Giảthiết BáchViệt Chung của Việt-Hán

by dchph in collaboration with Copilot

Antique Asian bronze drum, scrolls with calligraphy, and blue and white ceramic pottery on wooden table
An assortment of antique Asian scrolls, ceramics, and bronze artifacts displayed on a wooden table. (creAited by dchph with Jetpack)

Lịch­sử tiếngViệt khôngthể táchrời khỏi vànhcung tiếpxúc Việt–Hán kéodài hàng thiênniên. Từ đồngbằng Châuthổ Sông Hồng qua các triềuđại tiếptục, những lànsóng dịchchuyển, thuộcđịahoá và giaotiếp vănhóa đã từnglớp chấtchồng lên ngônngữ này những thànhtố Hánngữ. Các pháthiện khảocổ như trốngđồng Đôngsơn, các nghiêncứu ditruyền về sự hoàtrộn Việt–Hán, và sựbềnbỉ của các thựchành vănhóa BáchViệt đều chỉvào một nền­tảng chung giữa miềnnam Trungquốc và miềnbắc Việtnam. Qua nhiều thếkỷ, bảnsắc Việt không hìnhthành như một nhánh côlập màlà một hợpthể, được địnhdạng bởi tầng gốcbản BáchViệt, phủlớp Hán, và sựmởrộng về phươngnam vào lãnhthổ Chăm và Khmer.

TiếngViệt không phátxuất từ một di­sản từvựng đơnnhất và thuầnnhất, mà từ một hệ thống từnguyên phân­tầng. Cáchđọc Hán‑Việt, các hìnhthức Hán‑Nôm thôngtục, và các lớp gốcbản cổhơn cùng tồn­tại và thường hiệndiện dưới dạng từđôi pháisinh hoặc các biếnthể ngữnghĩa. Những từ tưởng như “thuầnViệt” thường hélộ những phảhệ sâu hơn: chim tươngứng với các songhệ Môn‑Khmer, với các đồngnguyên NamÁ, và thỏ dandíu với gốcrễ Hán. Tính kếtcấu của tiếngViệt không đến từ sựtinhkhiết từvựng mà từ sựtươngtác giữa các tầng này. Vìthế, từnguyên tiếngViệt phải được tiếpcận như một matrận ngônngữ-lịch­sử phântầng, nơi tiếpxúc vănhóa, hộitụ cấutrúc và vaymượn là những thànhphần khôngthể táchrời của quátrình pháttriển.

Nghiêncứu này đềxuất giảthuyết rằng tiếngViệt và tiếngHán cùng chiasẻ một tầnggốc BáchViệt chung, thểhiện qua những đốiứng từvựng và ngữâm sâusắc. Thayvì xem tiếngViệt như một ngônngữ NamÁ có vaymượn Hánngữ nặngnề, lậpluận ởđây táiđịnhvị tiếngViệt như một tậpcon trong trục liêntục BáchViệt‑Hán‑Tạng (Sino-Tibetan-Yue). Bằngchứng được rút từ từvựng lõi: các xưnghô thânthuộc (mẹ, bố, con), các yếutố tựnhiên (trời, nước, đất), và các phạmtrù nhânloại (người) — tấtcả đều tươngứng cóhệthống với các dạng Hán (母 mǔ, 父 fù, 子 zǐ, 天 tiān, 水 shuǐ, 土 tǔ, 人 rén).

Những đốiứng này gợiý không chỉ vaymượn mà là đồngnguyên, trongđó tiếngViệt giữ lại các dạng gốcbản, còn tiếngHán pháttriển theo lộtrình riêng. Bàiviết mời độcgiả xemxét lại giảđịnh NamÁ cốđịnh và khảonghiệm về một quanhệ ditruyền sâuhơn giữa tiếngViệt và tiếngHán.

