hoàgiải sựthật rằng Việtnam đã nằmdưới quyềnbá của các triềuđại Trungquốc suốt một thiênniênkỷ trước thếkỷ X. Trong lần đôhộ cuối của Triều Minh (1406–1427), thưtịch sửký bị tiêuhuỷ có hệthống. Vìvậy, phầnlớn lịchsử thờikỳ đầu của Việtnam được táilập lại dựatrên sửliệu Trungquốc, baogồm Sửkí 史記 của Tưmã Thiên và Tưtrị Thônggiám 資治通鑑 của Tưmã Quang. Những tướctác này vẫnlà nguồn tưliệu khôngthểthiếu để hiểurõ lịchsử của Việtnam.
Điềuđángchúý là trong tácphẩm của Tưmã Quang, Annan khônghề đượcgọilà một quốcgia độclập sau năm 939. Điềunày đặtra câuhỏi: lịchsử Việtnam cóthể được viết mà không dựavào sửliệu Trunghoa hay không? Trong lịchsử, mỗikhi Trungquốc trởnên hùngmạnh, nhấtlà về quânsự, họ lại trởthành mốiđedoạ đốivới chủquyền Việtnam. Môt tinhthần dântộcchủnghĩa sâuđậm đã hìnhthành từ chukỳ này và tiếptục ảnhhưởng đến cách diễngiải họcthuật. Các họcgiả trongnước thường gặp khókhăn khi giữ tínhkháchquan khi bànvề các chủđề lịchsử liênquan đến Trungquốc.
Lịchsử Việtnam nhiềulần đã bị điềuchỉnh, thường theo mỗi triềuđại mới. Thựctế này dẫnđến việc viếtlại các tườngthuật để phùhợp với hệtưtưởng đươngthời — dù là Nhogiáo, Phậtgiáo hay Chủnghĩaxãhội. Các sựkiện cáchđây haingàn năm thườngđược diễngiải lại, đặcbiệt sau các căngthẳng hậukỳ sau 1979 giữa Việtnam và Trungquốc. Những sựđiềuchỉnh này lansang cả các thuyết về nguồngốc dântộc và ngônngữ Việtnam.
Ngượclại, sửgia Trungquốc có điềukiện duytrì tính liêntục trong tườngthuật lịchsử cho đến năm 1911. Các lần thayđổi triềuđại và ảnhhưởng ngoạilai đềuđược tíchhợp vào một khung thốngnhất, trongđó nhàNguyên và nhàThanh vẫncòn đượcxemlà bộphận của Trungquốc. Sựliêntục này cungcấp những gócnhìn quantrọng để hiểurõ quákhứ Việtnam và cụthể là sựpháttriển ngônngữ của nó.
Tấtcả sựkiện xảyra trước thếkỷ X, lịchsử Việtnam về thựcchất được biênsoạn từ sửliệu Trungquốc. Khôngcó một hệthống sửhọc bảnđịa nào đượcviết bằng ‘ngônngữ’ Annan trước năm 939. Dưới triều nhàHán, vùng này được gọi là Giaochỉ 交阯 (hoặc 交趾), vềsau đổithành Giaochâu 交州, một châu Đếquốc Hán. Dưới sựcaitrị của nhà Đường, Annam lại trởthành trởthành Annam Đôhộphủ (安南督護府). Về ngônngữ, thờikỳ bịtrị lâu cả ngànnăm này dẫnđến việc tiếpnhận rộngrãi từvựng Hán trong tiếngViệt, một hệquả tựnhiên của một thiênniênkỷ giaolưu hànhchính và vănhóa.

Hình 1 – Bảnđồ Vươngquốc NamViệt
(Source: https://en.wikipedia.org/wiki/Nanyue)
Bàiviết này nhấnmạnh rằng các mốiliênhệ ngônngữ và vănhóa giữa Việtnam và Trungquốc khôngthể táchrời khỏi lịchsử chínhtrị của hai dântộc. Hiểurõ sựđankết này là điềukiện thiếtyếu cho bấtkỳ phântích nào bànvề từnguyên Hán‑Việt và về sựtiếnhoá rộnghơn của căntính Việtnam.
Sửliệu lịchsử và từnguyên Hán-Tạng ủnghộ giảithuyết của tácgiả về các từnguyên Hán‑Việt. Từ lịchsử nước Sở (楚國), ta cóthể hiểurằng dâncư của vùng này phầnlớn thuộc các nhóm bảnđịa Thái‑Việt (xem Bình Nguyễn Lộc, 1972). Điều này phùhợp với giảithuyết rộnghơn rằng hơn banghìn nămtrước, tổtiên của các nhóm BáchViệt là cưdân bảnđịa của vùngnày gọilà Hoanam (華南) (Xem De Lacouperie, [1887] 1963).
Ngườita cóthể hìnhdung lịchsử Trungquốc đã thayđổi nhưthếnào nếunhư nước Sở chiếnthắng trong cuộc thưhùng với Lưu Bang 劉邦 và các tướnglĩnh của ông, vốn phầnlớn xuấtthân từ Sở , là những người sauđó lập nên nhàHán 漢朝 sau sựsụpđổ của nhàTần (秦朝, 221–207 TCN). Tươngtự, nếunhư Vươngquốc NamViệt (南越王國 NánYuè Wángguó) thànhcông trongviệc khángcự sựbànhtrướng của nhàHán vào năm 111 TCN, bảnđồ vănhóa và chínhtrị của ĐôngÁ cólẽ đã mang một diệnmạo hoàntoàn khác.
Vấnđề cốtlõi không nằm ở tên gọi mà ở thựcchất. Hãy thử đặt câuhỏi “Điềugì làm cho tiếngHán sao giống tiếngViệt quávậy?” thayvì phải hỏi ngượclại, chínhlà thừanhận rằng các yếutố Thái‑Việt cổ (Taic-Yue) — tổtiên của các nhóm BáchViệt phươngNam — đã tạonên tầng dâncư bảnđịa của Hoalục thời tiền‑Tần và tiền‑Hán. Họ là cưdân chủ vùng Hoanam trướckhi người Hán trỗidậy. Vềsau, hậuduệ của ngườiViệt phươngNam đã hìnhthành quốcgia Việtnam đến phần cựcNam của Mũi Càmau của khônggian vănhóa này.
Ngoài sửliệu vănbản, bằngchứng khảocổ càng củngcố mốiliênhệ này. Trốngđồng của người BáchViệt cổ, nổitiếng với kỹthuật luyệnđồng tiêntiến, được tìmthấy trên một vùng rộnglớn từ Hoanam đến quầnđảo Indonesia. Những hiệnvật này gợiý một quátrình lantruyền vănhóa bắtđầu từ các nhóm BáchViệt và vềsau gópphần hìnhthành vănhóa Hán. Theo cáchnhìn này, ngườiBáchViệt cổ chính là những “hạtphấn” từđó “bônghoa” vănhóa Hán nởra. Dấuvết của dònggiống Việt đã dệtnên một kếtcấu vănhóa và ngônngữ rộnglớn, với cưđịa cổ của họ chiếm hơn mộtnửa vùng đất nay đượcxemlà lãnhthổ Trungquốc.
Ýtưởng trên trởnên dễhiểuhơn nếu ta hìnhdung một kịchbản trongđó Nhậtbản thắng chiếntranh và chiếmđóng Trungquốc, rồi đổitên quốcgia thành một thứ như ĐạiĐôngÁ (大東亞, nghĩalà “ĐôngÁ Vĩđại”). Ngaycả dưới một têngọi nhưthế, bảnchất vănhóa và vănhiến nằmdưới cólẽ vẫn khôngthayđổi; cáilõi của “Trungquốc” với tưcách một thựcthể vănhóa‑vănhiến vẫnsẽ tiếptục tồntại. Theonghĩađó, cóthể nói Nhậtbản lại hoára maymắn vì đã không thànhcông trong cuộc chinhphục này, bởi nếu thànhcông, họ cólẽ sẽ bị hoàtan và biếnđổi thành một “Mãnchâu” khác, một thựcthể chỉcòn tồntại trong sáchvở lịchsử, trong vòng hai thếkỷ.
Trong bốicảnh tiếngViệt, câuhỏi ngượclại — điềugì làmcho tiếngViệt giống tiếngHán đếnthế — cũng hoàntoàn hợplý. Hiệntượng này bắtnguồn từ sựthật rằng từ rấtlâu trướckhi hìnhthành một căntính “ngườiHán” thốngnhất, vùnglõi của Trungquốc đã do các nhóm tiền‑Việt thuộc hệ Thái cưtrú. Qua thờigian, ảnhhưởng vănhóa Trunghoa qua các lànsóng người dicư và caitrị đã ápđặt một tầng ngônngữ chiếm ưuthế lên tiếngViệt cổđại. Sau một thiênniênkỷ bịtrị, tiếngViệt đã một sốlượng lớn từnguyên Hán, nhiềukhi thaythế hoặc làmmờ các từ bảnđịa. Chẳnghạn, “xe” (車 chē) thaycho “cộ”, và “phòng” (房 fáng) thay cho “buồng”. Tuyvậy, mộtsố từ bảnđịa vẫn tồntại, như “mới” (1), cóthể liênquan đến 萌 méng (so sánh Lepcha ᰖᰮ *mlam ‘chồinon mọc từ gốccây’ — Schuessler 2007) hoặc thậmchí Proto‑Sino‑Tibetan */m/s/g‑ljak/ với “lưỡi”, cóthể liênquan đến 脷 lì và “liếm” (từ Proto‑Sino‑Tibetan *s‑ljam ‘lưỡi; ngọnlửa’; cáchđọc phươngngữ Quảngchâu lim2/lem2; Taishan liam2, bảotồn phụâm OC *l̥‑). Cảhai đềulà các đồngnguyên Hán muộn. (2)
Quantrọnghơn, các yếutố Việt khôngchỉ đểlại dấuvết trong tiếngViệt màcòn trong chính tiếngHán. Một vídụ điểnhình là hệ thống 12 congiáp. Têngọi của 12 congiáp trong tiếngViệt cóthể phảnánh một chukỳ vănhóa trọnvẹn — từ nguồngốc BáchViệt, sang sự Hánhoá, rồi Việthoá trởlại. Trước thời Hán, tại các nước Tần, Sở, Việt, Ngô, hệthống congiáp của dân BáchViệt cổ cóthể đã mang những têngọi nguyênthỉ, vềsau chuyểndịch thành dạng Hán. Chúng baogồm: chuột (子 zǐ), trâu (丑 chǒu), cọp (寅 yǐn), mèo (卯 mǎo), rồng (辰 shěn), rắn (巳 sì), ngựa (午 wǔ), dê (未 wèi), khỉ (申 shēn), gà (酉 yǒu), chó (戌 xù), heo (亥 hài). Chúng tươngứng với các dạng Hán‑Việt: tý, sửu, dần, mẹo, thìn, tỵ, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi; và các dạng tiếngHán Trungcổ thời Đường: ‘tử’, ‘xú’, ‘dần’, ‘mão’, ‘thần’, ‘tỵ’, ‘ngọ’, ‘vị’, ‘thân’, ‘dậu’, ‘tuất’, and ‘hợi’.
Mộtsố biếnthể như “khỉ” và “rắn” lệchkhỏi môhình âmvị dựđoán. Chẳnghạn, “thân” cóthể liênquan đến “khọn”, và 巳 sì có hìnhdạng và âmhưởng gần với 蛇 shé (HV xà), củngcố mốiliênhệ với “rắn”. Từ “cọp” mang ýnghĩa dữdội, như trong thànhngữ “dữ như cọp”, gợiý rằng “dần” (寅 yǐn) cóthể bắtnguồn từ “dằn” (dữdằn) từ 惡險 èxiǎn (HN dữdằn). Những tươngứng ngữnghĩa và ngữâm này củngcố sựliêntục giữa biểuđạt tiếng Việtcổ và Việt hiệnđại.
Trong cáchdùng hiệnnay, người Trungquốc gọi các năm mangtên congiáp là 鼠年 (=nămchuột), 牛年 (=nămtrâu), 羊年 (=nămdê), v.v., trongkhi các dạngcổ tươngứng như 子年, 丑年, 未年… vẫn tồntại trong vănbản kinhđiển. Đángchúý, sựkhácbiệt giữa 兔年 (nămThỏ) và nămMèo của Việtnam phảnánh một phânkỳ vănhóa sâuxa. 卯 mǎo (HV mão), phụcnguyên OC *mruːʔ, rõràng tươngứng với “mèo”, cóthể đãbị thaythế bằng 兔 tù (HV thố, HN thỏ) do tínngưỡng cổ xem mèo là linhvật (靈動物). Mặcdù bị thaythế trong tiếngHán, 卯 mǎo (Mão) trong hệ thống congiáp vẫn giữnguyên, đểlại một dấuvết ngônngữ cóthể truytìm.
Hơn nữa, quanniệm phươngNam về 未 wèi là “dê” vềsau bị phươngBắc thay bằng 羭 yú (= HN cừu) nhưng vẫn mang âmvi65 gần với “dê”, dù 羊 yáng vẫn cónghĩa “dê” trong nhiều phươngngữ (sosánh âm Triềuchâu /yẽw/). Sựthayđổi này cóthể phảnánh sự phatrộn Altaic‑Thổ trong cưdân phươngBắc, những người liênhệ 羊 với 羔 gāo (cao) lại tươngứng với tiếngViệt “cừu” (3). Đángchúý, 羊 giữ vịtrí vănhoá trungtâm trong chữHán, tạothành mảng trườngnghĩa của nhiều chữ như 美, 善, 膳, 糕, 羹, 義, 議, tấtcả đều liênhệ đến vănhoá của dân ăn thịt “cừu”.
Về ýnghĩa vănhóa rộnghơn, những gì cưdân tiền‑Hán hấpthụ từ người BáchViệt cổ vềsau được người Hán chuyểntải trởlại cho ngườiViệt phươngNam. Chukỳ này baogồm nhiều từnguyên chỉ các vậtdụng thôngthường, thường có nhiều têngọi. Chẳnghạn, “chiếcđũa” tươngứng với 箸子 zhúzi, trongkhi tiếngHán hiệnđại dùng 筷子 kuàizi. “Chanh” tươngứng với 橙 chéng, dù tiếngHán nay dùng 檸檬 níngméng (từ tiếngAnh ‘lemon’). “Camsành” phảnánh tổhợp 橙 và 柑 gān. Những vídụ này chothấy nhiều kháiniệm xuấthiện trong thời Hán, nay đượcxemlà “Hán”, cóthể truyềnđi từ khối BáchViệt và vềsau quaytrởlại với người Annan cổ, vốnlà hậuduệ của các nhóm Thái‑Việt cổ — cưdân nước Sở và Trunghoa thờicổ.
Những vídụ nhưvậy nhấnmạnh rằng nềntảng vănhóa và ngônngữ do ngườiViệt cổ đặtra cótrước và thấmvào cái mà ngàynay đượcgọilà vănhóa Hán. TiếngViệt, với tưcách là hậuduệ ngônngữ của disản BáchViệt cổ, vẫngiữ những dấuvết bềnlâu của nguồngốc này, ngaycả khi nó đã tiếpthu và thíchứng với cấutrúc ngônngữ Hán trong nhiều thếkỷ.
Phântích từnguyên của các têngọi congiáp và các kháiniệm vănhóa nêutrên giúplýgiải vìsao các từnguyên Hán được tiếpthu một cách tựnhiên trong tiếngViệt. Bảnchất Việt‑gốc của chúng hoàntoàn hoàhợp với kýức vănhóa của ngườiViệt, và cảhai đều đã được phânloại là “Hán” trong diễnngôn họcthuật. Sựhộitụ này phảnánh trong cách Việtnam từng được gọi là “TiểuTrungquốc”, một thuậtngữ được phổbiến hoá trong tácphẩm Little China của Brodrick (1942).
Một vídụ điểnhình là ngày lễ 端午節, tiếngViệt gọi là TếtĐoanngọ, tổchức vào ngày mùng năm tháng năm âmlịch. Lễ này tưởngniệm cáichết của chísĩ nước Sở là Khuất Nguyên (屈原 Qǔ Yuán) càng củngcố mốiliênhệ vănhóa chung giữa người BáchViệt, Hán và các nhóm BáchViệt cổ (4). Truyềnthống đuathuyền trên sông vào ngày này đờinay là để tưởngnhớ người trungthần đó đã trầmmình tuẫntiết vào thời quân Tần xâmlấn lụcquốc. Và phongtục này được thầndân của cả sáu nước cổđại đó thựchành khi bị Tần thôntính. Disản vănhóa chung này cungcấp một bốicảnh cóýnghĩa — cứthử thaythế tênnước “Tần” = “Tàu” xemnào — để khảosát các biểuđạt tiếngViệt có từnguyên tươngứng với các dạng Hán.
Với mối liênhệ đó, khôngcógìlạ khithấy một hệthống từvựng tiếngViệt xoayquanh kháiniệm “Tết” — Tết Nguyênđán chora Tết Đoanngọ và các lễtết liênquan khác — có mứcđộ đồngnguyên mạnhmẽ với các biểuđạt tiếngHán bắtnguồn từ 節 jié (‘tiết’, ‘lễ’). Chẳnghạn:
- mùaTết = 季節 jìjié (‘mùatiết’, mùalễ)
- dịpTết = 節期 jiéqī (dịplễ)
- ănTết = 過節 guòjié (ănTết)
- Tếtnhất = 節日 jiérì (ngàylễ)
- bánhtét = 節餅 jiébǐng (‘bánhtiết’)
- bánhtrái = 甜餅 tiánbǐng (‘bánhngọt’)
- mứtTết = 甜梅 tiánméi (‘mứtmơ’)
- trướcTết = 節前 jiéqián (trướclễ)
- sauTết = 節後 jiéhòu (saulễ)
- TếtNguyênđán = 元旦節 Yuándànjié (Tiết Nguyênđán)
- TếtNguyêntiêu = 元宵節 Yuánxiāojié (‘Tiết Nguyêntiêu’)
- TếtĐoanngọ = 端午節 Duānwǔjié (‘Lễ Đoanngọ’)
- TếtTrungnguyên = 中元節 Zhōngyuánjié (‘Tiết Trungnguyên’)
- ‘TếtVulan’ = 蘭盆節 Lánpénjié (Lễ Vulan, Ullambana)
- TếtNhidồng = 兒童節 Értóngjié (‘Lễ Nhiđồng’)
- TếtTrungthu = 中秋節 Zhōngqiūjié (‘Lễ Trungthu’)
Những vídụ trên chothấy lịch Tết của ngườiViệt được dệtnên từ một mạnglưới vănhóa Hán‑Việt phứctạp, đặcbiệt qua các từvựng bắtnguồn từ 節 jié. Sựlặplại của “Tết” trong nhiều biểuđạt khôngchỉlà vaymượn ngônngữ mà cònlà sựcộnghưởng vănhóa kéodài hàng thiênniênkỷ. Các tươngứng từnguyên này khẳngđịnh quátrình traođổi lâuđời về từvựng mùavụ, lễnghi, và biểutrưng giữa hai nền vănhóa, đặcbiệt quanh Tết Nguyênđán và các lễlạc liênquan.
Mứcđộ Hánhoá từ thời Hán đến Đường vôcùng sâurộng, ảnhhưởng đến hầuhết mọi phươngdiện của xãhội Việtnam. Quátrình này cóthể sosánh với sựlantruyền vănhóa Mỹ hiệnnay qua ẩmthực, âmnhạc, ngônngữ v.v. nơi ảnhhưởng vượtxa phạmvi lãnhthổ. Trong tiếntrình trởthành một quốcgia hiệnđại, Việtnam có quỹđạo pháttriển tươngtự các quốcgia hậu‑thuộcđịa khác, kểcả những nước có lịchsử ngắn hơn. Chẳnghạn: Đàiloan và Singapore, nơi tiếngHán vẫn đượcdùng rộngrãi; các nước ChâuMỹ Latinh, nơi tiếngTâybannha chiếm ưuthế; và các nước cộnghoà hậu‑Xôviết, nơi tiếngNga vẫncòn ảnhhưởng mạnh, nhấtlà cuộcchiến Nga‑Ukraine từ 2014 đếnnay (2026) đã gây hơn mộttriệu thươngvong.
IV) “Chủnghĩa hiệnsinh địnhhướng”
Tiêuđề trên chảcógì bíhiểm. Nói theokiểu “chínhchịchínhem”, nó phải đượchiểu mộtcách châmbiếm là “Chínhtrị hiệnhành theo kiểu chủnghĩaxãhội địnhhướng”.
Sau gần 1.100 năm độclập khỏi Trungquốc, Việtnam đã pháttriển thành một căntính nhànước riêngbiệt. Việc chínhthức tiếpthu hệthống chữviết Quốcngữ trong hơn một thếkỷ qua là một dấuấn của nềnvănhóa tựchủ. Tuyvậy, vượtquakhỏi quátrình tiếnhoá ấy, vănhóa và ngônngữ Việtnam vẫn mang dấuấn Hánhoá sâuđậm. Sựtươngđồng giữa các biểuđạt tiếngViệt và tiếngHán rấtlà nổibật, khócóthể nhầmlẫn.
Trớtrêu thay, quanhệ chínhtrị giữa hai nước đồngvăn này lại luôn căngthẳng. Khác với mốiquanhệ giữa Hoakỳ và Anh sau cáchmạng, Việtnam và Trungquốc hiếmkhi chungsống hoàbình trong lịchsử. Disản của một thiênniênkỷ bị đặt dưới quyềnbá Trungquốc đã đểlại những dấuvết mưngmủ dàilâu. Tháiđộ trịchthượng lâuđời của Trungquốc và sựmiễncưỡng trongviệc từbỏ ảnhhưởng đối với Việtnam đã hunđúc một chủnghĩadântộc sâusắc trong lòng ngườiViệt. Tinhthần này thểhiện qua sựủnghộ rộngrãi đốivới các lậptrường phản‑Trung (chốngTàu), đặcbiệt trong những giaiđoạn căngthẳng leothang như những vụ chiếmlấn BiểnĐông.
Từ gócnhìn Trungquốc, việc Việtnam khẳngđịnh chủquyền thường bị nhìn bằng ánhmắt nghihoặc và thùđịch. Tâmthế đốiđầu này không nhấtthiết bắtnguồn từ chínhsách nhànước chínhthức, mà cóthể xuấtphát từ tâmthức lịchsử đã ănsâu. Chẳnghạn, việc đànáp các cuộc biểutình phản‑Trung tại Việtnam trong hơn một thậpniên qua, dùcó những giaiđoạn hoàdịu ngoạigiao, chothấy sựđanxen phứctạp giữa kiểmsoát nhànước và tâmthức quầnchúng. Độnglực này phảnchiếu cách Trungquốc đốixử với Đàiloan và Hươngcảng, nơi “thốngnhất quốcgia” luôn được đặtlêntrên quyềntựtrị vùngmiền. Ngượclại, các nước như Malaysia, Indonesia hay Singapore — tuy đôilúc chỉtrích chínhsách Trungquốc, chẳnghạn về tranhchấp BiểnĐông hoặc cách ứngphó với đạidịch Covid Vũhán (2020-24) — lại không nảyra phảnứng gaygắt tươngtự từ Bắckinh.

Hình 2: Tấmbiển trước cửa một quánăn tên “Běijīng Snacks” (Ănnhẹ Bắckinh) gần Phủ Thânvương Công Vươngphủ tại Bắckinh — ảnh do Rose Tang chụp, 2013.
(Source: http://www.voatiengviet.com/content/quan-an-trung-quoc-khong-tiep-khach-nguoi-viet/1610192.html)
Trong diễnngôn họcthuật, tâmthức oánthù sâusắc mà nhiều ngườiViệt dànhcho một Trungquốc báquyền vẫn tiếptục địnhhình tháiđộ quốcgia. Bấtkỳ yếutố nào mang dấuvết ảnhhưởng Trungquốc thường bị tiếpnhận bằng sựđềkháng, bấtkể giátrị vănhóa hay ngônngữ của nó. Sựphảnkháng lâuđời đốivới quyềnlực Hánhoá này hiệndiện như một dòngchảyngầm trong họcthuật Việtnam, đặcbiệt trong lĩnhvực căntính ngônngữ. Việc biệnminh cho tínhđộclập ngônngữ thường bị xenlấn vào với bốicảnh ngoạigiao rộnghơn giữa hai nước, vốn bị ámảnh bởi oánhận lịchsử và căngthẳng hiệnđại.
Để hiểurõ sựđốikháng này, cần xemxét quátrình chuyểnbiến trong quanhệ Việtnam–Trungquốc, đặcbiệt trong bốicảnh các xungđột leothang tại BiểnĐông (South China Sea). Tươngtự như Đàiloan, Việtnam thường bị Trungquốc xemnhư một tỉnh “thấtlạc”, một thànhviên táchrời từ một khônggian vănhóa từng đượcxemlà hợpnhất. Mặcdù cảhai đềulà những nhànước cộngsản cònsótlại phải dựanhau để tồntại, tinhthần “đồngchí” ýthứchệ giữa họ phầnlớn chỉlà bềngoài. Trớtrêu thay, lãnhđạo Việtnam vẫn phụthuộc vào môhình cộngsản Trungquốc để duytrì quyềnlực, trongkhi giới lãnhđạo Trungquốc — hiểurõ sựphụthuộc ấy — luôn tậndụng nó làm lợithế chínhtrị. Sựnghikỵ lẫnnhau giữa hai chínhquyền rất rõrệt, được đánhdấu bởi những toantính chiếnlược và sựkhinhmiệt khó chegiấu.
Trong lịchsử, Việtnam đã chịuđựng nhụcnhã và giankhổ để tránh đốiđầu trựctiếp với phươngBắc. Dưới cáibóng của một quákhứ đếquốc dàiđằngđẵng, chấmphá bởi những cuộc xâmlược lặpđilặplại từ thời tiền‑Hán, Việtnam đã thểhiện một mứcđộ kiềmchế đángkinhngạc, luôn dòdẫm giữa ranhgiới chiếntranh và hoàbình. Tuyvậy, khi sựkhuấtphục trởnên khôngthể chấpnhận, ngườiViệt chọn khángcự. Kểtừ khi giành độclập năm 939, Việtnam đã tiếnhành ítnhất 24 cuộcchiến lớn chống Trungquốc, baogồm cuộc chiến biêngiới 1979 dữdội, gây hàng chụcngàn thươngvong và tiếptục với các cuộcđụngđộ rảirác đến cuối thậpniên 1980. Những giaiđoạn hoàdịu từng xảyra, nhưng thường chỉlà bềngoài, chegiấu những thùđịch tiềmtàng.
Khôngcógì bíẩn khi mỗi lần Trungquốc trởnên hùngmạnh, giới cầmquyền của họ lại tỏra tựtin và kỳvọng chiếnthắng trong các cuộcxungđột tươnglai. Mặcdù sứcmạnh quânsự của Trungquốc cóthể gợiý một kếtcục tấtyếu, lịchsử lại kể một câuchuyện khác. Bấtkể diễnngôn chínhthức, Trungquốc đã từng thấtbại trong hầuhết các cuộcchiến lớn chốngngoạibang: Môngcổ, Mãnchâu, Nhậtbản, và đặcbiệt là Việtnam. Trungbình, cứ khoảng 90 năm lại xảyra một cuộcchiến quymô lớn giữa hai nước, và trong mỗi cuộcchiến giữgìn độclập, Việtnam đều giữvững chủquyền và dành thắnglợi. (5)
Mẫuhình lịchsử này dườngnhư vẫn chưa manglại một bàihọc cóýnghĩa nào cho giới lãnhđạo Trungquốc. Căngthẳng tiếptục leothang, và nguycơ xungđột mới vẫncòn hiệndiện. Năm 2014, các cuộcbiểutình phản‑Trung tại Việtnam đã chuyểnthành bạođộng, nhắm vào côngnhân và nhàmáy Trungquốc. Nếunhư một cuộcchiến mới bùngnổ do quầnchúng phẫnnộ hoặc do vachạm tàubè trênbiển — lãnhđạo Việtnam cóthể sẽ buộc phải đitheo ýdân.
Bảng 2: Kháiquát lịchsử Hán–Việt
Điều quantrọng là luôn nhớ rằng lịchsử Việtnam gắnbó chặtchẽ với lịchsử Trungquốc — đó chínhlà lýdo vìsao hai bên có mứcđộ liênquan sâuđậm đến nhưvậy. Vùngđất này từng baogồm các quốcgia Thái‑Việt, vềsau bị sápnhập vào một đếchế Trungquốc thốngnhất dưới Tần Thỉ-Hoàng năm 221 TCN, cùngvới các vùng lãnhthổ Thổ‑Altaic phươngBắc. Tiếptheosau sựsụpđổ của nhàTần vào năm 206 TCN, Vươngquốc NamViệt của ngườiViệt phươngNam hìnhthành dưới trướng Triệu Đà, một cựu tướnglãnh nhà Tần trởthành vịvua đầutiên của nước này. NhàHán thôntính NamViệt vào năm 111 TCN, và mặcdù triều Hán chấmdứt năm 220 SCN, Giaochâu (quận Giaochỉ cũ ở Annam) vẫn nằm dưới sựcaiquản của các triềuđại Trungquốc tiếptheo trong suốt bảy thếkỷ tiếptheo.
Đến năm 939 SCN, một phần lãnhthổ này táchkhỏi NamHán và thiếtlập chủquyền độclập. Trong 107 năm cuốicùng của thờikỳ suyvi của nhàĐường (800–907 SCN), nhiều tiểuquốc mới nổilên trên Hoalục bắtđầu khẳngđịnh quyềntựchủ. Trongsốđó, Giaochâu đã thànhcông thoátra khỏi sựkiểmsoát của NamHán và chínhthức xáclập độclập, trởthành đạidiện địalý của hậuduệ dân BáchViệt ở phươngNam. Vị thủlĩnh bảnđịa đầutiên của vùng này, Ngô Quyền — vốnlà một thứsử dưới thời NamHán — đã mởra một kỷnguyên độclập mới. Trong thiênniênkỷ tiếptheo, Việtnam mởrộng lãnhthổ về phươngNam, và dần hìnhthành quốcgia hiệnđại như ngàynay.
Chủquyền của Việtnam, xéttheo lịchsử, được xáclập vữngchắc vào năm 939 SCN, đánhdấu sựchấmdứt gần một thiênniênkỷ dưới quyềnbá của các triềuđại Trungquốc. Tuyvậy, trong hệthống chínhsử Trungquốc (中國 正史), Annam hầunhư khônghề xuấthiện với tưcách một thựcthể độclập. Các sựkiện dẫnđến tựchủ của Việtnam thường chỉđược môtả như những cuộc nổidậy của một quận “phảnloạn”, thậmchí không được thừanhận như một phiênquốc trong trậttự đếquốc Trungquốc (Bo Yang, 1993, tập 69–71) (6).
Trong thếgiớiquan của các triềuđại Trungquốc — kểcả trong thời hiệnđại — ýniệm rằng một vùngđất như Việtnam cóthể giành và duytrì độclập lâudài luôn bị xemnhư một “dịthường” lịchsử. Việc một cựu thuộcquốc cóthể tồntại vĩnhviễn ngoài phạmvi ảnhhưởng của Trungquốc bị coilà điều khóchấpnhận về mặt chínhtrị và gây rốiloạn vềmặt ýthứchệ. Tâmthức này phảnchiếu cách Trungquốc đốixử với các vùng tranhchấp khác như NộiMông, Tâytạng và Tâncương, nơi vấnđề chủquyền vẫnlà một điểm nóng nhạycảm và chưađược giảiquyết.
Việtnam táchra thànhcông — phải sau một thiênniênkỷ bịtrị — tạonên một đốinghịch rõrệt sovới tìnhtrạng bấtổn ở Hồng Kông trước khi bộluật anninh quốcgia được ápđặt trong thời kỳ phongtoả Covid Vũhán, và sovới tìnhtrạng độclập trênthựctế kéodài của Đàiloan. Cảhai trườnghợp này đều tháchthức disản “đạiquốc sôvanh” đã địnhhình tưduy trịquốc của Trungquốc suốt nhiều thếkỷ, phơibày sựcăngthẳng giữa thamvọng lịchsử và thựctế địachính hiệnđại.
Mặcdù thếgiới ngàycàng hướngđến minhbạch và ngoạigiao, thamvọng mởrộng của Trungquốc vẫn ănsâu trong tưthế chiếnlược của họ, thườngđược chephủ bằng diễnngôn về chủquyền và tựhào dântộc. Những thamvọng này nhiều lần hiệndiện qua các hoạtđộng quânsự, đặcbiệt khi Trungquốc tinrằng họ đủ mạnh để hànhđộng mà không bị kiềmchế. Bướcvào thếkỷ XXI, Trungquốc vẫn tiếptục hànhxử dưới cáibóng của quákhứ đếquốc báquyền, liêntục đedoạ dùng vũlực thôntính Đàiloan. Mụctiêu của Tập Cận-Bình — theo nhiều phântích — là muốn được ghivào lịchsử Trungquốc như vị lãnhđạo “thốngnhất Trungquốc” bằng cách thuphục Đàiloan.
Một vídụ điểnhình của tưduy này là năm 1979, khi Đặng Tiểu-Bình phátđộng cuộcchiến biêngiới đánh Việtnam với lýdo “dạycho Việtnam một bàihọc”, như ông từng nói với Tổngthống Hoakỳ Carter khi ông viếngthăm Trungquốc năm 1979. Chiếndịch này thựctế là mộtphần của chiếnlược rộnghơn nhằm giatăng ảnhhưởng lên bánđảo Đôngdương, bắtđầu bằngviệc ủnghộ chếđộ Khmer Đỏ ở Campuchia — một chếđộ gâyra cái chết của hàngtriệu côngdân của chính nước họ. Tuyvậy, cuộcchiến Trung–Việt 1979 đã trởthành một thấtbại tốnkém cho Trungquốc: binhlính trangbị lạchậu chịu tổnthất nặngnề và buộc phải từbỏ các mụctiêu báquyền rộnghơn bấygiờ. Mặcdù vậy, Trungquốc vẫngiữ được quyềnkiểmsoát các vùng biêngiới tranhchấp như Ải Namquan, nay nằmsâu gần hai kilômét trong lãnhthổ Trungquốc! Sựkiện này trởthành một biểutrưng cho tâmthức oánthù sâusắc mà nhiều ngườiViệt dànhcho phươngBắc.
Trong lịchsử, chođến cuối thếkỷ IX, phầnlớn miền Tây Trungquốc — baogồm Tâytạng và Vânnam ngàynay — là các vùng tựtrị do vươngquốc Thổphồn và Namchiếu caiquản. Cùng với Tâncương, các vùng này chốnglại sựkiểmsoát của triềuđình nhàĐường, thậmchí từng tiếpcận TrườngAn và gópphần làm tanrã đếquốc. Ngàynay, bộmáy quânsự Trungquốc luôn sẵnsàng đànáp bấtkỳ phongtrào nào gợiý độclập, như đã thểhiện qua cách đốixử khắcnghiệt tại Tâytạng và Tâncương.
Việtnam cũng từng là mụctiêu lâuđời của nỗlực táilập báquyền từ phươngBắc. Mỗikhi Trungquốc trởnên hùngmạnh, sựchúý của họ lại hướngvề phươngNam, tìmcách đưa Việtnam vào phạmvi ảnhhưởng của nó. Mẫuhình này tươngtự các vídụ hiệnđại về xungđột lãnhthổ, như hànhđộng của Nga tại Chechnya, Georgia, và Ukraine từ năm 2014 chotớinay (2026). Theo tinhthần Binhpháp Tôn Tử , lịchsử Trungquốc thường ưachuộng các đòn tấncông phủđầu để đạt mụctiêu.
Bướcvào thếkỷ XXI, Trungquốc táikhẳngđịnh tưthế cứngrắn sau nhiều thậpniên hiệnđạihoá quânsự. Năm 1999, họ gây áplực buộc Việtnam chấpnhận hiệpđịnh phânđịnh biêngiới theo hướng cólợi cho Bắckinh. Trênbiển, Trungquốc thửthách quyếttâm của Việtnam bằng cách triểnkhai các dànkhoan khổnglồ vào vùng đặcquyền kinhtế của Việtnam ở BiểnĐông, châmngòi cho các cuộc biểutình rộngkhắp trongnước. Bắckinh phớtlờ phánquyết tháng 7/2016 của Toà Trọngtài Thườngtrực tại LaHaye, vốn bácbỏ yêusách “đường chữ U lưỡi bò chín đoạn”. Thayvì tuânthủ, Trungquốc leothang hoạtđộng khiêukhích gâyhấn: xây đảonhântạo và phitrường ở Trườngsa, lắpđặt radar quânsự, triểnkhai hảiquân và máybay oanhtạc qua vùng nhậndiện tựtuyênbố. Đỉnhđiểm là tháng 4/2020, giữa đại‑dịch Covid‑19, một hộtốnghạm Trungquốc đã đánhchìm một tàu đánhcá nhỏ của Việtnam ngaytrong vùng đặcquyền kinhtế của Việtnam.
Việc Trungquốc tiếptục quânsựhoá các vùng biển tranhchấp — baogồm triểnkhai hàng ngàn tàubè dânquân đánhcá và tàuchiến — chothấy ýđồ kiểmsoát BiểnĐông. Việc họ từchối thừanhận các phánquyết pháplý quốctế và đơnphương đòi chủquyền trên các tuyến hảihành nhộnnhịp phảnánh sựphớtlờ các chuẩnmực toàncầu.
Trongnước, căngthẳng càng trầmtrọng bởi các bêbối chínhtrị trong giới lãnhđạo Việtnam. Thôngtin ròrỉ từ các phe phản‑Trung trong Bộ Chínhtrị đã làm dấylên các thuyếtâmmưu chorằng Trungquốc không còn cần gâychiến; họ đã “khốngchế” được lãnhđạo Việtnam. Có cáobuộc rằng mộtsố nhânvật chủchốt bị muachuộc, càiđặt hoặc thaotúng để phụcvụ lợiích Trungquốc, với các khoản chi lênđến 6,8 tỷ nhândântệ cho mỗi quanchức. Những thuyết này quyvề một chiếnlược dàihạn, đượccho là khởiđầu từ thời Mao Trạch-Đông năm 1949, nhằm sápnhập Việtnam vào năm 2050.
Câuchuyện này bắtnguồn từ việc Trungquốc sớm ủnghộ cộngsản Việtnam trong các cuộcchiếntranh chống Pháp và Hoakỳ. Trong thậpniên 2010, Trungquốc côngbố bứcthư năm 1958 do Thủtướng Phạm Văn Đồng ký, thừanhận chủquyền Trungquốc đối với Hoàngsa và Trườngsa. Tàiliệu này đượcdùng để biệnminh cho việc quânsựhoá các tuyến hảihành trọngyếu, gópphần làm giatăng căngthẳng giữa Trungquốc và Hoakỳ trong khuvực.
Lịchsử nhiều lần chothấy rằng thamvọng báquyền của Trungquốc tại vùng ĐôngnamÁ luôn phải trảgiá rấtđắt. Trong mọi cuộc xungđột lớn với Việtnam, Trungquốc đều chịu tổnthất nặngnề — về quânsự, ngoạigiao và uytín. Những đốiđầu này đã đểlại dấuvết lâudài trên cụcdiện địachính khuvực. Với những tươngđồng lịchsử, cuộc đấutranh độclập của Việtnam cungcấp một lăngkính giátrị để quansát hànhtrình hiệnđại của Đàiloan hướngđến nền tựchủ nướcnhà.
Giốngnhư Việtnam trướckhi xáclập độclập năm 939, Đàiloan đã trải qua một lộtrình đầy biếnđộng kểtừ năm 1949. Mặcdù tồntại như một quốcgia độclập trên thựctế, Đàiloan vẫnchưa chínhthức tuyênbố mình là “Cộnghoà Đàiloan”. Nỗlực khẳngđịnh chủquyền của Đàiloan bị cảntrở bởi các thấtbại ngoạigiao, đángchúý nhất là việc mất quanhệ chínhthức với Hoakỳ năm 1973, sau chínhsách hoàgiải của Tổngthống Richard Nixon với Trungquốc, được điềuphối bởi cốvấn Henry Kissinger. Trungquốc nhâncơhội này để giatăng yêusách đối với Đàiloan, khẳngđịnh rằng hònđảo là một phần khôngthể táchrời của đấtnước Trungquốc. Áplực này, dựatrên chínhsách thuhồi lãnhthổ lâuđời, phảnảnh cách Trungquốc đốixử với Việtnam trướckhi nước này độclập.
Sựhoàdịu ngắnhạn trong quanhệ hai bờ eobiển dưới thời Mã Anh-Cửu và Quốcdânđảng đã phaitàn. Dướithời bà Thái Anh-Văn và Đảng Dântiến, Đàiloan giữvững tựchủ chínhtrị, mặcdù Bắckinh tiếptục khẳngđịnh yêusách. Nếunhư Đàiloan cóthể giữ vững vịthế của mình sau ngưỡng thếkỷ XXI — dù với tưcách Trunghoa Dânquốc hay một Cộnghoà Đàiloan mới — đảoquốc này cóthể pháttriển thành một quốcgia có đặcđiểm vănhóa và ngônngữ tươngtự Việtnam hiệnđại. Theo nghĩa này, bà Thái Anh-Văn cóthể được xem như một hìnhtượng songhành với vua Ngô Quyền của Việtnam, người đã dẫndắt dâ‑tộc mình giành độclập vào cuối thếkỷ X.
Việtnam đã chịu một thiênniênkỷ đôhộ trướckhi giành chủquyền. Lộtrình của Đàiloan cóthể tươngtự, dù ngắnhơn, được địnhhình bởi toàncầuhoá và ngoạigiao khuvực. Theothờigian, Đàiloan cóthể trởnên giốngnhư một quốcgia kiểu Singapore — độclập trên thựctế, hộinhập toàncầu, và vănhóa đặcthù — bấtkể có đảoquốc này có tuyênbố độclập hay không.
Cách Trungquốc đốixử với Annam trong lịchsử cungcấp một môhình cho cách họ đốixử với Đàiloan. Khácvới các vùng tựtrị như NộiMông, Tâytạng, Tâncương và Quảngtây, Đàiloan khôngđượcxem như một vùng thiểusố biênviễn mà đólà một “tỉnh thấtlạc”, mặcdù Bắckinh chưa từng caiquản hònđảo này dù chỉ một ngày. Ngaycả quyền tựtrị danhnghĩa giốngnhư của Quảngtây cũng cóthể chỉ là tạmthời. Hoàntoàn cóthể hìnhdung ra rằng Khu Tựtrị Choang Quảngtây sẽ bị táiphânloại thành một tỉnh thôngthường dưới quyền trungương, tươngtự Quảngđông. Kểtừ khi Tập Cận-Bình lên nắmquyền năm 2012, Quảngđông đã bắtbuộc sửdụng tiếngphổthông (Quanthoại) trong toànbộ các chươngtrình truyềnhình, một thayđổi rõrệt sovới bảnsắc ngônngữ Quảngđông từng rất mạnhmẻ trướcđây.
Trong lịchsử, Trungquốc đã củngcố quyềnkiểmsoát đối với Quảngđông bằngcách Hánhoá hậuduệ của các cộngđồng Việt bảnđịa, chủyếu thôngqua các lànsóng didân có tổchức từ phươngBắc. Một môhình tươngtự đang diễnra tại Tỉnh Hảinam, nơi đấtđai được thumua bởi những người địnhcư giàucó từ phươngBắc. Khác với các cộngđồng Choang và Thái ở Quảngtây, cưdân Hảinam phầnlớn đượcxemlà “người Hán”, nhiều người có tổtiên đếntừ Phúckiến. Quátrình dicư vào vùng Lĩnhnam (baogồm Quảngđông và Quảngtây) đã bắtđầu hàng thếkỷ trướcthời nhàĐường, và điềunày tháchthức quanniệm phổbiến cho rằng toànbộ người Quảngđông đều là hậuduệ của didân thời Đường (“Đườngnhân”).
Lịchsử didân dàilâu này đã địnhhình cụcdiện nhânkhẩu và vănhóa của miềnNam Trungquốc, và các lànsóng dâncư lantoả đã ảnhhưởng đến các vùng lâncận, baogồm cả Annam cổđại. Disản của những chuyểndịch này vẫn tiếptục tácđộng đến các tranhluận hiệnđại về căntính, tựtrị và chủquyền — khôngchỉ ở Việtnam và Đàiloan mà còn trong toànbộ các nước chịu ảnhhưởng Hánvăn. (7)
Hiệntượng dicư phươngNam này tiếptục kéodài lâusau năm 939. Vào thờiđiểm đó, lãnhthổ nhàĐường chỉ baogồm khoảng một nửa diệntích Trungquốc hiệnnay. Môhình mởrộng lãnhthổ này lặplại dưới các triềuđại tiếptheo, mỗi vươngtriều đều theođuổi thamvọng đếquốc của nhàvua và từngbước mởrộng biêngiới. Thôngqua quátrình lấnchiếm và củngcố từngphần, Trungquốc đã sápnhập các vùng lâncận và biến chúng thành các tỉnh trọngyếu như Tứxuyên, Vânnam, Tâytạng, Tâncương, Thanhhải và NộiMông, quađó tăng gấpđôi diệntích lãnhthổ theo thời gian.