  • BáchViệt (Bai‑Yue, Yue): Chỉ chuỗi liêntục dânngữ cổ của vùng Hoanam Trungquốc và miềnBắc Việtnam, hìnhthành tầngnền sâusắc chung của tiếngViệt và tiếngHán.
  • HánViệt: Tầng đọc âm vănngôn, trauchuốt, xuấtphát từ tiếng Hán Trungcổ, kiếnlập một hệthống từvựng thưtịch có tính quyphạm.
  • Việt-Hán: Những dạng trong đó tiếngViệt được thểhiện qua Quốcngữ, baogồm biếnthể Hán, hoặc bảotồn đặcđiểm cổxưa bị mất trong tiếngHán; một tầng đốiứng nghịchchiều.
  • HánNôm: Truyềnthống vănbản khẩungữ ViệtNam dùng chữHán và chữNôm sángtạo tại địaphương; hệchữ ghi lại tiếngnói.
  • Hán-Việt (Sino‑Vietnamese): Tầng cấutrúc chung giữa tiếngHán và tiếngViệt, bao gồm những tươngứng ngữâm‑ngữnghĩa sâusắc và hộitụ hìnhthái‑cúpháp, không chỉ là vaymượn.
  • Hán-Nôm (Sinitic‑Vietnamese): Ảnhhưởng ngữnghĩa, hìnhthái và cúpháp của tiếngHán được thấmnhập vào quátrình sángtạo và sửdụng tiếng HánNôm. Đây là một tầng Hánhóa về ýnghĩa, cấuthành và trậttự trong tiếngViệt (tiếngNôm), nằm giữa tầng Hán-Việt trauchuốt và tầng vănbản HánNôm khẩungữ.

I) Nền­tảng của giảthuyết

Nghiêncứu này vận­dụng phươngpháp ngônngữ‑lịch­sử sosánh để khảosát giảthuyết về một nguồngốc BáchViệt chung cho mộtphần đángkể của từvựng tiếngViệt và tiếngHán. Tưliệu lịchsử, bằngchứng khảocổ và táithiết ngữâm được ghéplại để truydấu các tầng từvựng qua thờigian và khônggian. Tậpdữliệu chính gồm từvựng Hán‑Việt, baogồm cả cáchđọc Hán‑Việt trangtrọng và các dạng Hán‑Nôm thôngtục. Dữliệu phụ baogồm các đồngnguyên Môn‑Khmer cơbản mà quanhệ với tầng BáchViệt vẫn chưa ngãngũ. Các mụctừ được rút từ vănbản cổ, cách dùng hiệnđại và các phươngngữ Việt‑Hán.

Các đốiứng ngữâm giữa tiếngViệt và tiếngHán được nhậndiện, chúý đến các chuyểndịch đềuđặn, các môhình thíchứng vaymượn và sự bảolưu các âmcổ. Đặcbiệt tậptrung vào những đặctrưng tiếngViệt còn giữ nhưng tiếngHán hiệnđại đã mất hoặc biếnđổi. Ngữnghĩa được khảosát theo trục thờigian, ghinhận các trườnghợp ngữnghĩa, nghĩahẹp, nghĩarộng hoặc chuyểnghĩa, và bốicảnh vănhóa được cânnhắc, đặcbiệt với các thuậtngữ gắn với thựchành bảnđịa, kháinệm dângian và từvựng nghilễ.

Dữliệu ngônngữ được đặt trong dòng thờigian tiếpxúc Việt‑Hán, baogồm các giaiđoạn thuộcđịa, dịchchuyển và thươngmại. Bằngchứng khảocổ như bản đúckhắc và hiệnvật được dùng để củngcố các pháthiện ngônngữ. Khi cóthể, nghiêncứu đánhgiá xem một mụctừ là vay từ Việt sang Hán, từ Hán sang Việt, hay là disản chung BáchViệt, dựa trên độ bảolưu ngữâm, phânbố ngữnghĩa và tính khảtín lịchsử. Bằng cách kếthợp chặtchẽ giữa từnguyênhọc và táithiết sosánh, phântích này nhằm sángtỏ độsâu và bảnchất của ảnhhưởng BáchViệt đốivới tiếngViệt và địnhvị ảnhhưởng ấy trong bốicảnh rộnghơn của ngữhệ Hán‑Tạng và Môn‑Khmer.

Luôn nằm trong quỹđạo vănhóa và chínhtrị của Trungquốc, Việtnam đã đi một lộtrình cânbằng tinhvi: vừalà một quốcgia phụthuộc, vừa giữ chủquyền. Khác với Nhậtbản hay Hànquốc, những nước đã táchhẳn khỏi cái bóng vănhóa Trunghoa, Việtnam vẫn ở gần tâm trọnglực ấy. Tínhchất thiên-Hán này là khungnền cho giảthuyết về nguồngốc Hán của lớp từvựng Hán‑Việt trong tiếngViệt. Suốt lịchsử dài và nhiều biếnđộng, nguycơ Bắcthuộc lầnnữa luôn lặplại như một thứ bệnhmùa, tạonên nền căngthẳng địalý‑chínhtrị thườngtrực giữa hai nước. Mỗi thếhệ ngườiViệt đều cảmnhận những đedoạ ấy như một hiệnthực sờmó và thấyđược, đặcbiệt trong những thờikỳ phươngBắc mởrộng thếlực.