Đốivới Việtnam, từlâu tồntại một “bímật côngkhai” rằng Trungquốc xem Việtnam như mộtphần cònthiếu trong bàitoán địalý-chínhtrị của họ. Ngaycả khi thếgiới bướcvào thếkỷ XXI, Trungquốc vẫn sửdụng nhiều biệnpháp côngkhai và ngấmngầm để gây áplực lên Việtnam. Nguycơ xâmlược — dù thôngqua quânsự hay ngoạigiao — baogiờ cũng vẫn tồntại như một phần trong chiếnlược dàihạn nhằm táikhẳngđịnh ảnhhưởng đối với vùngđất từng bịtrị trongsuốt một thiênniênkỷ. (8)
Đây đượcxemnhư “bảnthiếtkế của một đếchế mới”, tiếptục gây áplực và mởrộng về phươngnam, với Việtnam ngàycàng trởthành trọngđiểm. Năm 2009, Trungquốc nộp lên Uỷban Ranhgiới Thềmlụcđịa một bảnđồ với yêusách hình chữ U baophủ gần như toàn bộ BiểnĐông, baogồm các vùng đặcquyền kinhtế chồnglấn, các tuyến hảihành quốc tế và khôngphận trên các quầnđảo tranhchấp.
Saukhi nộp hồsơ này, Trungquốc đã bácbỏ và phớtlờ tấtcả các phánquyết quốctế tháchthức yêusách đơnphương của họ, thểhiện một lậptrường tháchthức các chuẩnmực toàncầu và củngcố thamvọng báquyền khuvực.
Vào ngày 20/7/2016, TânHoaxã côngbố tuyênbố của Bộ Quốcphòng Trungquốc, trongđó phátngônviên thôngbáo rằng các hộitốnghạm Trungquốc đã bắtđầu các cuộc tậptrận quânsự baogồm việc quấynhiễu, chặngiữ và cókhảnăng tiêudiệt tàunướcngoài. Các hoạtđộng này khôngchỉ nhắm vào tàucá Việtnam màcòn baogồm cả tàu và máybay thuộc lựclượng quốcphòng Việtnam. Bấtkỳ tàu hay máybay Việtnam nào xuấthiện trong vùng biển tranhchấp sẽ đều bịxemlà mụctiêu.
Tàucá Việtnam — vốn dựavào các tuyếnhảilộ lướicá từxưanay trên BiểnĐông của chaông ngưdân — đang đốimặt với nguycơ bị tàu Trungquốc tấncông ngàycàng tăng. Ngưdân, những người thừakế truyềnthống đánhcá lâuđời, ngàycàng thườngxuyên gặp các tìnhhuống thùđịch từ tàu kiểmngư và biênphòng Trungquốc.
Đến năm 2025, Trungquốc tiếptục mởrộng hiệndiện hảiquân ở BiểnĐông, củngcố yêusách lãnhthổ bằng diễnngôn dântộcchủnghĩa mạnhmẽ. Thôngqua tuyêntruyền nhànước, Bắckinh nhiềulần khẳngđịnh rằng họ sẽ không từbỏ “dù chỉ một tấc đất” trong các tranhchấp biểnĐông mà họ xưnggọi là Biển Namhải. Lậptrường cứngrắn này làm giatăng căngthẳng khuvực và đedoạ sựổnđịnh anninh hảihành.
Các mốiquanhệ đốingoại của Trungquốc trong lịchsử và hiệnđại thường gắnbó với các chếđộ bịxemlà độcđoán hoặc hiếuchiến. Mặcdù Việtnam và Trungquốc đôilúc duytrì trạngthái “chungsống thậntrọng”, thamvọng báquyền khuvực của Trungquốc khiến họ baogiờ cũnglà đốithủ thùnghịch chính của Việtnam.
Qua nhiều thếhệ, ngườiViệt đã chịu áplực từ phươngBắc và đáptrả bằng sựkiêncường. Khi ảnhhưởng của Trungquốc mởrộng thôngqua một môhình cộngsản hiệnđạihoá, sựnhẫnnhịn của Việtnam dần suygiảm. Ngaycả các biểutượng vănhóa liênquan đến Trungquốc cũng cóthể gâyphảnứng mạnh.
Viễncảnh xungđột trong tươnglai vẫn hiệndiện rõrệt và cóthể tànphá hơn các cuộcchiến trước. Những đồnđoán xoay quanh nguồngốc của Covid‑19 — mà mộtsố nhàkhoahọc phươngTây tinrằng cóthể đã ròrỉ từ một phòngthínghiệm sinhhọc tại Vũhán vào cuối năm 2019 — đã dấylên longại về khảnăng Trungquốc sửdụng các tạcsinhhọc như vũkhí. Đến cuốinăm 2020, đạidịch Covid Vũhán đã cướpmất hàngtrămngàn sinhmạng trên toàncầu, qua đó nhấnmạnh những hệquả tiềmtàng của sựleothang côngnghệ và sinhhọc khi khôngđược kiểmsoát.
Việtnam suốt hơn 1.300 năm đã chứngkiến cảnh đànông gánh vác trọngtrách bảovệ quêhương hết thếhệ này đến thếhệ khác, thườngxuyên trước sựtấncông xâmlấn từ Trungquốc. Chu kỳ chiếntranh triềnmiên ấy hầu như không để lại khoảngtrống cho côngcuộc táithiết hâụchiến, một tráchnhiệm phầnlớn do phụnữ Việtnam đảmđương. Chương cuối cùng của cuộcđấutranh này khéplại vào năm 1989 khi Việtnam rútquân về sau mườinăm bộđội Việtnam tiếnhành chiếndịch chốnglại Khmer Đỏ được Trungquốc hậuthuẫn tại Campuchia — một cuộcxungđột thựcchất là sựtiếpnối của chiếntranh biêngiới Việtnam–Trungquốc năm 1979.
Điều đáng chúý là Việtnam trong suốt lịchsử luôn giành phần thắng trong côngcuộc bảovệ lãnhthổ trước các cuộc xâmphạm từ Trungquốc. Kểtừkhi giành lại độclập vào năm 939, đấtnước này đã giữvững chủquyền nhờ ýchí bềnbỉ và nănglực chiếnlược khônkhéo. Một trong những chươngsử nổibậtnhất diễnra vào thếkỷ XIII, khi Việtnam baolần đẩylui các cuộc xâmchiếm của nhàNguyên do người Môngcổ lãnhđạo — vào thờiđiểm mà phầnlớn lụcđịa Á‑Âu đãbị kỵbinh Thànhcát Tưhãn trànngập.
Hiệnnay, quanhệ ngoạigiao giữa Trungquốc và Việtnam vẫn căngthẳng, chỉđược duytrì nhờ vịthế chung của hai nước cùnglà nhànước cộngsản. Sựliênkết này ít mang tínhđoànkết ýthứchệ, mà chủyếu nhằm bảovệ sựtồntại của giớicầmquyền ở cả haiphía. Nếu Trungquốc thựcsự rútra được bàihọc từ lịchsử, họ cólẽ sẽ cânnhắc kỹ trướckhi khơimào một cuộc chiến mới với Việtnam trong thếkỷ XXI. Những thấtbại trong quákhứ vẫncònđó như những lời cảnhtỉnh.
Sự trườngtồn của Việtnam là điều hiếmcó. Rất ít dân tộc có thể chịuđựng một thiênniênkỷ bị trị mà vẫn giữ được bảnsắc vănhoá và ngônngữ. Trái lại, nhiều quốcgia như Pháp đã từ lâu từbỏ các ngônngữ tổtiên — như tiếng Gaulish — để chuyểnsang các ngônngữ pháttriển từ Latinh. Sựsosánh lịchsử này nên khiến giới họcgiả Việtnam suyngẫm lại về cănnguyên của bảnsắc dân tộc. Sựhìnhthành vănhoá Việtnam khôngchỉlà sảnphẩm của quátrình Hánhoá do đếquốc Trungquốc ápđặt, màcònlà kếtquả của sựhộitụ phứctạp giữa yếutố bảnđịa BáchViệt và các thànhtố Hán tồntại songhành.
Hơnnữa, giớisửhọc cần xemxét lại và đánhgiá đúngđắn vaitrò của tổtiên BáchViệt trong quátrình hìnhthành dâncư Hán. Dấutích ngônngữ và vănhoá của disản BáchViệt vẫncòn hiệndiện trong cộngđồng nói tiếng Ngô, Phúckiến và QuảngĐông. Cũng cần nhớrằng nước Tần — vốnchỉ giớihạn trong phạmvi tỉnh Thiểmtây ngàynay — chỉ chiếm mộtphần nhỏ sovới tổngdânsố của đếquốc Hán về sau. Triều Hán do Lưu Bang (劉邦) sánglập, một người gốc nước Sở, mà tướnglĩnh và lêdân phầnlớn thuộc dòngdõi Thái-BáchViệt cổ (Taic‑Yue). Sựphatrộn nềntảng này chothấy lịchsử Trungquốc và Việtnam vốn đanxen, và disản BáchViệt đã gópphần địnhhình vănminh ĐôngÁ mộtcách bềnbỉ.
Điểm thenchốt mà độcgiả cần nắm là: sau khi Trungquốc chinhphục toànbộ vùng Hoanam (華南), miềnBắc ngàynay của Việtnam trởthành nơi trúẩn của những lànsóng dânViệt muộn cuốicùng — hậuduệ của cưdân BáchViệt bảnđịa (9). Quêhương tổtiên của họ được ghichép khôngchỉ trong truyềnthống truyềnkhẩu mà còn trong sửliệu Trungquốc có niênđại hơn 2.200 năm. Lịchsử Việtnam chínhthức khởithỉ từ Vươngquốc NamViệt (南越王國) do BáchViệt thốngnhất, hìnhthành vào khoảng năm 200 TCN tại khuvực nay là quận Phiênngung của Quảngchâu (廣州番禺). Tuy trên danhnghĩa thuộcquyền vịtướng Tần Triệu Đà (趙佗) — người sauđó lênngôivua khi nhàTần sụpđổ — dâncư của vươngquốc này là tộcngười BáchViệt bảnđịa, hậuduệ của các nhóm tiền‑Taic từng đónggóp vào hìnhthành nước Sở (楚國).
Nước Sở cuốicùng bị Lưu Bang — cũnglà người Sở — đánhbại trong cuộc thưhùng Hán–Sở nhằm tiếmnhiệm quyềnlực từ đếquốc Tần đã sụpđổ. Saukhi lậpra nhàHán, triềuđình nhàHán thôntính NamViệt vào năm 111 TCN, biến Annam thành một quận của Đếquốc Hán, và tìnhtrạng này kéodài chođếnkhi nhà Đường sụpđổ vào năm 907 SCN. Lãnhthổ NamViệt cũ sauđó táihiện dưới hìnhthức nước NamHán, mở đường cho Việtnam giành độclập vào năm 939.
Cộngđồng tộc BáchViệt khôngphải là một khốinhânchủng thuầnnhất màlà một chùm các ngànhnhánh bộtộc — LạcViệt, ÂuViệt, TâyViệt, ĐôngViệt cùng nhiều nhóm khác — phânbố khắp vùngmiền Hoanam và về au tiếntriển hoáthành các tộcngười thiểusố như Choang (Nùng) và các nhóm Tày (Daic). Hậuduệ của họ ngàynay vẫn hiệndiện rộngrãi ở cả miềnNam Trungquốc lẫn miềnBắc Việtnam. Cũngnhư BáchViệt giữ vaitrò nềntảng trong sự hìnhthành Việtnam, họ đồngthời là tổtiên của các cộngđồng nói tiếng Tày-Nùng (Daic-Kadai), những nhóm vềsau dicư xuống phươngNam và lậpnên Tháilan. Các cộngđồng này cuốicùng thôntính một phần lãnhthổ của Vươngquốc Khmer cổ, nơi dâncư chủyếu là người Khmer.
Lịchsử dịchchuyển này giúp lýgiải sựxuấthiện của giảthuyết NamÁ (Austroasiatic), vốn truytìm cănnguyên vănhoá và ngônngữ về lưuvực Trườnggiang. Từ điểm khởinguyên phươngBắc ấy, những lànsóng dicư — kểcả tộc ngườiLê trên đảo Hảinam — lanxuống phươngNam, gópphần hìnhthành các tộcngười khác như người Chăm ở Trungphần Việtnam và nhiều cộngđồng Namđảo trênkhắp vùngmiền ĐôngnamÁ, baogồm cả người Indonesia như Bình Nguyên Lộc (1972) từng giảđịnh. Bằngchứng khảocổ ngày càng ủnghộ nhậnđịnh của ông rằng các chuyểndịch nhânloại trong vùng này cónhiều khảnăng bắtđầu từ phíaBắc bánđảo Đôngdương.
Đếnđây, độcgiả đãcó một nhậnthức nềntảng về các mốiliênhệ lịchsử và vănhoá giữa Trungquốc và Việtnam, khởiđầu từ BáchViệt và Hán, rồi vềsau giữa người Hán và Annam. Tuy nhiên, để hiểu trọnvẹn bảnsắc ngônngữ Việtnam, cần tiếpcận thêm các ngành nhânchủng và khảocổ.
Vềmặt lịchsử, thànhphần BáchViệt–Daic trong cơcấu chínhtrị nước Sở đã giữ vaitrò địnhhình nềntảng ditruyền và vănhoá của dâncư Hán. Trướckhi các nhóm Tartaric và Altaic từ miềnNam Siberia tiếnsâu xuống phươngNam, người BáchViệt đã đónggóp đángkể vào thànhphần dâncư Hán sơkỳ. Khi những ngườiHán về sau thamgia các chiếndịch tiếnsâu xuống phươngNam, nhiều người trongsố họ hoànhập vào dòngdõi Việt, làm tăngthêm sựphatrộn từbắcchínam.
Trongkhiđó, chính ngườiViệt có nhiều khảnăng cũng là hậuduệ của các nhánh thuộc bộtộc BáchViệt, c thể thuộc gốc Taic cổ, mà tổtiên từng dicư xuống Nambáncầu và dần tiếntriển thành các cộngđồng NamÁ và NamĐảo. Disản dịchchuyển này được củngcố bởi bằngchứng khảocổ: vào tháng 8 năm 2020, các nhà nghiêncứu xácnhận rằng những côngcụ đá như rìu và mảnh tách tìmthấy ở Quýchâu được chếtác tạichỗ khoảng 17.000 năm trước, chothấy sựcổxưa sâuđậm của vùng cưtrú loàingười trong vùng.
Về nhânchủng, dâncư Việtnam là một hỗnhợp phứctạp giữa các nhóm bảnđịa và người nhậpcư đếntừ Hoanam Trungquốc, được địnhhình qua nhiều thếkỷ thuộcđịa. Disản đatầng này tiếptục ảnhhưởng đến bảnsắc vănhoá và ngônngữ Việtnam, ngaycả khi đấtnước này khẳngđịnh độclập trước ảnhhưởng Trungquốc.
Đốivới những người nghiêncứu ngônngữ lịchsử Trung–Việt, dù chấpnhận hay không giảthiết NamÁ, khungphântích của nó vẫncó giátrị. Các lýthuyếtgia phươngTây đã đềxuất nhiều môhình táobạo về nhânchủng Việtcổ, thường dựatrên huyếtthống ditruyền theo dòng cha hoặc dòng mẹ. Tươngtự như trườnghợp Đàiloan, ngườiViệt cổ nênđược nhìnnhận như một hỗnhợp chủngtộc giữa các nhóm dicư BáchViệt–Tần và BáchViệt–Hán từ Hoanam, kếthôn với phụnữ bảnđịa thuộc dòng BáchViệt tại xứ Annam thờicổ. Môhình này không chỉ ápdụng cho người Việtnam hiệnđại mà còn cho nhiều tộcngười trong lãnhthổ Trungquốc, đặcbiệt là các nhóm miềnNam cưtrú từ lưuvực Trườnggiang đến vùngbiên của Chiêmthành cổ như Chânlạp và Lâmấp.
Ngàynay, cưdân Hoanam hiểnnhiên là một hỗnhợp nhiều giaitầng, được địnhhình bởi nhiều thếkỷ Hánhoá. Nóicáchkhác, dù “Tầnhoá” (như người ở Thiểmtây 陜西), “Đườnghoá” (như người Quảngđông tựgọi mình là “Đườngnhân” 唐人), hay “Hánhoá” theo nghĩa rộng, các căngtính này đều phảnánh những lớp trầmtích vănhoá. Trongkhi các thuậtngữ như ngườiTần (秦人, HV Tầnnhân) phânbiệt họ với các nhóm khác như Hán hay Tày (Dai), thì những cáchgọi như “ngườiTàu” trong tiếngViệt cólẽ phátsinh từ ngườiTiều (Triềuchâu), nay đều dùng để chỉ người Trungquốc.
Trái với các nhóm nhânchủng phương Nam, dâncư Hoabắc nói nhiều phươngngữ thuộc phạmvi tiếng Quanthoại phươngbắc, trảidài từ Đôngbắc đến Tâynam lụcđịa Trungquốc. Quanthoại, tuy thường đượcxem như một chuẩnthốngnhất, thựcchất là một chùm phươngngữ khácbiệt đángkể và táchbiệt rõrệt khỏi các phươngngữ ĐôngNam, chẳnghạn Thiểmtây, Sơnđông, Sơntây sovới Tứxuyên và Quảngtây.
Ngượclại, tiếng Phúckiến và Quảngđông pháttriển từ các tầng ngônngữ Háncổ chồnglên nền BáchViệt bảnđịa, đặcbiệt trong thời Triệu Đà trịvì Vươngquốc NamViệt. Các ngônngữ phươngnam này tiếntriển songhành với Quanthoại, vốn bắtnguồn từ Háncổ và Hántrung. Tuynhiên, Quanthoại phảnánh thóiquen ngônngữ của cưdân Hoabắc (華北), một vùng lịchsử khácbiệt với Hoanam.
Về dântộc, người Hoabắc từ lâu baogồm các thànhphần Altaic, Turkic và Môngcổ. Nhiều nhóm trong số này dần bị Hánhoá và trởthành mộtphần của căngtính Trungquốc rộnghơn. Dâncư này cũng baogồm người Mãn và Triềutiên, có tổtiên cưtrú ở phíabắc Sông Hoànghà, từ thảonguyên Môngcổ đến rừng taiga Siberia. Các nhóm này — đượcbiếtđến trong sửsách Trungquốc như Hungnô, Nguyên, Kim và Mãnchâu — đã gópphần tạonên cơcấu sinhhọc và vănhoá phứctạp của Hoabắc. Như Peter A. Boodburst trong Turk, Aryan and Chinese in Ancient China (1942) và Alvin P. Cohen (1979) tổnghợp, dâncư phươngbắc được địnhhình qua nhiều thếkỷ di cư, chinhphục và đồnghoá.
Tómlại, dâncư Hoabắc là một hỗnhợp sinhhọc giữa các nhóm Thổ-Mông (Turco‑Mongolic) gốc Altaic, chồnglên các lớp BáchViệt–Taic đã được Hánhoá từ thời Hán trởđi.
Tươngtự như các thuậtngữ “American”, “European”, “Hispanic” hay “Latinx”, khái niệm “Chinese” — hay “Hán”, xét theo gócđộ quốcgia — đượcdùng đểchỉ côngdân Trungquốc trong phạmvi lãnhthổ chínhtrị của họ, với nhiều tộcngười được gomchung vàotrong một “thau salát”. Để táchbiệt các thànhphần tổtiên, các xétnghiệm DNA thươngmại cóthể nhậndiện — điều từng gây bấtmãn cho nhiều ngườiHoa hảingoại thếhệ đầu (những người dicư trước 6/4/1989, trướckhi sốlượng lớn cưdân Hoabắc sang Mỹ và châuÂu), khi họ pháthiện mình không thuần “Hán”.
Tổngthể mà nói, người Hán không tạothành một “chủngtộc Hán” tươngđương với khái niệm “Asian race”. Nói cách khác, không tồntại một chủngloại sinhhọc dànhriêng cho tộc Hán (漢族); đólà một quốctịch, tráivới các nhãn như “Negro”, “Mongoloid”, “African”, “Asian”, “Austronesian” hay “Caucasian”.
Cụthể hơn, bằng đôimắt trần ta cóthể nhậnra sự khácbiệt rõrệt về diệnmạo và thểtrạng giữa người Hoabắc và Hoanam; vócdáng và nétmặt của họ phảnánh các dây ditruyền khácnhau, dù ngườiHán nóichung đãlà một hỗnhợp rấtlớn. Người phươngBắc có xuhướng ancư trong khíhậu khắcnghiệt của Hoabắc, thểhiện qua việc Bắckinh — một pháoluỹ phươngbắc — được chọn làm thủđô từ thời Minh thếkỷ XV. Sau nhiều thếkỷ caitrị Trungquốc cùng các lãnhthổ sápnhập như Tâytạng, Tâncương (Uyghur) và Vânnam, họ khôngbị hấpdẫn bởi khíhậu của “mùaxuân vĩnhcửu” của Vânnam, nơi từng tồntại các quốcgia Namchiếu và Đạilý ở vùng TâyNam Đếquốc Đại Đường.
Trong nghĩa hẹp của phânloại chủngtộc, sựhìnhthành của dântộc Hán (漢族), thường đượcgọilà “ngườiTrungquốc”, là kếtquả của một quátrình hỗnhợp lâuđời giữa nhiều nhóm tộcngười có nguồngốc từ các vùng cưtrú bảnđịa trảidài từ tây sang đông và từ bắc xuống nam — dọctheo hai hệthống sông lớnnhất của Trungquốc. Ngàynay, Trungquốc chínhthức côngnhận 56 tộcngười thiểusố đã cưtrú trên lụcđịa từ thời cổđại. Sovới các kháiniệm căntính rộnglớn như “European” (Âuchâu) hay “Indo‑European” (Ấn-Âu) , thuậtngữ Hán hay “Chinese” (hoặc “Sinitic”) phảnánh một khungkháiniệm tươngtự. Điều đángchúý là “thựcthể BáchViệt” (Yue) có niênđại sớmhơn cả nhàTần — triềuđại đã đặttên cho Trungquốc và làm phátsinh các thuậtngữ “Sino” và “Sinitic” (Hán).