Saukhi xáclập nền­tảng lịchsử và phươngpháp, thảoluận chuyểnsang tậpdữliệu chínhyếu. Các bảng mụctừ sauđây trìnhbày những bằngchứng từvựng làm cơsở cho lậpluận của nghiêncứu, được tổchức để hiểnlộ độsâu và độrộng của tầng Hán‑Việt. Mỗi mục được đốichiếu với Hánngữ hiệnđại, các táithiết Trungcổ (Baxter, Pulleyblank) và Háncổ (Baxter‑Sagart, Zhengzhang Shangfang), cùng các songhệ phươngngữ, Môn‑Khmer và Hán‑Tạng khi thíchhợp.

Cách sắpxếp này chophép theodõi mỗi từ qua thờigian và khônggian, từ dạng cổnhất đến các phảnxạ hiệnđại trong tiếngViệt. Nhờđó cóthể quan­sát các quyluật biếnâm, môhình thíchứng vaymượn và sự bảolưu các đặctrưng cổ. Đồngthời, nó làmrõ quytrình pháttriển ngữnghĩa và đặt mỗi từ vào bốicảnh vănhóa‑lịchsử của nó.

A. Bốicảnh lịchsử

Bảng 1 – Dòngthờigian Lịch­sử Việtnam


Trong phầnlớn của lịchsử khônggian lãnhthổ Việtnam hiệnđại baotrùm ba cộngđồng dântộc khácbiệt: một quốcgia Việt, một quốcgia Chăm, và một phần của Đếchế Khmer .

Nhànước Việt khởinguồn tại đồngbằng Sông Hồng ở miềnBắc Việtnam hiệndại và mởrộng dần qua lịchsử đến đườngbiên như ngàynay. Quốcgia này từng mang nhiều têngọi khác nhau, trongđó Vănlang là tên được dùng lâunhất. Dướiđây là bảng tómlược các têngọi.