Sựtiếntriển chủngtộc này khôngchỉ ảnhhưởng đến cưdân Tần nguyênthỉ ở Thiểmtây màcòn đến các cộngđồng đã Hánhoá như tộcngười Mãn, Sơnđông, Bắckinh, Quảngđông (Jyut), Triềuchâu và Phúckiến. Các căntính này ápdụng rộngrãi cho những côngdân Trungquốc tựnhận thuộc dântộc Hán, baogồm cả những cộngđồng nói tiếng Quảngđông và Phúckiến đã Hánhoá hàng thiênniênkỷ, vốncó tổtiên thuộc các tộc thiểusố vẫncòn cưtrú tại Hoanam, đặcbiệt trong số 20 triệu người Choang (Nùng) và nhiều nhóm khác.
Rốtcùng thuậtngữ “Chinese” (Hán hoặc Hoa) chỉ một căntính vănhoá hơn là một phânloại chủngtộc. Tươngtự như kháiniệm “Jewish” (Dothái), việc trởthành “người Trungquốc” gắnliền với truyềnthống chung, sự liêntục lịchsử và thuộcvề một nềnvănminh. Một côngdân Trungquốc thườnglà người có tổtiên thường truytheo dòng phụhệ — phátxuất trong phạmvi lãnhthổ của nước Cộnghoà Nhândân Trunghoa, vùngđất từng đượcgọilà “Trungquốc” (中國, Zhōngguó).
Trong bốicảnh này, “Chinese” thường gợi lên disản của cưdân Hoabắc, những người mởrộng ảnhhưởng xuống phươngNam, thốngnhất từng vùng lãnhthổ. Sựmởrộng này khôngchỉlà khônggian màcòn là vănhoá và hànhchính, địnhhình căntính của nền vănminh Trungquốc thốngnhất.
Lịchsử người Trungquốc cũng được đánhdấu bởi các lànsóng dicư. Qua nhiều thếkỷ, người Trungquốc rờibỏ quêhương để tìm nơi trúẩn hoặc cơhội mới, hoặc do biếnđộng chínhtrị, khókhăn kinh tế hoặc khátvọng tựdo lớn hơn. Môhình lậplại này phảnánh một bảnnăng tậpthể: tìmkiếm những chântrời antoàn và hứahẹn hơn, một lịchsử của dịchchuyển, kiêncường và táitạohóa.
Ở một gócđộ thúvị, người Việtnam ngàycàng xáclập vịthế của mình như một đốithủ khuvực của Trungquốc. Quỹđạo lịchsử của họ — được địnhhình bởi sự khángcự, thíchứng và khẳngđịnh chủquyền — phảnánh nhiều phươngdiện của hànhtrình Trungquốc, nhưng vẫn giữ bảnchất và khátvọng đặctrưng của Việtnam.
Như ở nhiều vùng trên thếgiới, Trungquốc cổđại trảiqua sự chuyểndịch chủngtộc do sựhoàtrộn giữa các tộcngười đadạng. Môhình này lậplại khi cưdân Hán dicư xuống phươngNam, kếthôn với cưdân bảnđịa và dần gópphần hìnhthành dântộc Việtnam. Những người táiđịnhcư này, rờibỏ tầmkiểmsoát của đếquốc Trungquốc, đã xâydựng nền vănminh riêng ở phươngNam, tức Việtnam ngàynay. Thuậtngữ “Việtnam” nghĩalà “người Việt ở phươngNam”, và tổtiên sớmnhất của họ là những người sánglập nước Vănlang (文郎國) đượccholà phátxuất từ lưuvực Sông Hồng. Mộtsố họcgiả chorằng têngọi này cóthể bắtnguồn từ “Binglang” hay “blau”, cóliênquan đến câycau (Areca catechu), tươngtự như nguồngốc tên gọi “Penang” của Malaysia.
Theo thờigian, những ngườiViệt thờitrước này kếthôn với các nhóm Dai từ vùng Tâybắc của miềnBắc Việtnam ngàynay và với các nhóm BáchViệt từ Hoanam dicưđến. Khi các lànsóng BáchViệt tiếntới lưuvực Châuthổ Sông Hồng — cáinôi của Annam cổ — dâncư trởnên ngàycàng đatộc. Ngàynay, các nhóm này được xếploại vào các ngữhệ NamÁ và NamĐảo, baogồm người Môn, Khmer, Daic, Dao, H’Mông, Miêu, Lê và Chăm. Tuynhiên, cách phânloại rộng này bỏqua những nhóm Annam vềsau, vốn không thuộc lớp cưdân bảnđịa sớmnhất, như được chứngminh qua các divật vănhoá khaiquật từ cưtrú của họ (Phan Hữu Dật, 1998, tr. 455–704).
Người Annam cổ dần trởnên hỗnhợp hơn về chủngtộc, đặcbiệt saukhi nhà Hán thôntính Vươngquốc NamViệt vào năm 111 TCN. Mãi đến năm 939 SCN, sau sự sụpđổ của nước NamHán (南漢帝國), người Annam mới chớp thời cơ giành độclập. Trongkhi đó, các nhóm BáchViệt còn ở lại lụcđịa — tổtiên của người Quảngđông và Phúckiến — tiếptục nhận mình là hậuduệ của NamViệt (南越) và MânNam (閩南).
Trong mộtnghìn năm Bắcthuộc, tươngtự như ở Quảngđông và Phúckiến, những lànsóng dicư thời Đường từ Hoanam đã địnhcư đôngđảo tại lưuvực Sông Hồng. Hậuduệ của họ — những người BáchViệt đã Hánhoá chứ khôngthuần bảnđịa — trởthành tổtiên của cả người Việt sơkỳ lẫn người Việt vềsau. Vịvua đầu tiên của nhà Lê, Lê Thái-Tổ, người cógốc Mường do từ căncứ Lamsơn, nơi ông từng là thủlĩnh lãnhđạo cuộc khángchiến chấmdứt 21 năm đôhộ của nhàMinh. Theo thờigian, các dòngdõi này tiếptục hoàtrộn với những lànsóng người Trungquốc khác — baogồm lưuđày, kiềudân, diđân, binh sĩ và dântịnạn chiếntranh — nhiều người trongsốđó vốnlà cưdân bảnđịa hoặc đã Hánhoá tại Hoanam (Phan Hữu Dật, 1998, tr. 483–511).
Những người Trungquốc mới đến này thường mangtheo các địadanh, vídụ: Tỉnh Hàbắc so với Hàbắc (河北省 Héběi), Tỉnh Sơntây so với Sơntây (山西省 Shānxī), Tỉnh Hàđông so với Hàđông (河東省 Hédōng), v.v., cùng các thànhngữ và lối nói. Thí dụ: “sưtử Hàđông” sovới 河東獅子 (“bàvợ sưtử”), “thiếuphụ Namxương” so với 南昌少婦 (“ngườivợ tiếtliệt Namxương”), hay “Sơnđông mãivõ” so với 山東賣武 (“võsĩ đườngphố”). Những yếutố này làm phongphú thêm vốn từ Hán‑Việt và hệthống thànhngữ Việt.
Sựtruyềnthụ vănhoá còn lansang nghệthuật trìnhdiễn, đặcbiệt là hátbội (hátbộ) — loạihình cakịch cố truyềnthống Trunghoa với các vai hoátrang đỏ, trắng, đen, phảnánh rõ ảnhhưởng của các loạihình vọngcổ Trungquốc như Kinhhí (京戲), Việtkịch (粵劇) và Cônkịch (崑劇). Nhiều vởtuồng Việt là chuyểnthể từ các tuồngtích Trungquốc, như Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài (梁山伯和祝英台), Tây thi Phạm Lãi (范蠡 與 西施), Thíchkhách Kinh Kha (荆軻 刺秦), hay Tốngtửu Đơn Hùng Tín (送酒 單雄信). Dù lờica bằng tiếngViệt, cốttruyện vẫn bắtnguồn từ sửtích truyềnthống Trungquốc cổđiển.
Về kýức cánhân, tôi từng đitheo ôngnội đixem hátbội thuởnhỏ. Dù không hiểuđược lờica, nhưng cảnhtrí sânkhấu và các cốttruyện quenthuộc khiến trảinghiệm trởnên thúvị. Cólẽ nhiều khángiả cũng nhưvậy, họ bị cuốnhút khôngphải vì hiểu từng câuhát, mà vì sựcộnghưởng vănhoá từ những câuchuyện họ đã biết. (10)
Sự tươngđồng vănhoá và ngônngữ giữa Việtnam và Trungquốc tuy khôngthể phủnhận, nhưng chúng dừnglại rànhrẽ tại ranhgiới của bảnsắc dântộc — một lằngiới mà người Việtnam giữgìn với niềmkiêuhãnh sâuđậm và niềmtin khônglaychuyển.
Đốivới người Việtnam, bảnsắc dântộc khôngbaogiờ là điều hờhững; nó nhạycảm, đatầng và phứctạp. Tươngtự như cách nhiều người Mỹ gốc Âu vôthức xem disản châuÂu như một điểmtựa tinhthần và vănhoá, bảnsắc Việtnam vậnhành như một độnglực sinhtồn. Cólẽ chính điềunày đã giúp Việtnam trườngtồn như một quốcgia độclập qua nhiều thếkỷ biếnđộng.
Bảnsắc ấy được hunđúc khôngchỉ bởi kýức lịchsử màcòn bởi một chủnghĩadântộc sâuđậm và bềnbỉ, được rèngiũa dưới cái bóng lơlửng của Trungquốc — một lánggiềng khổnglồ thường cho người hàngxóm cảmnhận nó là một mối đedoạ sinhtồn. Dù nhiều người Việtnam thừanhận mốiliênhệ tổtiên với Trungquốc, kinhnghiệm tậpthể của họ đã hunđúc một sựcảnhgiác ănsâu vá tâmkhảm của kýức tậpthể. Lịchsử đã dạy họ rằng gầngũi không đồngnghĩa với tincậy, và tươngđồng vănhoá không xoáđược vếtthương của sựđôhộ.
Tuynhiên cũng chính chủnghĩadântộc này, dùlà nguồn sứcmạnh, cũng làm phứctạp sinhhoạt họcthuật. Tại Việtnam, tìnhcảm yêunước thường xenvào tínhkháchquan khoahọc, đặcbiệt trong các lĩnhvực như lịchsử, ngônngữhọc, và nhânchủnghọc. Bàiviết này nhằm làmrõ những ngộnhận và xáclậplại các điểm cốtlõi trướckhi đisâuvào chủđề từnguyên Hán‑Việt. Giớihọcgiả Việtnam thường bácbỏ mọi gợiý về sựliênhệ với Trungquốc — ngaycả trong ngữcảnh họcthuật — bấtchấp bằngchứng nhânchủng. Chẳnghạn, truyềnthuyết về Thầnnông (神農 nghĩalà “Thần Nôngnghiệp”), được chiasẻ rộngrãi trong các nềnvănhoá Hoanam, nhưng mọi liênhệ với di sản Trungquốc thường bị gạtbỏ; haylà họ phủnhận cái họ (surname) của nhàhọ khôngphải là phiênbản Hán-Việt của chữHán đồngnguyên.
Chủnghĩadântộc ănsâu trong tâmthức người Việt đặcbiệt ở những vấnđề liênquan đến chủquyền quốcgia và Trungquốc. Ngoạigiao thường bị chiphối bởi những bướcđi chiếnlược, khi hai lánggiềng cùng thamgia một váncờ chínhtrị đầy rủiro. Chínhsách đốingoại được kiểmsoát chặtchẽ bởi Bộ Chínhtrị mỗi nước, và dù căngthẳng, khôngbênnào muốn cắtđứt quanhệ, vì cả hai lãnhđạo cộngsản đều cóthể tổnthất nặngnề nếu đốiđầu trựcdiện.
Một sựkiện điểnhình xảyra năm 2014, khi Tổng Côngty Dầukhí Ngoàikhơi Trungquốc triểnkhai giàn khoan Hảidương Thạchdu HD‑981 chỉ cách đảo Hảinam 180 hải lý về phía Nam, xâmnhập vào vùng đặcquyền kinhtế của Việtnam gần quầnđảo Hoàngsa. Sựkiện kéodài từ tháng 5 đến tháng 8 đã châmngòi cho các cuộc biểu tình và bạođộng chếtngười nhằmvào các nhàmáy do người Trungquốc sởhữu trên khắp Việtnam. Những cuộc biểu tình chưatừngcó này rốtcuộc được sửdụng như đònbẩy trong đàmphán ngoạigiao giữa Việtnam và Trungquốc. Sau mỗi vachạm ngoạigiao, dùlà dàndiễn hay tựphát, lãnhđạo Việtnam thường phảnứng kiềmchế, ngaycả sau những hànhđộng khiêukhích. (11)
Trớtrêu thay, saukhi các cuộcbiểutình lắngxuống, nhiều nhàhoạtđộng chống Trungquốc bị bắtgiữ. Mộtsố bỏchạy ra nướcngoài. Chínhphủ Việtnam, vốn luôn cảnhgiác trước mọi hìnhthức bấtđồng côngkhai, đã nhanhchóng trấnáp các cuộc biểutình. Trong một chếđộ cộngsản như Việtnam, các cuộc biểutình — đặcbiệt là nhằmvào Trungquốc — hầunhư khôngbaogiờ được dungthứ. Dù côngchúng đều biếtrõ sựviệc, hànhđộng của nhànước vẫn lậplại môthức quenthuộc: xoadịu ngoạigiao sau khi dưluận bùngnổ. Quanhệ giữa hai lánggiềng trởlại trạngthái hoàhoãn mongmanh nhưcũ, nhưng những mấtmát lãnhthổ trên BiểnĐông xemra đã khôngthể đảongược. Sựkiện này càng chothấy chiềusâu của tâmthái oánhận Trungquốc tronglòng người Việt, và thựctế đáng tiếc rằng côngdân khôngcó quyền pháplý để biểutình ngay cả trước hànhvi xâmlăng từ bênngoài.
Đúngnhư câunói “conchó sắt vẫn cố sủa.” Dù nhiều uỷviên Bộ Chínhtrị không côngkhai thểhiện lậptrường phản‑Trung, những cảmxúc bộcphát trong quầnchúng lại thường trởthành đònbẩy trong đàmphán. Sự thậntrọng của Việtnam cóthể đượchiểu như một trạngthái sẵnsàng chiếnlược trước nguycơ xungđột. Trong vụ giànkhoan năm 2014, rấtít người Việt côngkhai thừanhận disản vănhoá mà đấtnước mình thụhưởng từ Trungquốc. Các thiếtchế như Viện Khổngtử và lànsóng nhàmáy do người Trungquốc sởhữu cùng độingũ côngnhân nhậpcư thườngbị xem đólà mộtphần của chiếnlược bànhtrướng rộnghơn. Đốivới thườngdân, mỗilần quanhệ ngoạigiao có sựrạnnứt với Trungquốc đều do lỗi đốiphương nó ăngian khôngđược thì phá, nó khơidậy một phảnứng bảnnăng, một sựbùngnổ của lòngyêunước và biểutình.
Trong cuộcđấutranh dàidẳng và đớnđau chống lại sựxâmphạm từ phươngBắc, hiếmcó dântộc nào chịu đựng tổnthương tinhthần như Việtnam. Sau một thiênniênkỷ Bắcthuộc, các cuộc biểutình phản‑Trung thườngđược xemnhư những cơngiông thoángqua, ngọnlửa trong đêm bùnglên rồi lịm xuống. Bêntrong, Việtnam cóthể bị chiarẽ bởi thamnhũng và phântách, nhưng khi đốidiện với nguycơ từ Trungquốc, lịchsử đã chứngminh rằng dântộc này sẽ lại đoànkết. Đếnlúc cầnthiết, người Việt sẽ mộtlần nữa đứnglên bảovệ quêhương — như họ vẫnluôn làm.
Đángtiếcthay, những ràngbuộc chínhtrị đã làm suygiảm khảnăng đánhgiá kháchquan các vấnđề lịchsử và họcthuật. Các quansátviên phươngTây cóthể khó nắmbắt chiềusâu của độnglực này — hoặc cóthể họ hiểu. Tháchthức nằm ở việcxâydựng một khungphântích mà giới họcgiả trongnước cóthể chấpnhận, một khung gạnlọc tạpâm chínhtrị và tậptrung vào ngônngữlịchsử. Lẽthường chothấy họcthuật phải phi‑chínhtrị. Thếnhưng, những người mang ýthứchệ cộngsản, khi họ khoác-áo chủnghĩadântộc, thường bácbỏ sựthật để ủnghộ những huyềnthoại nào phùhợp với sởthích ýthứchệ của họ. Nhiều ngườiViệt, chẳnghạn, vẫn tônthờ truyềnthuyết về 18 đời Hùngvương — đúngra là Lạcvương — dù cách xưnggọi khôngnhững vốn đã đọc và viếtsai, niênđại và tuổithọ được thổiphồng đếnmức phi-lịchsử thành chuyệntếulâm. Điềunày phảnánh một vấnđề rộnghơn: chủnghĩadântộc dựatrên huyềnthoại hơn là tưduy phảnbiện, thườngđược củngcố bởi những bậcthầy không truyềnđạt tinhthần nghiêmtúc của sửhọc.
Thậttiếc khi nhiềungười mới bướcvào lĩnhvực từnguyênhọc Hán–Việt của khoa Hán-Nôm lại chạytheo đámđông thayvì tự mởra lốiđi riêng cho mình. Nhiềungười chấpnhận giảthuyết NamÁ Môn‑Khmer do họcgiả phươngTây phổbiến, xem Việtnam như cáinôi của nềnvănminh Đôngdương. Cách tiếpcận này tuy antoàn về mặt họcthuật, nhưng rốtcuộc lại hoàlẫn với các giảthuyết khác, chẳnghạn quanđiểm chorằng NamÁ Môn‑Khmer là một nhánh phátxuất từ tổtiên Taic. Dù đứng trong khung NamÁ hay Hán‑Tạng, nhiều họcgiả vẫn khôngngừng táiđịnhdanh kếtquả để phùhợp với niềmtựhào dântộc — chẳnghạn xem các vănhoá Namđảo như Sahuỳnh và Óc-Eo là “thuầnViệt”, dù niênđại lịchsử không ănkhớp chútnào.
Trước lànsóng chủnghĩa dântộc dângcao, cólẽ điều khônngoan là giữ một chút hàihước và sựtỉnhtáo của người từngtrải để bảovệ sự liêmchính tríthức. Thayvì khuấtphục trước áplực ýthứchệ, họcgiả nên xem NamÁ Môn‑Khmer như mộttrongnhiều lăngkính họcthuật — thíchhợp để khảosát bằng nhãnquan nhânchủng, không phải chínhtrị.
Vìvậy, nghiêncứu ngônngữ phải được cáchly khỏi ảnhhưởng chínhtrị. Họcgiả khôngnên sợ việc dỡbỏ những “thànhluỹ yêunước” do giớihọcgiả dântộcchủnghĩa dựnglên. Nhưng điềunày nói thì dễ, làm thì khó. Không giốngnhư nghệthuật thuầntuý, họcthuật thườngbị cuốnvào nghịtrình chínhtrị. Trong thếgiới hômnay, các chếđộ chuyênchế vẫn sửdụng những côngcụ truyềnthông tinhvi — như Truyềnhình Trungương Trungquốc (CCTV) — để uốnnắn nhậnthức côngchúng trong và ngoài nước, hay thậmchí hànhvi côngchúng. Disản của môhình côngan trị kiểu Xôviết vẫncòn vươngvấn ở Việtnam và Trungquốc, như những đồdư daicứng của thời Chiếntranhlạnh do Bộ Chínhtrị xàonấulại.
Điều cóvẻ nhạycảm về mặt chínhtrị hômnay cóthể trởthành đềtài châmbiếm vào ngàymai. Chẳnghạn, khángiả Trungquốc từng cườinghiêngngả trước các sitcom thời tiền‑Tập môphỏng cuộcsống dưới thời Mao Trạch-Đông. Lịchsử cho thấy ngaycả Tập Cận-Bình rồi cũng cóthể trởthành đối tượng châmbiếm tươngtự.
Chủnghĩacộngsản hiệnđại khácvới các triềuđại phongkiến ởchỗ nó đặt nhiều “vua” — các uỷviên Bộchínhtrị — cùng lên ngồi trên một “ngaivàng băngdài”. Mỗingười có quyềnlực riêng, nhưng luôn dèchừng lẫnnhau. Cả lãnhđạo Trungquốc lẫn Việtnam đều bámchặt ýthứchệ cộngsản vì nó hợppháphoá quyềnlực của họ trong thếgiới hậu‑Xôviết. Sựtồntại của họ phụthuộc lẫnnhau, gợilại những chiếnlược phongkiến từng dùng để mêhoặc quầnchúng. Dưới vỏbọc “thịtrường xãhộichủnghĩa địnhhướng”, Việtnam và Trungquốc đã tạora một dạng tân‑phongkiến thếkỷ XXI — thựcdụng hơn Cuba hay Triềutiên, nhưng vẫn dựatrên sựkiểmsoát chuyênchế. (12)
Trong năm 2017, khi lưutrú tại một kháchsạn thuộc trungtâm hộinghị ở một thànhphố duyênhải Trungquốc, lúcbắtđầu tácgiả vẫn gửiđược tinnhắn tiếngAnh qua Viber — từ năm 2019 vềsau không xàiđược nữa — cho một người emhọ đang dulịch tại Nhậtbản, nhưng ngaysaukhi soạn một tinnhắn bằng tiếngViệt thì bị chặn hoàntoàn! Thêmvàođó, tácgiả còn gặp hạnchế khi truycập Youku — phiênbản YouTube của Trungquốc — với thôngbáo: “Điệnthoại của bạn chưa đăngký.” Ở Trungquốc, cũngnhư tại Việtnam, mọi SIM điệnthoại đềuphải đăngký bằng giấy tờ tuỳthân như căncước hay hộchiếu. Những người bịxem là “khôngđángtincậy” sẽ bị liệtvào danh sổđen và khôngthể đặtvé tàulửa hay máybay.
Saukhi dịch COVID‑19 bùngphát tại Vũhán, có tin khoảng 30 triệu số điệnthoại diđộng đã biếnmất khỏi hệthống điệnthoại. Trong một chếđộ hàkhắc nhưvậy, hiếm ai dám tháchthức hiệntrạng. Hồngkông là một vídụ điểnhình: gần 3 triệu cưdân đang tìmcách rờibỏ lãnhthổ conrơi này.