ThờikỳTêngọi quốcgiaKhung thờigianBiêngiới
BáchViệt (Bộtộc Tiềnsử)LạcViệt là một trong các bộlạc thuộc bộtộc BáchViệt2879-2524 TCN.Trảidài từ bờ gần Sông Dươngtử xuống tận vùng cựcnam nay gọi là Quảngtrị Việtnam, giápvới Vươngquốc Chămpa, baogồm các tỉnh VânnamQuýchâuHồnamQuảngtây and Quảngđông của Trungquốc.
Triềuđại HồngbàngVănlang2524-258 TCN.Phíanam giáp BiểnĐông, phíatây giáp Bathục (nay là  Tứxuyên), phía bắc giáp Hồ Độngđình (Hồnam), và phíanam giáp HồTôn (Chămpa). Đồngbằng Châuthổ Sông Hồng là quêhương của vănhóa LạcViệt.
Triềuđại ThụcÂuLạc257-207 TCN.Châuthổ Sông Hồng và các vùng núi kềcận phíabắc và phíatây.
Triềuđại TriệuNamViệt207-111 TCN.ÂuLạc, Quảngđông, và Quảngtây.
Thốngtrị nhàHánGiaochỉ 111 TCN.-39 SCNMiềnBắc và Bắc‑Trungbộ Việtnam hiệndại (đườngbiên phíanam mởrộng xuống đến đồngbằng Sông Mã và Sông Cả ), Quảngđông, và Quảngtây.
Hai Bà TrưngLĩnhnam40-43MiềnBắc và Bắc‑Trungbộ Việtnam hiệndại (đườngbiên phíanam mởrộng xuống đến đồngbằng Sông Mã và Sông Cả )
Dưới sự thốngtrị của triềuđại nhà Hán đến ĐôngNgô
thốngtrị
Giaochỉ43-229MiềnBắc và Bắc‑Trungbộ Việtnam hiệndại (đườngbiên phíanam mởrộng xuống đến đồngbằng Sông Mã và Sông Cả ), Quảngđông, và Quảngtây.
Dưới sựthốngtrị của triềuđại nhà ĐôngNgô đến Triều Lương Giaochâu (Jiaozhou)229-544Nhưtrên
Nhà Tiền- LýVạnxuân544-602Nhưtrên
Tuỳ thốngtrịGiaochâu602-618Nhưtrên
Đường thốngtrịAnnam618-866Nhưtrên
Đường thốngtrị, Độclập (triềuđại nhà KhúcDương Đình Nghệ, và Kiều Công Tiễn), NgôTĩnh Hảiquân866-967Nhưtrên
Triềuđại nhà ĐinhTiền Lê và ĐạicồViệt968-1054Nhưtrên
Triềuđại nhà và nhàTrầnĐạiViệt1054-1400Mởrộng lãnhthổ phíanam dàiđến Huế.
Triềuđại nhàHồĐạingu1400–1407Nhưtrên
Minh thốngtrị, Triềuđại Hậu-TrầnGiaochỉ1407–1427Nhưtrên
Triềuđại nhà MạcTrịnhNguyễn LordsTâysơn DynastyNguyễn DynastyĐạiViệt1428-1804Dầndần mởrộng lãnhthổ Việtnam như ngàynay.
Nguyễn DynastyViệtnam1804–1839Việtnam hiệnnay và mộtphần lãnhthổ chiếmđóng của Laos và Cambodia.
Nguyễn DynastyĐạinam1839–1887Nhưtrên
Triều Nguyễn Nhànước Bảohộ Pháp Đôngdương thuộc Pháp, baogồm Cochinchine thuộc Pháp (Namkỳ Việtnam), Annam 
(Trungbộ), Tonkin (Bắcbộ), ‘Cambodge’, and Laos
1887–1945Việtnam, Lào, và Cambodia.
Thời Cộnghoà Việtnam (mang những tên như Cộnghoà DânchủNhànước ViệtnamViệtnam CộnghoàCộnghoà Xãhộichủnghĩa)Việtnam Dânchủ Cộnghoà (1945–1976 BắcViệt),
Nhànước Việtnam (1949–1955),
Việtnam Cộnghoà (1955–1975 Việtnam),
Cộnghoà Xãhộichủnghĩa Việtnam (1976–tớinay)
Nước Việtnam hiệnđại.

Hầuhết các triềuđại Việtnam được đặttên theo họ của nhàvua, khácvới các triềuđại Trungquốc, vốn mang têngọi do các vị sánglập triềuđại quyếtđịnh và thường đượcdùng như tên quốcgia.

Triềuđại Hồngbàng là một triềuđại của dân tộc  LạcViệt LạcViệt trước thờikỳ sửký. Các triềuđại nhà ThụcTriệu, Tiền Lý, NgôĐinhHậu LêTrầnHồMạcTâysơn, và Nguyễn thường được sửgia xemnhư các triềuđại chínhthức. ‘Triều Tâysơn’ của Nguyễn Huệ thựcchất là một têngọi do sửgia đặtra để tránh nhầmlẫn với Triều Nguyễn của Nguyễn Ánh.


*Tổnghợp từ nguồnhttps://en.wikipedia.org/wiki/Early_Lê_Dynasty

Trong lịchsử, cả trước lẫn sau thờikỳ Trungquốc đôhộ Annam, những người Hoa didân đã khôngthể phủnhận là đã dunhập vănhóa Nhogiáo vào xãhội Việtnam. Ở Việtnam, vôsố phươngdiện của đờisống thườngnhật — từ phongtục, tậpquán cho đến họtên và địadanh — đều phảnchiếu các dạngthức Trunghoa, nhiềukhi đến mức gầnnhư trùnglặp. Vănhóa Trunghoa từ lâunay được trọngvọng và được thựchành với mứcđộ nghiêmtúc đếnnỗi mọi biếnđổi, dù lợi hay hại, đều chỉ xảyra mộtcách từtốn. Điềunày đốinghịch với Nhậtbản và Hànquốc, nơi các lễhội và ngàylễ Trunghoa đã bị từbỏ dứtkhoát để nhườngchỗ cho các bảnsắc vănhóa bảnđịa.