Trong một xãhội bị kiểmsoát bởi nhànước, bên cạnh bộmáy côngan và quânđội hữuhình, còn có một tầnglớp đặcquyền hoạtđộng của giới cầmbút thượngtầng, hưởnglợi bằngcách phụcvụ tôsonđiểmphấn cho chếđộ. Trongsốđó có giớihọcgiả thuộc cácngành họcthuật, nhữngngười khôngchỉ đóng vaitrò tríthức mà cònlà côngcụ ýthứchệ. Họ thường hoạtđộng như các cánbộ chínhtrị, có tráchnhiệm giámhộ diễnngôn của chếđộ và đảmbảo sựtuânthủ ýthứchệ tuyệtđối. Các ưuđãi dànhcho sựtrungthành chínhtrị được điềutiết bằng môthức “câygậy và củcàrốt” quenthuộc.
Trong các lĩnhvực họcthuật, đặcbiệt là những ngành nhạycảm chínhtrị như ngônngữhọc liênquan đến Trungquốc, baogồm cả từnguyên Hán‑Việt, áplực chínhtrị và lịchsử tấtyếu làm suygiảm tínhkháchquan. Điều này đúng trong quákhứ và vẫn đúng chođến hômnay. Tại cả Trungquốc lẫn Việtnam, sựcanthiệp chínhtrị vào họcthuật đã bàomòn niềmtin vào sựliêmchính của các banngành họcthuật.
Lịchsử, khi được ghichép chínhthức, thường phảnánh quanđiểm của ngườicầmbút. Ở Việtnam, các tườngthuật lịchsử đã nhiều lần bị viếtlại bởi các triềuđại tiếpnối nhau, và đỉnhđiểm là chếđộ cộngsản hiệnnay — một dạng quânchủ hiệnđại. Điều đượcviết hômnay sẽ trởthành “sựthật” mà các thếhệ mai sau thừanhận.
Trong kỷnguyên kỹthuậtsố, dù internet mởra khảnăng tiếpcận thôngtin chưatừngcó trong lịchsử loàingười, nó đồngthời đặt ngườidùng dưới sựgiámsát chặtchẽ của chếđộ. Đốivới thườngdân cốgắng hìnhthành quanđiểm độclập về những chủđề bị chínhtrịhoá như lịchsử, sựẩndanh khônghề đảmbảo antoàn. Ngaycả khi dùng bútdanh trên blog hay mạngxãhội, họ vẫn nằm trong tầm theodõi của nhànước.
Đến năm 2015, Trungquốc đã hoàntất việc thaythế tấtcả các nềntảng toàncầu như Yahoo, Google, YouTube, Facebook và Twitter bằng các dịchvụ nộiđịa, saukhi ápđặt một trong những hệthống kiểmduyệt internet nghiêmngặt nhất thếgiới. Ứngdụng Microsoft (MS) vẫncòn sửdụng được nhưng bị hạnchế, thídụ, bạn thử thử truycập Bing hay truyvấn Copilot về cá đềtài chínhtrị xem, ta sẽ thấy chúng sẽ đitheo phe dùng tiềntài để làm áplực chínhtrị. Việtnam đang họchỏi thói này của bộmáy côngantrị của Trungquốc, rõràng chuyện này ai cũng biết, biếthết. Các quyđịnh chặtchẻ về việc sửdụng thôngtinmạng buộc ngườidùng phải đăngký bằng tênthật, và các mạng riêng ảo (VPN) thườngxuyên bị chặnphá Ngaycả các nền tảng nộiđịa như WeChat cũngbị giámsát chặtchẽ.
Trước năm 2014, các côngty như Yahoo và Google vẫn hoạtđộng tại Trungquốc dưới các thoảthuận tựkiểmduyệt, điềuchỉnh kếtquả tìmkiếm theo yêucầu của chínhphủ. Chẳnghạn, kếtquả tìmkiếm “Thiênanmôn” chỉ hiểnthị thôngtin dulịch và hìnhảnh phongcảnh — tuyệtnhiên khôngcó nhắcđến cuộc biểutình sinhviên hay sựkiện tháng 6 năm 1989. Tại Hồng Kông, vào đầu thậpniên 2010, chínhquyền đã bắtđầu đànáp kýức tậpthể về cuộcthảmsát Thiênanmôn. Các bảotàng tưởngniệm phongtrào Tứlụcbátcửu (6/4/89) bịbuộc đóngcửa, và các nhàsách trong sânbay hồiđó bị mua lại để ngăn du khách từ Hoalục tiếpcận tài liệu nhạycảm chínhtrị. Ngàynay nhàsách nào cũngnhư nhàsách ở Hoalục.
Năm 2016, trong một độngthái rùngrợn, chínhquyền Trungquốc bắtcóc sáu nhàxuấtbản Hồng Kông chuyên inấn sách phêphán giới lãnhđạo Trungquốc. Sau một năm biểutình liêntục trong năm 2019, Bắckinh đáptrả bằng việc banhành Luật Anninh Quốcgia ápdụng cho Hồng Kông vào tháng 8 năm 2020 — một đạoluật được thiếtkế riêng cho vùng lãnhthổ này. Luật này đã kíchhoạt một lànsóng tháochạy, với ướctính khoảng 3 triệu người Hồng Kông tìmcách vượtthoát tỵnạn ở nướcngoài.
Những sựkiện nhưvậy chothấy sựkhácbiệt sâusắc giữa cách ngườidân Trungquốc cảmnhận sựđànáp chínhtrị và cách phươngTây hiểu về nó. Dù giới cóhọc cóthể biếtđến các sựkiện này, mứcđộ thấuhiểu — và khảnăng liênhệ với trảinghiệm của những người bị ảnhhưởng — vẫnlà một câuhỏi bỏngỏ.
Khôngcógì ngạcnhiên khi trong các xãhội chuyênchế, niềmtin côngchúng vào những người có thẩmquyền — như côngan, quanchức hay viênchức — thường bị bàomòn. Nhiềungười trongsố họ phấtlên là nhờ hệthống, hưởnglợi từ thamnhũng và phephái, trongkhi dânchúng gánhchịu. Trong những chếđộ nhưvậy, các cơquan tuyêntruyền đảmbảo phúclợi cho giới họcgiả, và đổilại họ được kỳvọng cangợi chínhphủ như “cứutinh của dântộc”, dù họ có tin hay chỉ sợ bị trừngphạt. Như đượcthấy trong các tướctác của Giáosư Phan Hữu Dật (1928–2019), sự tuânphục ýthứchệ mà tríthức bị épbuộc phải thểhiện cóthể gây buồnnôn. Tại cả Việtnam và Trungquốc, những họcgiả khôngthể nói tốt về đảng cầmbút thường chọn tháiđộ imlặng để tựbảovệ bảnthân. Chỉ một phátngôn “khôngtínhđảng” cũng cóthể khiến họ mấtviệc, mất tựdo, thậmchí mấtmạng, thídụ vụbắtcóc một nhânvật chốngchínhphủ ngaytại Cộnghoà Liênbang Đức hơn 15 trướcđây, do lệnh của ai thì ai cũng biết rồi.
Bầukhôngkhí đànáp này đã dẫnđến một lànsóng bắtbớ nhằmvào nhàbáo, blogger, ngườisángtạomạng, nhạcsĩ, sinhhọc, và nhiều ngườikhác, khôngchỉ giớihạn tronggiới các nhàhoạtđộng nhânquyền, bấtkỳai thamgia biểutình hoặc lêntiếng phảnđối chủnghĩa bànhtrướng của Trungquốc. Đặcbiệt trong các năm 2013 và 2014, các cuộcbiểutình rộngkhắp đã thuhút sựchúý của quốctế. Những quyềntựdo mà các nước dânchủ phươngTây đang hưởng vẫn là một đặcquyền xaxỉ đốivới thườngdân tại Trungquốc hay Việtnam. Bằngchứng về sựđànáp chínhtrị này cóthể dễdàng tìmthấy trênmạng, nhưng liệu có ai quantâm?
Đôikhi, những nhânvật đàothoát nổitiếng từtrong các chếđộ này tìmđược nơi lưuvong ở phươngTây và được mời phátbiểu tại các diễnđàn, chiasẻ lýdo họ phải trốnchạy. Những lờichứng này thường gâysốc cho khángiả phươngTây. Các trườnghợp như nhàvirushọc Trungquốc Lý Mộng-Diên với cáobuộc về việc cốý pháttán COVID‑19 từ phòngthínghiệm Vũhán, sựđànáp các họcviên Phápluâncông, hay việc giamgiữ hơn một triệu người Duyngônhĩ (Uyghur) trong các trại tậptrung Tâncương — tấtcả đều chothấy mứcđộ nghiêmtrọng của tìnhhình.
Làm vấnnạn thêm phứctạp, chủnghĩadântộc trong giới họcgiả trongnước thường làmmờ phánđoán của họ, ngaycả khi họ cầmbút phụcvụ cho giớithượngtầng với vaitrò những nhàlýluận. Ảnhhưởng của họ khônghề nhỏ. Họ đã địnhhình nhậnthức của nhiều thếhệ họcsinh về bảnsắc dântộc, quákhứ và hiệntại, thôngqua các tướctác của những nhânvật được chếđộ nuôidưỡng như Trần Trọng Kim (1883–1953), Đào Duy Anh (1904–1988), Cao Xuân Hạo (1930–2007), Nguyễn Tài Cẩn (1926–2011) và Bùi Khánh Thế (1936–2024). Khi các họcgiả phươngTây hợptác với giớihọcgiả liênkết với nhànước, họ thườngđược cungcấp những tườngthuật phụcvụ lợiích của chếđộ. Vìvậy, họcgiả phươngTây cần vậndụng tưduy phảnbiện nghiêmngặt để giảiđọc những ẩný và mâuthuẫn trong các tàiliệu nhưvậy.
Những người theo chủnghĩadântộc, vì đầuóc thiểncận, thườngxem nềnănhoá đadạng là một mốiđedoạ hơnlà một nguồnsứcmạnh. Nhãnquan của họ hiếmkhi vượtrangoài biêngiới quốcgia, khiến họ khôngthể nhậnrarằng nhậpcư đã thúcđẩy sángtạo, tăngtrưởng kinhtế và sinhkhí vănhoá.
Các quốcgia như Anh, Pháp và Hàlan cũng phải trảgiá đắt cho quákhứ thuộcđịa của mình, khi họ bị biếnđổi bởi lànsóng nhậpcư từ các cựuthuộcđịa ở châu Phi và Á. Ngaycả những nước khôngcó lịchsử thuộcđịa, như Hoakỳ và Úc, cũng đã tiếpnhận lượng lớn ngườitịnạn — điểnhình là lànsóng thuyềnnhân Việtnam thậpniên 1980, đến saukhi chiếntranh Việtnam kếtthúc năm 1975. Những lànsóng này thựcra đã táiđịnhhình bảnsắc quốcgia và làmgiàu cho xãhội sởtại theo những cách mà những người theo chủnghĩadântộc cứngrắn thường khôngthểhiểu.
Hoakỳ, dù có lịchsử tươngđối ngắn chưatới 25o năm, đã trởthành một siêucường toàncầu mộtphần vì thuhút được những bộóc xuấtsắcnhất từ khắpnơi trên thếgiới đến. Ngaycả dưới các chínhsách hạnchế từ năm 2017, đấtnước này vẫn hưởnglợi từ đónggóp của người nhậpcư, baogồm cả giới tinhhoa Trungquốc rờibỏ đặcquyền kinh tế để bắtđầu lại như những côngdân bìnhthường.
Disản của người tịnạn Việtnam tại Hoakỳ đặcbiệt đángchúý. Từ việc giớithiệu món phở trứdanh đến việc tiênphong trong côngnghệ quânsự quốcphòng — chẳnghạn loại bomthôngminh có khảnăng xuyênphá hầm ngầm do một nhàkhoahọc nữ, trẻ gốcViệt phátminh — ảnhhưởng của họ vừa mang tínhvănhoá vừa mang tínhchiếnlược.
Quyếtđịnh bướcngoặt của Đức vào năm 2015 khi tiếpnhận hơn mộttriệu ngườitịnạn — chủyếu từ các vùng Trungđông Hồigiáo bị chiếntranh tànphá — đã tạora một tácđộng sâusắc và lâudài đốivới cơcấu dântộc, nềnkinhtế, và kếtcấu xãhội của đấtnước này. Lànsóng người đếntừ những nềnmóng vănhoá đadạng — baogồm thanhniên, phụnữ và trẻem — đã manglại một sựchuyểndịch dânsố đángkể và góp phần hìnhthành một xãhội đavănhoá hơn.
Tuyvậy, quyếtđịnh này khôngchỉlà một hànhđộng rộnglượng hay một bứcbách nhânđạo. Nó còn phảnánh một nỗlực sâusắc nhằm đốidiện với disản lịchsử của chính nước Đức — mộtcách, cólẽ, để xoadịu lươngtâm quốcgia vẫncòn ámảnh bởi những tộilỗi chốnglại nhânloại dưới chếđộ Quốcxã của Hitler trước Thếchiến thứ II. Ở gócđộ này, sựrộngmở của Đức đối với ngườitịnạn cóthể đượcxemnhư mộtphần của môthức rộnghơn trongđó các cườngquốc phươngTây đang đốidiện với hệquả của quákhứ đếquốc.
Tómlại, chủnghĩadântộc có những cănrễ lịchsử gắnchặt với cuộc đấutranh của mỗi quốcgia nhằm xáclập bảnsắc, chủquyền và quyềntựquyết. Nó thường xuấthiện như một phảnứng trước sự đôhộ, chủnghĩa thựcdân hoặc nỗilosợ về hiệntượng xóimòn vănhoá. Trong nhiều trườnghợp, chủnghĩadântộc đã đóng vaitrò làm độnglực thốngnhất mạnhmẽ — quytụ quầnchúng quanh ngônngữ, disản và giátrị chung.
Tuynhiên, disản của nó mang tínhhaimặt. Chủnghĩadântộc cóthể hunđúc sứcmạnh và niềmtựhào, nhưng cũng cóthể nuôidưỡng sựbảothủ, đàothải và chốngđối môhình đachủngtộc đavănhoá. Trong bốicảnh hiệnđại — đặcbiệt tại các xãhội hậu‑thuộcđịa hoặc chuyênchế — chủnghĩa dântộc thường bị nhànước điềukhiển để hợppháphoá quyềnlực chínhtrị. Nó cóthể làmmờ các tinhvi lịchsử, đànáp bấtđồng và bópméo họcthuật — nhấtlà khi giới họcgiả bị épbuộc phải tuânthủ theo khuônphép ýthứchệ.
Saucùng, chủnghĩadântộc vẫnlà một lựclượng mạnhmẽ trong việc địnhhình diễnngôn côngcộng, chínhsách và bảnsắc vănhoá. Quỹđạo lịchsử của nó chothấy cả khảnăng củngcố lẫn xuhướng phântách. Tháchthức nằm ở việc nuôidưỡng một hìnhthức chủnghĩadântộc cóthể dungnạp thểhình đadạng haykhông mà khôngphải hysinh tinhthần sởhữu tưduy phảnbiện hay giátrị dânchủ.
Trong bốicảnh đó, chínhsách tịnạn của các nước phươngTây khôngphải là một trườnghợp đơnlẻ màlà một phần của khuynhhướng toàncầu, trongđó các cựu đếquốc và các nềndânchủ hiệnđại đều đangđược táiđịnhhình bởi lànsóng didân. Tháchthức không nằm ởviệc khángcự sựchuyểndịch này, mà ở cách quảnlý nó mộtcách khônngoan — nhậnra rằng tínhđadạng, khi dunghợp bằng tầmnhìn và lòng nhânái, cóthể trởthành một độnglực mạnhmẽ cho sựtáisinh quốcgia.
Khi trậttự thếgiới chuyểndịch, vịthế của Hoakỳ đã sụtgiảm ở nhiều nơi trên thếgiới — đặcbiệt sau hai chiếnthắng của tổngthống Donald Trump vào các năm 2016 và 2024. Tập Cận-Bình đã nắmlấy cơhội lợidụng yếutố địalý‑chínhtrị toàncầu này để mởrộng tầmảnhhưởng của Trungquốc đến khắpnơi trênthếgiới quaviệc thiếtlập các liênminh chiếnlược với Nga, Ấnđộ và Triềutiên, đồngthời phôdiễn sứcmạnh quânsự ngàycàngtăng như ngườita thấyqua các cuộc duyệtbinh khủng và những độngthái quânsự cứngrắn.
Hànhđộng của Trungquốc phảnánh một sựquyếtđoán ngàycànglớn, khiến nhiều nhàquansát liêntưởng đến sựphụchưng của disản đếquốc Trunghoa, gợilại hàoquang của các triều Hán và Đường. Cóthểnói đây là giaiđoạn bànhtrướng mạnhmẽnhất của Trungquốc kể từ khi chếđộ phongkiến vươngquyền nhàThanh sụpđổ năm 1911. Ngàycàng rõràng rằng chínhquyền Trungquốc đang sửdụng cưỡngbức quânsự đểlàm côngcụ chính để xáclập ưuthế khuvực và đốiphó với các mốinguy lykhai.
Từ tháng 9 năm 2020, Trungquốc đã leothang hiệndiện quânsự quanh Đàiloan, tiếnhành các cuộctậptrận bắnđạnthiệt liêntục và điềuđộng hàng chục phiđội chiếnđấucơ thườngxuyên vượtqua đường trungtuyến của Eobiển Đàiloan — một ranhgiới trướcđây được tôntrọng. Những độngthái này đã trởthành một môthức đedoạ rộnghơn, lênđến đỉnhđiểm trong cuộc tậptrận “Lôiđình Eobiển 2025A” vào tháng 4 năm 2025, baogồm các hoạtđộng hiệpđồng của đoàn thuỷhạm Shandong, các đợt phóngtênlửa chínhxác và các tậpdợt môphỏng phongtoả. Truyềnthông nhànước Trungquốc tiếptục đưara những cảnhcáo cứngrắn nhắm vào Hoakỳ, yêucầu nước này “chớ đùa với lửa” trong việc ủnghộ Đàiloan.
IV) Hướngtới một nềnhọcthuật côngtâm
Tuyvậy, đàchuyểndịch này khôngđược duytrì đồngđều trên mọi lĩnhvực. Trong giới họcthuật chẳnghạn, các Viện Khổngtử do Trungquốc tàitrợ từng mọc lên nhanhchóng trên khắpthếgiới đã đối mặt với lànsóng đóngcửa rộngkhắp do sựlongại về ảnhhưởng ýthứchệ và kiểmduyệt. Trướckia khi thếgiới chưa kịpthời nhậnra hệquả của sựtrỗidậy Trungquốc, các đạihọc phươngtây đãtừng vộivã thànhlập các trungtâm Hánhọc, chútrọng mạnh vào vănhoá và ngônngữ Trungquốc với sựtàitrợ của ngaychính các cơcấu từ bên Hoalục.
Tuynhiên, lànsóng quantâm longại hiệntượng ảnhhưởng tuyêntruyền c3a Trungquốc trànlan này thường diễnra với cáigiá phảitrả là sựthiếusót trong ngànhnghiêncứu từnguyên lịchsử trongnước và tưduy phêphán. Trong lĩnhvực này các họcgiả phải thậntrọng điềuhướng một khônggian họcthuật đãbị chínhtrịhoá nặngnề. Dù mộtsố giảthuyết huyềnbí về nguồngốc Hán của Việtnam vẫncòn tồnđọng, mộtcách tiếpcận tỉnhtáo hơn chophép ta táchbiệt “ngườiHán” khỏi thựcthể “nhànước Trungquốc” và các nhóm cựcđoan đảngđóm. Các nhàngônngữhọc Việtnam, được đàotạo trong hệthống trongnước, thường phải đidây thậntrọng giữa chủnghĩadântộc và nhucầu tránh khiêukhích Trungquốc. Điềunày dẫnđến một môthức phủnhận có tínhchiếnlược đối với ảnhhưởng Trungquốc trong từnguyên tiếngViệt, ngaycả khi họ phải đồngthời làm yênlòng kỳvọng chínhtrị trongnước, vốn vẫn xem Việtnam như một “nước dướicơ” taynon trong quanhệ với phươngBắc.
Để duytrì sựủnghộ của côngchúng, chínhphủ Việtnam địnhkỳ khơidậy diễnngôn dântộc, khiến các họcgiả liênkết với nhànước phải lặplại các chủđề yêunước kẻoquên. Trong bốicảnh nhưvậy, những độtphá chânchính trong lýthuyết Hánngữhọc hiếmkhi vượtrakhỏi các vòng họcthuật khépkín. Thayvào đó, lịchsử bị viếtlại lặpđilặplại để phụcvụ nhucầu của những kẻcầmquyền.
Mặccho sựhiệndiện ngàycàngtăng của Trungquốc trên trườngquốctế, nhiều họcgiả Việtnam vẫn chuyểnhướngsang các khung NamÁ hoặc NamĐảo, được hậuthuẫn bởi các lýthuyết gia phươngtây. Conđường này đượcxemlà antoàn hơnhết, ít nhạycảm chínhtrị chânphươnghơn và dễđược chấpnhận trong giớihọcthuật. Tuyvậy, các họcgiả Việtnam vẫnphải cảnhgiác trước những tưtưởng phóngkhoángtựdo của phươngTây mangtheo sắcthái tânthuộcđịa khi bànvề NamÁ. Tráilại, nhiều họcgiả Việtnam vẫngiữ lậptrường nguyêntắc, khôngchấpnhận các tườngthuật bị ápđặt —cónghĩa đólà một lýthuyết đặtđiều, ngaycả khi điều đó cóthể manglại sựtiệnlợi họcthuật.
Tuynhiên hiểnnhiên là tronglúcnày, đứngvềphía “trườngphái NamÁ” đóng vaitrò như một lốithoát biểutượng cho chủnghĩa dântộc — một sựphảnkháng tríthức trước ảnhhưởng Trungquốc. Tuynhiên, nhiều họcgiả vẫn hoạtđộng dưới sự giámát liêntục, với hoạtđộng trựctuyến dễdàng khiến họ lọtvào tầm rađa của ông Đạica Khổnglồ “Big Brother”.
Đốivới thếhệ dântộcchủnghĩa mới của Việtnam, xincó một lờikêugọi về sựrộngmở tríthức và liêmchính họcthuật. Các bìnhluận trên mạng xãhội thường chothấy sự thiếu nhậnthức về nguyêntắc vôvịlợi và côngtâm trong họcthuật — những nguyêntắc tươngtự như cơchế kiểmsát và đốitrọng tồntại trong các hệthống dânchủ. Từnguyênhọc lịchsử phảiđược tiếpcận bằng lýtrí và kỷluật, bấtkể chủđề được gắn nhãn “Hán”, “Việt”, “BáchViệt” hay “Tháicổ”. Bấtkể chínhsách chínhthức rasao, kýức tậpthể của gần 90 triệu người Việt disản của tổtiên họ vẫn vangvọng trong khônggian — những người trongsuốt thờigian 2.300 năm đã liêntục khángcự và saucùng chiếnthắng trước các cuộc xâmphạm từ phươngBắc.
Đốivới nhiều người thuộc thếhệ lớntuổi ở Việtnam, kýức về thời thơấu sống cạnh những người lánggiềng gốcHoa là những kýức về sựquenthuộc và tôntrọng lẫnnhau, phảnánh tháiđộ của chaông họ trướcđó. Trong côngviệc, trong thươngmại hay trong nghệthuật trìnhdiễn, lòng tửtế và sự trântrọng tinhthần cầncù là những sợichỉđỏ nốikết cácmối quanhệ này. Đối với những didân ngườiHán qua thờigian, trongnước gọilà dântộcHoa, khi họ đã hoànhập hoàntoàn vào xãhội Việtnam thì concháu họ của các thếhệ tiếptheo sẽcòn dễdànghơn trongviệc nhậnmình là ngườiViệt Trảinghiệm sống này củngcố một sựthật đơngiản: khôngcó dòngditruyền nào trên Tráiđất là “thuầnkhiết” cả. Lịchsử loàingười là lịchsử của sựhoàtrộn, dịchchuyển và hoànhập sốngchung.
Để hiểurõhơn quỹđạo pháttriển quốcgia của Việtnam, cóthể nhìn vào quátrình tiếnbộ của Cộnghoà Singapore, nằm ở cựcnam bánđảo Mãlai. Kểtừ khi độclập năm 1965, Singapore được lãnhđạo bởi nhiều đời nguyênthủ gốcHoa, phảnánh cơcấu dântố của quốcgia — với hơn 75% dânsố là ngườiHoa. Mặcdù có nềntảng vănhoá Hoa rõrệt, chínhsách đốingoại của Singapore thường khôngtrùngvới lợiích của Bắckinh, đôikhi còn đóngvaitrò là đốitrọng tỉnhtáo nhất trước thamvọng bànhtrướng của Trungquốc tại ĐôngnamÁ.
Khôngthể phủnhận vaitrò của Thủtướng sánglập Lý Quang Diệu. Dù mang disản Hoa, ông kiênđịnh xâydựng một xãhội đasắctộc gắnkết. Đónggóp của ông đốivới sựchuyểnmình đưa Singapore thành một cườngquốc kinhtế toàncầu gắnliền với nỗlực của toàn thể cộngđồng đadạng. Vídụ này cóýnghĩa đốivới tiếntrình hìnhthành Việtnam, vốn bắtđầu rõnét sau năm 939 dưới triều Ngô Quyền — một vịvua có gốc Hán. Tươngtự Singapore, Việtnam hìnhthành lớnlên với một thựcthể riêngbiệt được nhàonặn bởi sựhoàtrộn giữa yếutố bảnđịa và ngoạilai.
Một phépsosánh khác cóthể được rútra với sựkiện thànhhình Liênbang Mãlai, nơi ngàynay có một bộphận lớn dânsố là hậuduệ người Hoa, ướctính gần một phần ba. Việc hìnhdung lại các kịchbản lịchsử thaythế mởra những giảđịnh thúvị: Điềugì sẽ xảyra nếu Việtnam từng thànhcông thôntính các vùng thuộc bánđảo Đôngdương, baogồm cả Malacca thuộc miềnbắc của bánđảo Mãlai— nơi họ từng tiếnhành chinhphạt năm 1471? Hoặc nếu nhàMinh từng mởrộng quyềnlực xuống các bang Mãlai vào thếkỷ XV? Sốphận của các vươngquốc Chămpa và Khmer là những vídụ cảnhtỉnh về cách các thếlực khuvực cóthể bị tiêudiệt, tiếpthu, hoặc hoànhập.
Những giảđịnh “nếunhư” này nhấnmạnh tính linhhoạt của lịchsử ĐôngnamÁ và sựtươngtác phứctạp giữa dântộc, chủquyền và bảnsắc vănhoá. Chúng cũng làm nổi bật vịthế đặcthù của Việtnam, nó là một quốcgia được hunđúc bởi cả khángcự lẫn thíchứng, tươngtự Singapore nhưng vẫngiữ conđường riêngbiệt.
Trongsố các hậuduệ của người BáchViệt cổ ở miền Nam Trungquốc, chỉcó người Việtnam là đã xâydựng và duytrì được một quốcgia độclập — Việtnam — tại ĐôngnamÁ. Khácvới các cộngđồng BáchViệt cònlại vẫn nằm trong biêngiới Trungquốc, người Việtnam đạidiện cho sựtiếpnối độcnhất của disản BáchViệt (Yue) với một nhànước có chủquyền.
Ngàynay, hậuduệ cònlại của dòng BáchViệt vẫncòn sinhsống tại nhiều vùng Hoanam Trungquốc, điểnhình là gần 20 triệu người Choang(Nùng) tại Khu Tựtrị Choang Quảngtây. Ngoàira, concháu của các nhóm Daic (Tày) bảnđịacổ — nay đã Hánhoá hoàntoàn — vẫn cưtrú tại Quảngđông, Hồnam và Phúckiến. Dù họ tựnhận là người Quảngđông, Hồnam hay Phúckiến, gốcrễ tổtiên của họ vẫn thuộcvề cùng một nền vănhoá BáchViệt (Yue) cổ.
Điềuthúvị là mộtsố cộngđồng Phúckiến và các nhóm dântộcchủnghĩa tại Đàiloan đã bàytỏ sự ngưỡngmộ đối ới quỹđạo vănhoá của Việtnam. Đặcbiệt, họ quantâm đến các cuộc cảicách ngônngữ táobạo của Việtnam — chẳnghạn việc thaythế chữ Hán bằng hệ chữ Latinh — Quốcngữ được xem là một tuyênngôn biểu tượng về quyền tựchủ vănhoá.
Khi Việtnam bướcthẳng rakhỏi cáibóng chiếntranh kéodài suốt thếkỷ XX và bướcvào thiênniênkỷ mới, giớilãnhđạo của đấtnước vẫn giữtháiđộ thậntrọng trong quanhệ với Trungquốc. Cả nhànước lẫn ngườidân đều khôngmuốn mạohiểm gánhchịu một cuộc xungđột mới với ông lánggiềng phươngbắc khổnglồ. Khátvọng hoàbình này phùhợp với mụctiêu rộnglớnhơn là bảovệ chủquyền quốcgia, dù đôilúc khiến Việtnam cóvẻnhư đang ởthế nhunhược hoặc nhượngbộ.
Trong lịchsử cậnđại, Việtnam hầunhư khôngngừng rơivào vòngxoáy chiếntranh suốthơn 300 nămqua, kếtthúc bằng cuộcxungđột lớn cuốicùng vào năm 1989, khi bộđội Việtnam đánhbật chếđộ Khmer Đỏ do Trungquốc hậuthuẫn rakhỏi Kampuchia. Disản chiếntranh này đểlại những vếtthương sâusắc và nó địnhhìnhlại tưduy chiếnlược chiếntranh bậcquốcgia.
Để hiểurõ trọnglượng của chủnghĩadântộc và độnhạycảm chínhtrị trong việc địnhhình quanhệ Việtnam–Trungquốc, đặcbiệt trong các lĩnhvực như từnguyênhọc lịchsử, ta cần nhậnra dòngchảyngầm dưới mốithùhằn lịchsử. Sựcăngthẳng này ảnhhưởng khôngchỉ đến chínhsách đốingoại màcòn đến cả sinhhoạt họcthuật. Chẳnghạn, ngành Hán‑Việt từnguyênhọc thường bị giớihạn bởi bốicảnh songphương, vốnđược kiểmsoát chặtchẽ bởi các cơquan nhànước đươngcục. Những độnglực nhưvậy khôngphải là mới; chúng lặplại trongsuốt nhiều thếkỷ trong lịchsử Việtnam.
Ở bốicảnh đó, chủnghĩadântộc đã âmthầm bópméo tínhkháchquan họcthuật, nhấtlà khi chủđề viếtvề những chuyện liênquan đến disản Trungquốc. Những ngườidântộcchủnghĩa Việtnam ngàynay có xuhướng thủthế và hướngnội hơn các thếhệ trước, điềunày thểhiện trong diễnngôn lịchsử và dưluận côngcộng. Mộtsố khíacạnh của quákhứ — đặcbiệt những phần liênquan đến ảnhhưởng Trungquốc — đã trởthành điều cấmkỵ, bị chegiấu cẩnthận khỏi tầmnhìn chínhthống.
Điềunày thểhiện rõ trong các tranhluận xoayquanh nhânvật Triệu Đà (趙佗 Zhào Tuó, 207–111 TCN), một viêntướng nhàTần đến từ vùng Hàbắc ngàynay, người sánglập triềuđại nhà Triệu và trịvì nước NamViệt suốt 94 năm. Dù ông giữ vaitrò nềnmóng trong giaiđoạn sơkhai của quốcgia Việtnam, vàolúcđó là một phần của Vươngquốc NamViệt, thếhệ trẻ ngàycàng bácbỏ disản của ông, xemđó như một lời nhắcnhở khóchịu về sựcanthiệp của Trungquốc vào nguồngốc Việtnam. (14)
Những phảnứng nhưvậy chothấy sựtươngtác phứctạp giữa chủnghĩa dântộc, kýức lịchsử và họcthuật tại Việtnam ngàynay. Tháchthức nằmở việc điềuhướng những chủđề nhạycảm này mà vẫnphải cố giữđược sựtrungthực tríthức và mứcđộ minhbạch lịchsử.
Cuộc chuyểndịch cáchmạng từ hệ chữ Hán sang hệ chữ Latinh đã làm thayđổi sâusắc cảnhquan vănhoá và lịchsử của Việtnam. Hậuquả là người Việt hiệnđại, đasố chỉcó hiểubiết rất hạnchế về chữ Háncổ, ngàycàng táchrời khỏi các nguồntưliệu nguyênthỉ từnglà nềntảng của kýức dântộc. Thiếuvắng khảnăng tiếpcận trựctiếp các vănbản cổ, nhiều người phải dựadẫm vào các phiênbản lịchsử do nhànước kiểmsoát, vốn đã nhiềulần được biênsoạnlại để phùhợp với ưutiên ýthứchệ của từng chếđộ.
Trong lịchsử Trungquốc và Việtnam, một môthức lặplại: mỗikhi có triềuđại hay chếđộ mới, lịchsử lại được viếtlại để phùhợp với tưduy chínhtrị đươngthời. Những phiênbản lịchsử được điềuchỉnh này thường được thếhệ trẻ tiếpthu mà khôngnghivấn. Điều ta chứngkiến hômnay khôngchỉ là sựtiếnbộ của diễngiải lịchsử, mà là sựtáitạohóa có chủđích của kýức quốcgia, nơi ýđồ chínhtrị quyếtđịnh cáigì đượcxemlà “sựthật”.
Một vídụ điểnhình nằm ở sựthayđổi vịthế của các địađiểm lịchsử như hang Pác-Bó và Ải Namquan (南關). Pác-Bó, vốn thuộc lãnhthổ Việtnam, đượcxem như thánhđịa nơi Chủtịch Hồ Chí Minh và Đạitướng Võ Nguyên Giáp khởiđộng phongtrào cáchmạng chống Pháp, dẫnđến chiếnthắng Điện Biên Phủ năm 1954 của Việtminh. Tươngtự, Ải Namquan — từxưanay đượcgiảngdạy trong nhàtrường như biểutượng nơi quândân Việt chặnđứng các cuộc xâmphạm từ phươngBắc — từng là ranhgiới lịchsử giữa hai nước. Thếmà ngàynay, cả hai địađiểm đều nằmsâu hơn hai kilômét trong lãnhthổ Trungquốc saukhi các hiệpđịnh biêngiới đã lặnglẽ điềuchỉnh lại đường biên của Việtnam.
Những nhượngbộ lãnhthổ này khôngphải là trườnghợp đơnlẻ. Lịchsử hiệnđại của Việtnam được đánhdấu bởi hàngloạt vachạm với Trungquốc: cuộcchiến biêngiới 6 tháng năm 1979, hảichiến Hoàngsa năm 1974 (liênquan đến hảiquân VNCH được Mỹ hậuthuẫn), giaotranh BiểnĐông năm 1984 và các căngthẳng giaiđoạn 2012–2014 kếtiếp. Mỗi sựkiện phảnánh một chukỳ căngthẳng và nhânnhượng, được địnhhình bởi thựctế địalý‑chínhtrị khi phải đốidiện với một lánggiềng mạnhhơn và mang danhnghĩa tình “đồngchí”.
Nhiều sựkiện trongsốnày dần biếnmất khỏi diễnngôn chínhthức, bị lượcbỏ khỏi sáchgiáokhoa hoặc được diễngiải lại để bớt tính nhạycảm và phùhợp với đốingoại. Suốt gần 50 năm kểtừ khi chiếntranh Việtnam kếtthúc, lậptrường của Việtnam đối với Trungquốc liêntục đuđưa giữa sự dèdặt và phảnkháng âmthầm, tuỳthuộc vào nộitình chínhtrị và mứcđộ gắnkết với Bắckinh.
Sựcânbằng này thểhiện rõ trong giaiđoạn Việtnam hélộ cảicách chínhtrị vào các năm 2011, 2012 và 2014. Trong những năm này, chínhphủ thửnghiệm mởcửa chínhtrị, nhưng lại đànáp mạnh các cuộc biểutình phản‑Trung bùngnổ trên toànquốc. Đặcbiệt kỳlạ là trong các chuyến viếngthăm của quanchức Trungquốc, nhiều nghithức đóntiếp lại treocờ Trungquốc có sáu ngôisao vàng thayvì năm, khiến dưluận mạng dấylên nghivấn. Ngôisao thứsáu bịhiểu là ámchỉ rằng Việtnam là một tỉnh hay ítra là một chưhầu của Trungquốc.
Những sựkiện nhưvậy chothấy bảnchất mongmanh và đầy mâuthuẫn của quanhệ Việtnam–Trungquốc. Bêndưới bềmặt ngoạigiao là một cuộc vậtlộn phứctạp giữa việc giữgìn tựtôn dântộc và việc điềuhướng thựctế quyềnlực trong khuvực. Khi lịchsử tiếptục bị viếtlại, tháchthức vẫncònđó: làmsao tôntrọng quákhứ mà không để nó bị hysinh cho sựtiệnlợi chínhtrị.

Hình 5.3 – Việtnam chàomừng Tổngbíthư Trungquốc Tập Cận‑Bình bằng các bảntin truyềnhình chiếu cảnh họcsinh vẫy những lá cờđỏ sáu‑sao của Trungquốc.
(Nguồn: http://danlambaovn.blogspot.com/2011/12/mon-qua-trieu-cong-danh-cho-thai-tu-tap.html)
Thậtdễhiểu khi nhiều ngườitrẻ Việtnam ngàynay gặp khókhăn trongviệc hoàgiải tinhthần chủnghĩadântộc mạnhmẽ của mình với vaitrò lịchsử mà Vua Triệu Đà đã đónggóp trong việc địnhhình những nềntảng sơkhai của nhànước Việtnam. Là một cựu tướnglãnh của nhàTần, Triệu Đà đã thànhlập Vươngquốc NamViệt, một thựcthể thốngnhất baogồm vùng Bắc Việtnam ngàynay cùng các phầnđất thuộc Quảngtây, Quảngđông và Phúckiến ở miền Nam Trungquốc. Vươngquốc này chủyếu kếtnối các nhóm ÂuViệt (甌越), LạcViệt (雒越), cùng những cộngđồng tộcngười có gốcrễ vănhoá ditruyền từ nước Việt (越國), còn gọi là MânViệt (閩越), từ thời Xuânthu (771–476 TCN).
Ngoài hai nhóm nòngcốt này, vànhđai vănhoá Việt (Yue) còn mởrộng đến các cộngđồng Tháicổ‑Việt trong nước Sở (楚國, khoảng 1030–223 TCN) (15) và nước Ngô (吳國), baogồm cả các nhóm Việt phươngBắc (‘Bod’ – ‘Bátính’ 百姓 Bǎixìng) tại vùng Trungnguyên Trungquốc ngàynay. Trong lịchsử, toànbộ miền Nam Trungquốc từnglà lãnhthổ của các nhóm BáchViệt (百越族), một khối cưdân bảnđịa đadạng về ngônngữ và phongtục, dần bị chinhphục bởi các bộtộc dumục Tạng và Altai từ vùng biênviễn tâynam và tâybắc của Trungquốc cổđại. Những kỵbinh này, tổtiên của nhóm tiền‑Hán, vềsau hoàtrộn với cưdân ‘Bod’ BáchViệt bảnđịa, tạonên cộngđồng người Hán.
Môthức hoànhập vănhoá và mởrộng lãnhthổ này lặplại ở phươngNam tại Annam, tứclà Bắc Việtnam ngàynay. Đến cuối thếkỷ XVIII, người Việt đã thôntính Vươngquốc Chămpa và mộtphần lãnhthổ của Vươngquốc Khmer cổ, củngcố quyềnkiểmsoát đốivới vùngđất tạo thành Việtnam hiệnđại. Qua tiếntrình này, ngườiViệt nổilên thành một lựclượng chiếmuưthế trong khuvực, tiếptục một chukỳ lịchsử của chinhphục, hoànhập và hìnhthành bảnsắc — một chukỳ lặplại nhữnggì từngđã xảyra tại miềnNam Trungquốc.

Figure 4: Bảnđồ thời Xuânthu Chiếnquốc vào thếkỷ V tr.TL
(Source: https://en.wikipedia.org/wiki/Chu_(state))
Đốivới họcgiả phươngTây, Việtnam từ lâunay thườngbị xemnhư một “Trungquốc nhỏ”, một tiếngdội vănhoá và chínhtrị của gã lánggiềng phươngBắc. Nhậnđịnh này, được Alan Houghton nêura từ năm 1942, tríchra từ quỹđạo lịchsử của Việtnam: một cựu quậnhuyện của Trungquốc trỗidậy thành một quốcgia độclập sau một thiênniênkỷ bịtrị. Trong thời hiệnđại, sau khi quânđội Pháp rútđi, Việtnam đã chậtvật phụchồi sau nhiều thậpniên chiếntranh. Từ 1954 đến 1989, đấtnước này giữtháiđộ dèdặt trong đốingoại, thường môphỏng môhình chínhtrị của Trungquốc , một hệthống về ýthứchệ mang dángdấp tân‑phongkiến, giờđây đượcgọilà “xãhộichủnghĩa địnhhướng thịtrường”.
Giớilãnhđạo Việtnam nhấtquán giữtháiđộ nhuhoà trước Trungquốc, cẩntrọng tránh khiêukhích trong bốicảnh các tranhchấp biểncả và lãnhthổ vẫn tiếptục leothang. Những căngthẳng này, có nguycơ vượtqua quymô của cuộcchiến biêngiới 1979, đã giữ Việtnam trong một thếthủ bịđộng, một tưthế khiến đấtnước trôngnhư một chưhầu phải népmình trước một “thiêntriều” hùngmạnh.
Khi nhìnlại quákhứ thuộcđịa, các nhà từnguyênhọc trẻ Việtnam ngàynay nhậnra rằng mốiquanhệ giữa Việtnam và Trungquốc có từtrướccả khi Annam trởthành một quận của Đếquốc Hán vào năm 111 TCN. Các cộngđồng Thái-Việt cổ và cưdân của nước Sở cóchung cộinguồn, và chínhhọ đã gópphần vào sựhìnhthành của Đếchế nhàHán cũngnhư cuộcchinhphục nước NamViệt. Việc nhậnbiết mốiliênhệ gốcrễ này là điều thiếtyếu để hiểurõ các kếtnối ngônngữ và vănhoá giữa Háncổ và Việtcổ.
Trongkhi các vùng như Quảngđông (Canton) đã bị Hánhoá hoàntoàn dưới quyền cai trị phươngBắc, Việtnam đã chiếnđấu để giữlại disản Việt (Yue) của mình. Nỗlực này có ýnghĩa sốngcòn trong việc duytrì bảnsắc và chủquyền quốcgia. Để minhhoạ, hãy xét trườnghợp giảđịnh của Quảngđông, tứclà “NamJyut” trong diễnngôn hiệndại. Hãy tự hỏi:
– Quảngđông vào năm 111 TCN trông như thếnào, trướckhi bị hoàntoàn sápnhập vào hệthống đếquốc Hán?
– Nếu thựcthể nầy giốngnhư Annam mà táchra được vào năm 939 SCN sau sựsụpđổ của NamHán, liệu ‘tính vănhoá và ngônngữ’ này sẽ đitheo một quỹđạo độclập nào có giống Việtnam không?
Hai câuhỏi này mởra một lịchsử giảđịnh, trongđó Quảngđông cóthể đã tiếntriển thành một quốcgia độclập tươngtự Việtnam.
Trongkhiđó ta khôngkể các vùng như Quảngtây và Phúckiến, cũng từnglà những thựcthể độclập, rốtcục vẫn bị sápnhập bởi lànsóng bànhtrướng của Trungquốc, đólà hìnhảnh mà cưdân Quảngđông sẽ nhìn chúng như ta nhìn “tỉnh’ Quảngđông qua lăngkính Việtnam ngàynay. Nhưvậy, ngượclại nếu Việtnam không giànhđược chủquyền, đấtnước này cũng sẽ chỉ trởthành một tỉnh nữa trong dải đất phươngNam của Trungquốc.
Bốicảnh lịchsử này giảithích vìsao Trungquốc vẫnxem Việtnam là “quận phảnnghịch”, một tháiđộ trịchthượng đã tồntại hàng thếkỷ. Liệurằng giớilãnhđạo Việtnam hiệnđại có thể trụvững trước những áplực trong tươnglai từ người lánggiềng hùngmạnh haykhông vẫncòn là một câuhỏi bỏngỏ. Mức rủiro là rấtlớn, và conđường phía trước đầyrẫy những ẩnkhúc phứctạp địalý‑chínhtrị.
Bảng 2 – Trườnghợp của Đàiloan
Hànhtrình đi đến chủquyền trênthựctế của Đàiloan được đánhdấu bởi một lịchsử phứctạp và nhiều giaiđoạn. Dù từng bị các cườngquốc châuÂu chiếmđóng trong thờigian ngắn — baogồm cả một giaiđoạn có sựhiệndiện của Hoàlan — những ràngbuộc lịchsử lâudài hơn bắtđầu khi hònđảo được sápnhập vào Đếquốc nhàThanh, nơi nó giữ thânphận chưhầu trong khoảng 350 năm. Sauđó là 50 năm thuộcđịa Nhậtbản, chấmdứt vào tháng 8 năm 1945 khi Nhật đầuhàng trong Thếchiến II.
Trướckhi Mao Trạch‑Đông tuyênbố thànhlập nước Cộnghoà Nhândân Trunghoa vào ngày 1 tháng 10 năm 1949, Đàiloan đã được Chínhphủ Trunghoa Dânquốc của Tưởng Giới‑Thạch tiếpquản. Kểtừ đó, hònđảo vậnhành độclập, và đángchúý là Đảng Cộngsản Trungquốc chưa từng caiquản Đàiloan, dù chỉ một ngày.
Ngàynay, Đàiloan tiếptục khẳngđịnh tựchủ của mình giữa áplực ngàycàng tăng từ Bắckinh. Khi Chủtịch Tập Cận‑Bình đã bướcqua tuổi 73 và nhiềulần đedoạ “thốngnhất bằng vũlực”, câuhỏi đặtra là liệu sứcbền dânchủ của Đàiloan có thể vượtqua vươngtriều của ông haykhông, và liệu những đedoạ ấy có trởthành hiệnthực trong các thậpniên tới.
Khi gầntới phần kếtluận của khảocứu này, đã đếnlúc ta trởlại trọngtâm ngônngữhọc lịchsử, nềntảng cốtlõi của từnguyênhọc lịchsử Việtnam. Trongviệc xemxét lại khung Hán-Tạng (Sino-Tibetan), xin mời hãy suyngẫm sâuhơn về các môthức từnguyên cóthể soisáng cách ta hiểurõ disản ngônngữ của Việtnam. Dù thuyết NamÁ vẫnlà một giảthuyết thaythế quantrọng — đặcbiệt trongviệc truydấu các ảnhhưởng hấpthu từ người Chăm và Khmer trong quátrình Namtiến — ngàycàng hiệnrõ ra nhiều đơnvị từvựng lõi của tiếngViệt phùhợp chặtchẽ hơn với gốcrễ Sinitic‑Tibetan.
Những người phêphán gócnhìn này cóthể vẫn không bị thuyếtphục, nhưng nhiệmvụ của ta khôngphải là thuyếtphục tấtcả; màlà theođuổi chứngcứ với tinhthần nghiêmtúc và kỷluật tríthức. Từ gócđộ dântộcchủnghĩa, đặcbiệt trong bốicảnh chốnglại chủnghĩabáquyền Trungquốc, điều quantrọng đốivới các họcgiả trẻ trong lĩnhvực Hán‑Việt là phải nắmbắt được ýnghĩa rộnghơn của các lýthuyết ngônngữ này trong khung Hánhọc (Sinology). Điềunày càng quantrọnghơn đốivới những người Tâyhọc, nơi họcthuật ít bị ràngbuộc bởi ýthứchệ nhànước.
Có cơsở để hyvọng rằng, ngay trong thếhệ này, những người dântộcchủnghĩa Việtnam khi trởthành họcgiả sẽ quaylại xemxét các lýthuyết này mộtcách chânthành, kếthợp lòng áiquốc với camkết đốivới sựthật. Sựtổnghợp này sẽ làmgiàu cho cả bảnsắc dântộc lẫn tínhliêmchính họcthuật.
Như mọi ngônngữ khác, tiếngViệt được hìnhthành từ đónggóp của nhiều cộngđồng dântộc khácnhau. Để minhhoạ, hãy xét trườnghợp người Mỹ gốc Âu. Dù có tổtiên từ châuÂu, nhiều người mấtdấu gốcgác chỉ sau vài thếhệ. Tuyvậy, sựđứtđoạn này hiếmkhi bị xem là vấnđề trong xãhội phươngTây. Thựctế, nó phảnánh câu chuyện lịchsử rộnghơn của Hợpchủngquốc, là một quốcgia do hậuduệ người Anh sánglập, nhưng rồi lại chiếnđấu để giành độclập khỏi chính quêhương tổtiên của họ.
Phépsosánh này nêubật một sựthật cơbản: tiếntrình tiếnhoá vănhoá và ngônngữ là tấtyếu và có tínhcách làmgiàu thêm, trong trườnghợp này là ngônngữ bảnngữ. Cũng như ngườiMỹ đã pháttriển một bảnsắc riêng táchkhỏi gốc Âu, các họcgiả Việtnam cóthể tựtin chấpnhận tính tầnglớp phứctạp của disản ngônngữ mình mà không hề tổnthương lòng tựhào dântộc. (16)
Tươngtự, việc người Việtnam thừanhận mốiliênhệ tổtiên với vùng Hoanam khôngnên bị xemlà điều gây tranhcãi. Qua nhiều thếhệ, các dònghọ đã dịchchuyển và hoàtrộn qua biêngiới; việc nhậnbiết những nguồngốc này, dù gần hay xa, manglại giátrị nhânchủnghọc quantrọng. Thayvì làm suygiảm bảnsắc BáchViệt, sựnhậnthức này mỏrộng sựhiểubiết về cách các sợichỉ vănhoá và ngônngữ đã dệt nên tiếntrình hìnhthành dântộc.
Để hiểurõ hơn tiếntrình tiếnhoá ngônngữ của tiếngViệt, đặcbiệt trong quanhệ với các phươngngữ Hán, ta cóthể dùng phépsosánh với sựpháttriển của tiếngAnh tại California. Cũng như Annam cổ từng là một quận của Trungquốc trong nhiều thếkỷ, California hiệnđại đã trảiqua một quátrình biếnđổi ngônngữ do lànsóng didân và hoàtrộn vănhoá. “California English”, tuy dựatrên tiếngAnh chuẩn của Mỹ, đã hìnhthành những đặcđiểm riêng nhờ cộngđồng cưdân đadạng đónggóp: Âu, Mễ, Nhật, Phi, Hoa, Hàn, Việt. Lịchsử gắnbó với Mễtâycơ và lànsóng didân từ châuMỹ Latinh ngàycàng làmgiàuthêm cảnhquan ngônngữ của tiểubang nầy. Kếtquả là một giọngđiệu và từvựng vùngmiền mà cưdân tựhào gọi là “California English”, phânbiệt rõ với Bostonian hay Texan English.
Hiệntượng này phảnánh điều cóthể đã xảyra với “tiếngAnnam” sauhơn 1000 năm Bắcthuộc, rồi thêm gần 1100 năm pháttriển độclập. Cũng như tiếngAnh biếnhoá khácnhau tại Ấnđộ, Philippines hay NamPhi, tiếngViệt đã hoànthành hìnhthành bảnsắc riêng của mình, vừa tiếpnhận ảnhhưởng bênngoài, vừa sángtạo từ nộitại.
Để mởrộng phépsosánh, hãy xemxét Mỹ-Latinh. Sau khi Tâybannha chinhphục Mễtâycơ vào năm 1519, vùng này trảiqua hơn 300 năm thuộcđịa, trongđó vănhoá Mesoamerica bảnđịa hoàtrộn với truyềnthống Âuchâu. Ngàynay, bảnsắc nói tiếngTâybannha và theo Cônggiáo của Mexico phảnánh disản hỗnhợp đó. Tươngtự, vănhóa và ngônngữ Việtnam mang dấuấn của nhiều thếkỷ tươngtác với Trungquốc, nhưng vẫngiữ bảnsắc riêngbiệt.
Đốivới các họcgiả được đàotạo theo phươngpháp ngônngữhọc phươngTây, phântích sosánh là côngcụ mạnhmẽ để truydấu các tiếntrình này. Bernhard Karlgren (1889–1978), người tiênphong trong ngữâmhọc Háncổ, đã đặtnềnmóng choviệc táitạo phụchồi cấutrúc ngữâm Háncổ. Những người kếtục ông — Li Fang-Keui, Alex Schuessler, Vương Lực, W. South Coblin, và những người khác — đã tinhchỉnh các phươngpháp này, cungcấp khung phântích mà các nhàngônngữhọc Việtnam cóthể dùng để khámphá mốiliênhệ ditruyền giữa tiếngViệt và các họ ngônngữ khác.
Một câycổthụ đáng chúý trong lĩnhvực này là Nguyễn Tài Cẩn (1926–2011), một giáosư ngônngữhọc lịchsử được đàotạo tại Liênxô, người đã đónggóp quantrọng vào việc giải thích quátrình biếnđổi ngữâm Hán‑Việt từ âm Trungcổ Hán. Côngtrình của ông minhhoạ cách phươngpháp phươngTây cóthể được ứngdụng vào ngônngữ ĐôngÁ, đặcbiệt trongviệc phântích thanhđiệu như những đơnvị hìnhthái mang giátrị ngữnghĩa.
Mặcdù đãcó những tiếnbộ đángkể, lĩnhvực này vẫncòn nhạycảm về chínhtrị. Khi những bảnthảo của tácgiả lầnđầu về nghiêncứu Hán‑Tạng trong Hán‑Việt được côngbố trựctuyến, mộtsố chuyêngia đã bácbỏ thẳngthừng côngtrình với lýdo thiếu nềntảng ngônngữhọc phươngTây. Tuyvậy, những phêphán nhưthế thường bỏqua bốicảnh lịchsử và tínhphứctạp vănhoá nằmdưới tiếntrình tiếnhoá ngônngữ. Chẳnghạn, dù các họcgiả phươngTây như Haudricourt và Maspero đã nhậndiện những từđồngnguyên như 墓 mù và tiếngViệt mộ, họ cóthể đã bỏlỡ các dạng liênquan như mồ, mả (mộphần), và mô (gò), tấtcả đều phảnánh những quanhệ ngữâm và ngữnghĩa tinhvi.
Ranhgiới giữa Hán‑Việt (tầng vaymượn quyphạm) và Hán‑Việt cổ (tầng hộitụ tựnhiên) thường bị làmnhoè, đặcbiệt bởi những họcgiả trẻ khôngquen với Hánvăn cổđiển. Sựphụthuộc quámức vào các khung lýthuyết phươngTây cứngnhắc cóthể làm lumờ những biếnđổi bấtquytắc khôngthể nhétvào các môhình chuẩnmực. Như nhàHánhọc Peter A. Boodberg từng nhậnxét: lýthuyết tiếnhoá ngữâm không thể giảithích những trườnghợp bấtquytắc nhưthế… tốt hơn hết là ghinhận cẩnthận từng trườnghợp… mà không tựtróimình vào một địnhluật ngữâm tuyệtđối.
Những tranhluận banđầu về thanhđiệu tiếngViệt cũng minhhoạ căngthẳng này. Các nhà ngônngữhọc phươngTây lúcđầu gặp khókhăn khi phânloại thanhđiệu, xem chúng như quãngthanh lạ, giốngnhư trong tiếngAnh cùng một từ nhưng cáchđặt dấunhấn khi khi nóichuyện khônggiốngnhau tuỳtheo vịtrí và ngữloại. Qua thờigian, thanhđiệu được hiểurõ như một hệthống hìnhvị có âmđiệu ổnđịnh, có khảnăng phânbiệt ngữnghĩa qua tám trườngthanh, độclập với Hántự. Các vídụ như ma, mà, mả, mã, má, mạ, mác, mạc hay mô, mồ, mổ, mỗ, mố, mộ, mốc, mộc cho thấy độ phongphú ngữnghĩa được mãhoá trong biếnthiên thanhđiệu.
Ngượclại, các chuyêngia NamÁ (Mon‑Khmer) được đàotạo trong môitrường phươngTây, họ thường dựadẫm vào các chuyến điềndã ngắnhạn vào mùahè, đôikhi với hỗtrợ ngônngữ hạnchế. Hậụquả là dữliệu về từnguyên tiếngViệt của họ cóthể thiếu tínhnhấtquán hoặc khôngđầyđủ. Điềunày mộtphần do hạnchế phươngpháp — như phụthuộc vào thôngdịchviên khôngđược huấnluyện chuyênmôn — và mộtphần do họ xalạ với với từnguyên Hán. Tómlại, chừngnào tranhluận về tính đơnâm hay đaâm của tiếngViệt còn chưa ngãngũ, chừngđó việc phânloại gốcrễ ngônngữ vẫncòn phứctạp.
Cuốicùng, nghiêncứu từnguyênhọc tiếngViệt đòihỏi một cáchtiếpcận cânbằng: vừa tôntrọng độ chínhxác phântích của phươngpháp phươngTây, vừa nhạycảm với phứctạp vănhoá‑lịchsử ĐôngÁ. Chỉ qua lăngkính kép này, nhànghiêncứu từnguyên Việtngữ mới cóthể hiểurõ mạnglưới ảnhhưởng tinhvi đã địnhhình đốitượng.
Trong bốicảnh họcthuật rộnghơn, thôngtin sailệch thường lenlỏi vào diễnngôn chínhthống. Những người đónggóp thiệnchí cho các nềntảng thamchiếu phổthông — như Encyclopædia Britannica, Wikipedia, hay thậmchí các chatbot AI — đôi khi lantruyền những khẳngđịnh suyđoán, thiếu chínhxác hoặc quá đơngiản, đặcbiệt về phânloại tiếngViệt trong các họ ngônngữ. Như từng xảyra, những mụctừ này thường do người khôngchuyên biênsoạn lại được xemnhư nguồn tàiliệu cóthẩmquyền và trởthành nềntảng cho các luậnvăn họcthuật vềsau. Phiênbản tiếngViệt của Wikipedia từng bị cảnhbáo vì lantruyền các diễnngôn được biênsoạn bởi bộmáy tuyêntruyền nhànước của ngônngữ mình. Bảnthân tácgiả từng được cảnhbáo không nên tríchdẫn từ nguồn này.
Một vídụ điểnhình về cách thôngtin sailệch thấmvào họcthuật là việc GS Phan Hữu Dật tríchdẫn nguồngốc ngônngữ từ một bộ báchkhoa tiếngNga, dựatrên giảđịnh suyđoán hơn là chứngcứ nghiêmtúc. Trên mạnglưới Internet hiệnđại, những khẳngđịnh vôcăncứ nhưthế dễdàng được tríchdẫn, đănglại và lantruyền, đặcbiệt trong giới họcthuật Việtnam chịu ảnhhưởng của diễnngôn thiênvị nguồn Hánngữ. Dù nhiều người trong giới đã biếtrõ sựthiếu chínhxác này, vònglặp thôngtin sai vẫn tiếptục — hoặc do thụđộng chấpnhận, hoặc do cốý bỏqua.
Hiệntượng này phảnánh những vấnnạn cơcấu sâuxa trong sửhọc Việtnam, vốn lịchsử ưutiên chínhtrị triềuđại và lãnhthổ hơnlà nhânchủng và ngônngữ. Disản thuộcđịa, đặcbiệt dưới thời Pháp, đặt họcgiả Việtnam vào ngãbađường: hoặc tiếpnhận tiêuchuẩn họcthuật phươngTây, hoặc hoàvào phongtrào dântộcchủnghĩa chống vọngngoại. Hậuquả là họcthuật bị chiphối bởi ýthứchệ, thườngbị địnhhình bởi tâmthế chống-Trung. Lăngkính ýthứchệ này làm lệch phântích kháchquan, tạora hoàikhúc đốivới cả hai nguồn Tây và Hán.
Tráivới cáchtiếpcận phươngTây hiệndại, các nhàngônngữhọc Trungquốc trong truyềnthống Hán‑Tạng từ lâunay dựadẫm vào phươngpháp cổđiển truyềnthống để táitạo hệthống ngữâm cổ. Các kháiniệm như Âm‑Nhậpthanh và Dương‑Nhậpthanh (蔭、陽入聲) — chỉ các thanhnhập được địnhhình bởi thanhphụ hữuthanh và vôthanh — dựatrên lýthuyết ngữâm truyềnthống. Những phânloại này tươngứng với đốilập cổ giữa âmtrong (清 “thanh”) và âmđục (“trọc” 濁), một khung lýthuyết khó tiếpcận đốivới người không quen với ngữâmhọc ĐôngÁ. Việc nắmbắt các nguyêntắc này đòihỏi sựquenthuộc sâusắc với các tựđiển vậnthư như Thuyếtvăn Giảitự, Quảngvận, Ngọcvận, và Khanghi Tựđiển.
Một vídụ thuyếtphục là từ cộ (xekéo), có gốcrễ từ các dạng Hántự như 檋, 輂, 輁, 梮 (Quanthoại jù, Hán‑Việt cục /kuwkp8/). Sách HậuHánThư môtả cộ như một loại xekéo bằng vai, hìnhthức này vẫncòn thấy tại miềnTrung Việtnam không lâulắm trướcđây. Từ ghépkép xecộ hiệnđại phảnánh sựliêntục ngữnghĩa trong tiếntrình hiệnđạihoá.
Những pháttriển về ngữâmhọc phụcnguyên âmcổ này được củngcố bởi côngtrình tiênphong của Bernhard Karlgren, người đầutiên hệthốnghoá các chuyểnbiến ngữâm trong Háncổ. Phânloại của ông về các nhóm âm như trùngnữu 重紐 đặt nềntảng cho việc táitạo các từnguyên như 面 (miàn → HV diện), 民 (mín → HV dân), 偏 (piān → thiên), haylà 三 (sān → HV tam, với dạng Hảinam sā, tā tươngứng với ba). Nhậnđịnh của Karlgren tiếptục địnhhướng các nghiêncứu sosánh Hán‑Việt cho đến nay.
Vìsao cần đisâu vào những chitiết này? Vì chúng đóngvai trò đốitrọng với các diễnngôn bị chínhtrịhoá. Độcgiả phổthông thường bị đánhlừa bởi các phiênbản chínhthức được biênsoạn bởi bộmáy hànhchính dưới vỏbọc “họcsĩ”, “giáosư nhândân”, hoặc các cơquan như Viện KHXH, Viện Khổngtử, hay thậmchí các tríchdẫn gáncho những nhânvật như GS Phan Hữu Dật của “Bác Hồ”. Chẳnghạn, câu Mườinăm trồngcây, trămnăm trồngngười thường được gáncho Hồ Chí Minh, nhưng thựcra xuấtphát từ Quảntử: 語出 《管子·權修》: 十年 之 計,莫如 樹木;終 之 計,莫如 樹人.
Hiệntượng này khôngchỉ riêng Việtnam. Các môthức sùngbái lãnhtụ và viếtlại lịchsử cũng từng xảyra ở Trungquốc thời Mao và BắcHàn. Những người mới bước vào ngành Việthọc thường gặpphải nhiều cách diễngiải dântộcchủnghĩa chemờ sựthật. Điềunày giảithích vìsao Việtnam vẫnlà một quốcgia kiêuhãnh và kiêncường trước áplực từ phươngBắc.
Trong bốicảnh chínhtrị hoá của từnguyênhọc tiếngViệt, tácgiả cảmthấy cầnphải trựcdiện những nghịsự ẩngiấu này. Khảocứu này — kếtquả của hơn 30 năm nghiêncứu từ đầu thậpniên 1990 — nhằm làmrõ hồsơ lịchsử và nhấnmạnh vaitrò nềntảng của từnguyên Hán‑Việt, vốn nhiềulần bị gánnhầm cho Mon‑Khmer.
Khi điềuhướng phứctạp của từnguyên tiếngViệt, tácgiả rốtcụộc chọn đitheo conđường Hán‑Tạng. Banđầu bị bỏqua, khung lýthuyết này nay tỏra khôngthể thaythế. Nói một cách ẩndụ, tiếngViệt cóthể được xemnhư một cành ghép trên thâncây ngônngữ Hán, với gốcrễ truyngược về giaiđoạn Hán‑Tạng muộn, cũng cóthể xa đến thời Ân-Thương (殷朝, 1900–1066 TCN). Sựhiệndiện bềnbỉ của các yếu tố Hán trong từvựng Việt chothấy một nguồngốcchung mà chínhtrị đã chephủ trong nhiều thếkỷ.
Và để mởrộng ẩndụ: hãy hìnhdung một cây táotây ghép mang nhiều loạiquả đ3 xanh vàng, ngọt có, thanh có, chua có. Cành Hán‑Việt, với lõi BáchViệt, đã tăngtrưởng hơn 2.200 năm kểtừ khi nhàTần chinhphục Hoanam năm 221 TCN, rồi nhà Hán thôntính năm 111 TCN sau sựsụpđổ của nhàTriệu. Được nuôidưỡng bởi nguồn “dinhdưỡng” ngônngữ Hán, tiếngViệt pháttriển songhành với các phươngngữ như Quảngđông và Phúckiến. Nhưng nó lại khác với chúng — vì chúng vốn pháttriển trong lòng Trungquốc — tiếngViệt táchnhánh sau một thiênniênkỷ Hánhoá từ thời Bắcthuộc, rồi hìnhthành bảnsắc riêng saukhi độclập.
Như tácgiả viết: Hãy thử bỏ các nguyênliệu Hán tươi có nguồngốc phươngBắc vào nồi hổlốn Việtnam, chứ không phải tô salát Mỹ, bạn sẽ thấy chúng tanhoà vào nồi cháođậu nấunhuyễn thành bột, khôngcòn giữđược hìnhdạng banđầu. Chiều ngượclại cũng đúng với nồi súpde Hán.
Kếtluận
Nghiêncứu ngônngữhọc lịchsử tiếngViệt khôngthể táchrời khỏi các lực lượng chínhtrị và ýthứchệ đã địnhhình khônggian họcthuật của nó. Như đã được trìnhbày trong bàiviết này, khuyếtđiểm của chủnghĩadântộc, disản thuộcđịa và tâmthế chống-Trung ănsâu đã nhiềulần bóplệch quátrình họcthuật, đặcbiệt trong phânloại và giảithích từnguyên tiếngViệt. Thôngtin sailệch, dù xuấtphát từ các bộ báchkhoa lỗithời hay từ trênmạng internet lantruyền rộngrãi, vẫn tiếptục ảnhhưởng đến giới họcthuật Việtnam, đôikhi cònđược những người trong giới chủđộng duytrì.
Sựchínhtrịhoá này đã tạora một bầukhôngkhí hoàinghi đốivới cả phươngpháp phươngTây lẫn Hán‑Tạng, cảntrở tínhkháchquan của sựphântích. Ngượclại, các nhà ngônngữhọc Trungquốc trong truyềnthống Hán‑Tạng đã bảotồn những khung ngữâm cổđiển có giátrị, những côngcụ mà họcthuật Việtnam vẫnchưa khai thác đầyđủ do ràocản ýthứchệ.
Để tiếnbộ, họcgiả cần tiếpnhận một cáchtiếpcận vôtư và có tầmnhìn toàncầu hơn. Điềunày đòihỏi táiđịnhhình tưduy họcthuật để vượtqua ranhgiới chủnghĩadântộc và chấpnhận các phươngpháp sosánh nghiêmchỉnh, dựatrên cả truyềnthống Đông và Tây. Chỉ khiđó, ta mới cóthể hiểurõ được tínhphứctạp đíchthực của disản ngônngữ Việtnam.
Trong các bàiviết khác tiếptheo, tácgiả sẽ côlập các từnguyên lõi của tiếngViệt, xácđịnh phạmvị ngữnghĩa của chúng và đặt chúng trong tươngquan với các đốiứng Hán‑Tạng và NamÁ. Nỗlực này nhằm làmrõ các quanhệ ngônngữ và tháchthức những giảđịnh lâuđời, từđó đặt nềntảng cho một cáchhiểu tinhvi và dựatrên chứngcứ về tiếntrình tiếnhoá ngônngữ của Việtnam.
Sáchthamkhảo
Bình Nguyên Lộc. 1972. Nguồn gốc Mã Lai của Dân tộc Việt Nam. Saigon.
Bo Yang 伯楊. 1983-1993. Modern Chinese edition of 司馬光 Sima Guang’s Zīzì Tōngjiàn (Comprehensive Mirror to Aid in Government) 資治通鍳 (vol. 69-71 of 72 volumes). Taipei: Yuănlíu Chùbăn Gōngsī 遠流出版公司 (Yuan-Liou Publishing Co).
Boodberg, Peter A. 1942. Turk, Aryan and Chinese in Ancient China.
Cohen, Alvin P. 1979. Studies in Ancient Chinese Civilization.
De Lacouperie, Terrien. (1887) 1963. The Languages of China before the Chinese. London.
Ferlus, Michel. 2012. “Trade Routes and Sound Change Patterns in Vietnamese Cognates across Southeast Asia.”
Haudricourt, André‑Georges. 1954. “De l’origine des tons en vietnamien.” Journal Asiatique.
Han Dynasty records on Jiaozhi 交阯 / 交趾 and Jiaozhou 交州.
Karlgren, Bernhard. 1957. Grammata Serica Recensa. Stockholm: Museum of Far Eastern Antiquities.
Kiernan, Ben. 2017. Việt Nam: A History from Earliest Times to the Present. Cambridge University Press.
Nguyễn Ngọc San. 1993. Tìm hiểu về Tiếng Việt Lịch sử. Hanoi: Nhà xuất bản Giáo dục.
Phan Hữu Dật. 1998. Nhân học Việt Nam. Hanoi.
Sima Qian. Shiji (史記, Records of the Grand Historian).
CƯỚCCHÚ
(1)^ Dạng nguyênthuỷ được liệtkê trong mục 144 của Shorto (2006), tức t1mi? với nghĩa “mới” trong tiền-NamÁ (-5000–-4000) Nguồn: https://wold.livingsources.org/word/7215023854510378
(2)^ Dạng Proto‑Vietic được xácđịnh trong bản thảo của Ferlus. Có khả năng đây là một dạng khu vực, với các từnguyên tươngứng trong một số ngônngữ Mon‑Khmer và Quảngđông. Niênđại: tiền-Vietic (khoảng năm −1000). (Nguồn: https://wold.livingsources.org/word/7215023784073043)
(3)^ Têngọi chínhxác phải là “năm ConDê” — không phải “Contrừu” hay “Concừuđực” — vì địachi 未 (wèi) tươngứng với chữ 羊 (yáng), mà trong tiếngViệt là dê. Từngữ này được phátâm nhấtquán: /je1/ trong tiếngViệt, /jẽ1/ trong Triềuchâu, /jũ1/ trong Amoy, và /jew1/ trong Hảinam — tấtcả đều chỉ rõ là “dê”. Chínhxác hơn, loài vật được biểutrưng là “dênúi”, như được phảnánh trong từ ghépkép hiệnđại 山羊 (shānyáng).
Nếu hỏi một họcgiả Trungquốc vìsao 羊 lại phải được hiểulà “cừu” hay “cừuđực” trong bốicảnh con giáp thứtám của thậpnhị địachi, họ sẽ khó cóthể đưa ra một giảithích hợplý và nhấtquán. Chứngcứ ngữâm và ngữnghĩa xuyênqua nhiều phươngngữ và ngônngữ đều ủnghộ cách hiểurõ ràng: đólà “dê”, chứ khôngphải các biếnthể như “cừu” hay “cừuđực”.
(4)^ Tết Đoanngọ đượccholà có nguồngốc từ nước Sở cổđại. Có nhiều giảthuyết khácnhau về sựhìnhthành của lễhội chèođua thuyềnrồng này, vì nhiều truyềnthống dângian và các huyềnthoại giảithích đều gắnbó với nó. Ngàynay, giảithuyết được biếtnhiều nhất liênquan đến việc nhàchísĩ Khuất Nguyên (屈原) tựvẫn năm 278 TCN , ông cònlà một thinhân và chínhkhách của nước Sở (楚國) trong thời Chiếnquốc. Khuất Nguyên xuấtthân từ một nhánh của hoàngtộc Sở và từng phụngsự dưới triều Sở Hoàivương (trịvì 328–289 TCN). Ông đượccho là người chủtrương hìnhthành liênminh giữa các chưhầu để chốnglại nước Tần, thếlực báquyền đang đedoạ thôntính toànbộ thiênhạ.
Năm 278 TCN, khi haytin kinhđô Dĩnh của nước Sở bị tướng Bạch Khởi của nước Tần chiếmđóng, Khuất Nguyên đã sángtác bài aica dài Ai Dĩnh để thankhóc cho quêhương, rồi sauđó gieomình xuống Sông Mịchla tựvẫn, như hệquả của nỗituyệtvọng trước sựsụpđổ của quênhà và nỗithốngkhổ của đồngbào mình.(Nguồn https://en.wikipedia.org/wiki/Duanwu_Festival và https://en.wikipedia.org/wiki/Qu_Yuan)
(5)^ Vídụ, vào năm 1789 đúng lúc Trungquốc đang ở đỉnhcao quyềnlực, Việtnam chỉ với vài nghìn kỵbinh do vịvua tươnglai Quangtrung Nguyễn Huệ chỉhuy, xuấtphát từ hàngngàn dặmđường ở Làng Tâysơn, Tỉnh Bìnhđịnh miềnTrung Việtnam, đã hoàntoàn đánhbại 239.000 quân nhà Thanh đóng tại Gò Đốngđa ở Hànội. Việtnam thậmchí đã khánhthành một Đền Quangtrung mới xây tạiđây dành cho khách dulịch Trungquốc — để chiêmngưỡng lịchsử Việtnam — vào Mùngnăm Thánggiêng Âmlịch, năm ẤtMùi 2015.
(6) ^ Trong ấnbản Tưtrị Thônggiám của Bá Dương (Bo Yang) dựatrên tácphẩm của Tưmã Quang, mặcdù Annam giành độclập năm 939 saukhi Ngô Quyền (吳權) đánhbại thuỷquân NamHán (南漢) trên sông Bạchđằng năm 938, các sửgia Trungquốc vẫn tiếptục gọi vùng này là “Giaochâu” (交州), một châu thuộc Trungquốc, mãitận năm 954. Sau khi Ngô Quyền quađời, vươngtriều NamHán còn bổnhiệm contrai út của ông là Ngô Xương Văn (吳昌文) làm Quantưlệnh (司令官) của Chiếnkhu Tĩnhhải (靜海 戰區), tươngứng với khuvực Hànội ngàynay, đồngthời giữ chức Tiếtđộsứ (節度使) của Annam Đôhộphủ (安南都護府) (Quyển 71, tr. 226).
Nóicáchkhác, mặccho Annam đã chínhthức tuyênbố độclập, chếđộ NamHán vẫn không côngnhận độclập của Annam. Cộtmốc lịchsử của sựxuấthiện của Annam như một nhànước có chủquyền vào năm 939 hoàntoàn vắngbóng trong sửliệu chínhthức của Trungquốc. Sửhọc Trungquốc đơnthuần bỏqua nó, giống như cách các diễnngôn Trungquốc hiệnđại làmmờđi tìnhtrạng độclập trênthựctế của Đàiloan. Tâmthức của các nhàcầmquyền Trungquốc đốivới Việtnam hầu như không thayđổi qua nhiều thếkỷ. Cóvẻnhư những bàihọc lịchsử vẫnchưa được họcthuộc. Đốivới nhiều độcgiả Trungquốc, sựxuấthiện của nhànước Annam như một quốcgia trong lịchsử cậnđại dườngnhư độtngột — một thựcthể mà, theo cáchnhìn của họ, nhưthể mọclên từ hưkhông. Bấtkỳ ai quenthuộc với sửliệu Trungquốc đều cóthể xácnhận sựthiếuvắng này.
(7)^ Một điềuthúvị mà các chuyêngia về vănhoá Việtnam cóthể đã bỏqua là: tráingược với cảmgiác “lạtai” khi nghe các tên Trungquốc hiệnđại mang âm “cứng” theo Quanthoại bắcphương như Tập Cận-Bình (習近平) hay Hồ Cẩm Đào (胡錦濤), thì hầunhư tấtcả tênriêng từ thời Hán đến Đường được ghichép trong sử Trunghoa đều mang âm “mềm” hơn, chẳnghạn như Lý Thế Dân (李世民), Võ Tắc Thiên (武則天), Dương Ngọc Hoàn (楊玉環)… — nghe quenthuộc chẳngkhácgì các tên Việtnam xưanay.
(8)^ Trong một bàidiễnvăn tại Câulạcbộ Báochí Quốcgia, được NPR phátlại vào thứbảy ngày 2 tháng 3 năm 2013, cựu Tổngthống Hoakỳ Jimmy Carter đã nhắclại một khoảnhkhắc thenchốt vào cuốinăm 1978. Khiấy, ông gặp Đặng Tiểu=Bình, Tổngbíthư Bộ Chínhtrị Trungquốc, để hoàntất hiệpước hoàbình giữa Hoakỳ và Trungquốc. Trong cuộcgặpgỡ đó, Đặng tiếtlộ ýđịnh phátđộng một chiếndịch quânsự chống Việtnam, với lýdo ông chorằng Việtnam đã “phảnbội” Trungquốc — chỉ chưatới bốn năm saukhi Chiếntranh Việtnam kếtthúc ngày 30 tháng 4 năm 1975, trong thờigian mà Trungquốc đã chiviện miềnBắc Việtnam đánhlại quânđội Hoakỳ.
Carter đã khuyên Đặng khôngnên để quânđội Trungquốc đónglại Việtnam quálâu, cảnhbáo rằng một cuộc chiếmđóng nhưvậy sẽlàm tổnthương hiệpước hoàbình vừa ký và gâyhại cho uytín của cả hai quốcgia trên trường quốctế.
(9)^ Ônlại côngthức nhânchủng XYZ: Nếu diễnđạt bằng côngthức, banđầu, nhóm tiền‑Hán {X}, xuấtphát từ vùng Tâytạng ở Tâynam Trungquốc, hoànhập với cưdân tiền‑Việt {YY}, giảđịnh là cưdân Tháicổ (Tai), vốn chiếmđasố dânsố nướcSở và nói một dạng ngônngữ Tày (Dai) cổ. Sựtiếpxúc này diễnra theo tỷlệ 1:2, kýhiệu X/2Y. Theo thờigian, các nhóm này hìnhthành cộngđồng BáchViệt bảnđịa {ZZZ}, cưtrú tại các nước Thục, Ngô và Việt. Hậuduệ phatrộn của họ vềsau được phânloại là Hán {HHHH}, kýhiệu 3Z4H (3 phần Z và 4 phần H). Dưới Triều Hán, các nhóm này hợpnhất trong một nhànước “Trungquốc”, thựcchất là một “liênbang Tần”, đánhdấu sựchuyểndổi từ thầndân nhàTần sang cộngđồng thứdân nhàHán.
Thànhphần dântộc của ngườiHán, vìthế, cóthể biểudiễn dưới dạng {X2Y3Z4H}, hìnhthành qua sự hoàhợp giữa tiền‑Hán (X), tiền‑Việt (YY), BáchViệt bảnđịa (ZZZ) và Hán (HHHH). Tươngtự, thànhphần dântộc ngườiViệt tiếntriển từ tiền‑Việt {YY} và BáchViệt muộn {ZZZ} đến tiền‑Việt {YYZZZ}, và giảđịnh rằng tổtiên Việtcổ hay Annam cổ cóthể biểudiễn dưới dạng {2Y3Z+4H}. Các nhóm này dần tiếntriển thành ngườiViệt hiệnđại, kýhiệu {4Y6Z8H+CMK}, trong đó {C} biểuthị yếutố Chăm và {MK} biểuthị ảnhhưởng Môn‑Khmer. Môhình hoàhuyết này phảnánh gần như trùngkhớp với thànhphần dântộc của cưdân Phúckiến và Quảngđông, vốn được địnhhình bởi các quátrình tươngtự trong thờiHán trước và sau năm 111 TCN.
Từđó, côngthức NamÁ cóthể tạm biểudiễn dưới dạng {6YCMK}, đốinghịch với côngthức ngườiViệt hiệnđại {4Y6Z8H+CMK}. Những côngthức này tómlược các quátrình lịchsử đã hunđúc nên các bảnsắc dântộc và vănhóa vừa khácbiệt vừa liênkết.
Trong các bàiviết sau sẽ phântích vềmặt lịchsử, sựtiếntriển của tiếngViệt songhành với thànhphần dântộc của cộngđồng nói tiếngViệt ({4Y6Z8H+CMK}). Lịchsử chothấy khi quân nhàTần tiếnxuống phươngNam, cưdân BáchViệt ({2Y3Z2H}) từ vùng Hồ Độngđình (Hồnam ngàynay) đã dicư hàngloạt xuống vùng châuthổ Sông Hồng. Cuộc dicư này dẫnđến sựhoàchủng với cưdân bảnđịa, gồm người Tày. Mường cổ, và cưdân vănhoá Phùngnguyên (khoảng 2000–1500 TCN). Ở các giaiđoạn sau, những nhóm táiđịnhcư ({2Y3Z2H}) từng cưtrú tại vùng này hoànhập với các nhóm BáchViệt mới đến ({4Y3Z2H}). Vềsau, tổtiên Việt‑Mường ({4Y3Z2H}) chạylên vùngnúi Tâynam để tránh các cuộc cànquét của quânHán thời Bắcthuộc từ năm 208 TCN, đặt disản ngônngữ của họ trong tiếpxúc trựctiếp với người Môn‑Khmer ({4Y+MK}). (Xem Từnguyên Việtngữ Khôngchỉlà Những Kýhiệu Côlập).
(10)^ Hátbộ, hay háttuồng (cũng gọi là hátbội, hoặc đơnthuần là tuồng), là một hìnhthức sânkhấu Việtnam. Háttuồng là loại “nhạckịch cổđiển Việtnam”, chịu ảnhhưởng từ cacổ gọilà híkhúc của Trunghoa. Trong phươngngữ Nambộ, hátbội là cáchgọi tươngđương.
Tuồng khácvới thểloại hátchèo cổhơn của sânkhấu Việtnam — loại hình kếthợp múa, hát và thica — và cũng khác với cảilương, hìnhthức nhạckịch dângian hiệnđại.
Lịchsử: Người ta cho rằng tuồng dunhập từ Trunghoa vào khoảng thếkỷ XIII, giaiđoạn Việtnam đang khángchiến chống quân Nguyên-Mông. Một képhát nổitiếng tên Lý Nguyên Cát (李元吉) bị quân Việtnam bắtgiữ. Triềuđình bắt ông truyềndạy nghệthuật cacổ híkhúc Trunghoa cho concháu tầnglớp quanlại triềuđình, từđó tuồng hìnhthành trong cungđình Việtnam. Vềsau, nó được chuyểnhóa chophép các gánhhát lưuđộng biểudiễn phụcvụ thườngdân và nôngdân. Cùng với hátchèo, tuồng từnglà mộttrongnhững loạihình nghệthuật được quầnchúng ưachuộng nhất.
Cốttruyện và hoátrang: Các cốttruyện của tuồng thường mang tínhlịchsử, nhấnmạnh các quyphạm xãhội, và cóthể khaithác truyềnthuyết của cả Trunghoa lẫn Việtnam. Tuồng có những quyước dànhcho vaichính vaiphụ, nhậnbiếtđược qua hoátrang và trangphục đặctrưng — thường rất cầukỳ và rựcrỡ. (Source: https://en.wikipedia.org/wiki/Hát_tuồng)
(11)^ Chắcchắn Việtnam luôn cảnhgiác với Trungquốc, như đãtừng nhưvậy suốt nhiều thếkỷ, nếu khôngmuốnnói là hàng thiênniênkỷ. Trong hàngtrămnăm liêntục, các hoàngđế Trunghoa từng caiquản một phần lãnhthổ Việtnam; ngàynay, tên của những đạilộ lớn nhất trong cả nước đều tưởngniệm các vị anhhùng đã chiếnđấu chống ngoạixâm, trongđó có cả Trunghoa. Mộtsố nhânvật cứngrắn trong bộmáy lãnhđạo Đảng Cộngsản cóthể đã muốn thử phảnứng từ Trunghoa trước khi hướngvề Hoakỳ — nhấtlà trong các vấnđề anninh nộiđịa — Việtnam trong thờiđại hậu‑cáchmạng khôngphải lúcnào cũng hàilòng với ngườilánggiềng phươngBắc. Năm 2011, mườihai tuần biểutình gầnnhư được chínhphủ ngầm chophép phảnđối hànhđộng của Trunghoa trên BiểnĐông là một minhchứng sốngđộng cho điềuđó.(Source: http://www.economist.com/blogs/banyan/2012/06/vietnams-trade-china)
(12)^ Vídụ, Cáchmạng Vănhoá của Mao Trạch Đông tại Trunghoa (1966–1976), cuộccảicách ruộngđất của Hồ Chí Minh ở Việtnam (1954) với việc loạibỏ các đốithủ chínhtrị baogồm cả phúông và địachủ, hay hệthống trạigiam laođộng trong Quầnđảo Gulag của Stalin tại Liênxô (xem tácphẩm cùng tên của Aleksandr Solzhenitsyn, 1973). (See http://www.dailymail.co.uk/home/moslive/article-2091670/Hitler-Stalin-The-murderous-regimes-world.html )
(13)^ Cuộc xungđột ngắn giữa Malacca và triều Lê của Annam bắtđầu khônglâu saukhi xâmchiếm Champa năm 1471 của Việtnam; Champa lúcấy đã trởthành một vươngquốc Hồigiáo. Triềuđình Trunghoa, khônghaybiết sựviệc, đã phái ngựsử Trần Thuần (Ch’en Chun) đến Champa năm 1474 để tấnphong vương, nhưng ông pháthiện quân Việtnam đã chiếm Champa và chặn không cho ông nhậpcảnh. Vìvậy ông chuyểnhướng sang Malacca; quốcvương Malacca sauđó đã tiếptục triềucống Trunghoa.
Năm 1469, khi sứbộ Malacca trênđường trởvề từ Trunghoa, họ bị quân Việtnam tấncông; những người trẻ bị thiếngiám và bịbắt làm nôlệ. Vì triều Lê là phiênthuộc của Trunghoa, Malacca khôngdám trảđũa. Thayvìvậy, Malacca cử sứgiả sang Trunghoa năm 1481 để tốcáo hànhđộng xâmphạm của Việtnam và kếhoạch xâmlược Malacca, đồngthời đốichất với sứbộ Việtnam đang cómặt tại triềuđình nhàMinh. Tuynhiên, triều Minh trảlời rằng sựviệc đã xảyra từ nhiều nămtrước nên khôngthể xửlý, và hoàngđế chỉ gửithư khiểntrách vua Việtnam. Vua Minh cũng chophép Malacca đượcquyền dùng vũlực để tựvệ nếu Việtnam tấncông — điều mà từđó khôngbaogiờ xảyra nữa.
Theo một tưliệu Trunghoa, quân Việtnam với một lựclượng trọnvẹn đã bị đạoquân Malacca — dù ít quân hơn — đánhbại nặngnề trong một chiếndịch tại Lansang.
(Source: https://en.wikipedia.org/wiki/Malacca_Sultanate/)
(14)^ Theo Sửký Tưmã Thiên trong mục “NamViệt Liệttruyện”, Triệu Đà sinh tại một nơi thuộc Huyện Chínhđịnh, Tỉnh Hàbắc của Trunghoa ngàynay. (《史記。南越 列傳》 記載,趙佗 是 河北省 正定縣 人. )
(15)^ Nước Sở (khoảng 1030–223 tr.CN) (楚國 Chǔguó) là một nhànước cổđại toạlạc tại miền trung và nam Trunghoa ngàynay vào đời Chu. Banđầu, các quânvương nước Sở mang tước Tử (子), tươngđương với tướcvị hầu, nhưng từ thời Sở Võvương vào đầu thếkỷ VIII tr.CN, các quânvương Sở tựmình xưnglà vương. Tôngthất của họ mang họ Nãi (嬭, âm tiếngnói nước Chu), và tộcdanh Yểm (酓), vềsau pháttriển thành họ Mị (芈) và tộcdanh Hùng (熊).
Banđầu nước nầy đượcgọilà Kinh (荆), rồi đổisang KinhSở (荆楚), nước Sở ở thời cựcthịnh kiểmsoát một vùng lãnhthổ rộnglớn, baogồm phầnlớn hai tỉnh Hồbắc và Hồnam ngàynay, cùng các phần thuộc Trùngkhánh, Quýchâu, Hànam, Anhuy, Giangtây, Giangtô, Triếtgiang và Thượnghải. Trong hơn 400 năm, kinhđô Sở đặt tại Đơndương, vùng hợplưu giữa sông Đơn và Tương, gần vùng Tâyxuyên thuộc Tỉnh Hànam ngày nay, nhưng vềsau dời đến vùng Ứng.(Source: https://en.wikipedia.org/wiki/Chu_(state) )
(16)^ Xem dchph’s Mộtvài Suynghĩ về Nguồngốc DânViệt

Leave a Reply