Chẳnghạn, trongkhi Tết Nguyênđán và Tết Trungthu hầunhư đã biếnmất khỏi đờisống côngcộng ở Hànquốc và Nhậtbản, chúng vẫn được cửhành náonhiệt tại Việtnam. Các lễhội này gắnkết chặtchẽ với các nghithức tảomộ tổtiên vào Đôngchí và Xuânphân, những thựchành vẫncòn bámrễ sâusắc trong tâmthức vănhóa Việtnam.

Tuynhiên, các lễhội có nguồngốc Trunghoa khác như Tết Nguyêntiêu (元宵節 ‘Lễhội Đènlồng’) và Tết Đoanngọ (端午節 ‘Lễ Thuyềnrồng’) đã chứngkiến sựsútgiảm trong mức thựchành, đặcbiệt do những đứtđoạn gâyra bởi các cuộc chiếntranh kéodài, nhấtlà trong những thậpniên cuốicùng của thếkỷ XX. Dùvậy, vẫn có những dấuhiệu rõrệt của một đợt phụchưng vănhóa: các thựchành này đã bắtđầu táixuấthiện trong những năm đầu thếkỷ XXI với sinhkhí và sựhưởngứng mạnhmẽ hơn.

Bảng 2 – Cáchtính lịchâm Việtnam

“Năm 1985 là một trong số ít năm mà lịchâm Việtnam và Trungquốc saikhác đángkể: Tết Việtnam sớm hơn Tết Trungquốc một tháng. Nguyênnhân cóthể nhậnra từ bảng trên (informatik.uni‑leipzig.de). Đôngchí năm 1984 rơi vào ngày 21/12/1984 theo giờ Hànội, nhưng vào ngày 22/12/1984 theo giờ Bắckinh, trùngvới ngày Sóc mới. Tháng 11 của âmlịch Trungquốc bắtbuộc phải chứa Đôngchí, vìvậy nó khôngphải là tháng từ 23/11/1984 đến 21/12/1984 như trong lịch Việtnam, mà là tháng bắtđầu từ 22/12/1984. Hệquả là các tháng tiếptheo (12, 1, …) cũng bắtđầu muộn hơn khoảng một tháng sovới các tháng tươngứng của lịch Việtnam. Trong khi Tết ở Việtnam rơivào ngày 21/1/1985, thì ở Trungquốc là ngày 20/2/1985. Hai lịch này chỉ trùngnhau trởlại saukhi lịch Việtnam chènthêm một thángnhuận (tháng từ 21/3/1985 đến 19/4/1985, như thấy ởtrên). Ngoàira, trong năm 1984, tháng âmlịch Trungquốc từ 23/11/1984 đến 21/12/1984 là tháng âm đầutiên sau Đôngchí 1983 không chứa một Trung khí nào, nên được xem là thángnhuận.

Trong thếkỷ XXI, có ba năm mà Tết âmlịch ở Việtnam và Trungquốc không trùng ngày. Năm 2007, Tết Việtnam rơi vào ngày 17/2/2007, còn Tết Trungquốc vào ngày 18/2/2007. Năm 2030, các ngày tươngứng là 2/2/2030 và 3/2/2030; và năm 2053 là 18/2/2053 và 19/2/2053.”

Nguồn: http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/amlich/calrules_en.html

B. Việtnam về mặt nhânvănhọc cónghĩalà ‘Việt ở phươngNam’ — hànhtrình namtiến lâudài của dân tộc Việt.

Qua thờigian, các yếutố vănhóa và ngônngữ Việtnam đã thaythế mộtcách dứtkhoát các đặctrưng Chăm và Khmer từng địnhhình vùng lãnhthổ trungbộ của các vươngquốc Chămpa và Khmer nay đã biếnmất, những vùngđất chỉ mới được Việtnam sápnhập trong thờikỳ khá gần đây. Điềuđángchúý là nhiềunơi còn giữ các địadanh trùngkhớp với các địadanh của Trungquốc thời trungđại.

Ngoạitrừ các tỉnh Tâybắc Việtnam, nơi địadanh bảnđịa phảnánh ngônngữ của các cộngđồng thiểusố vẫn chiếm đasố dâncư, hầuhết các vùng khác đã trảiqua một quátrình đổithay địadanh trên quymô lớn. Những lưudân muộnmàng từ miềnBắc Việtnam, kểcả những người dicư từ các vùng phíanam Trungquốc, đã dần thaythế các địadanh bảnđịa từ bắc vào nam. Sựchuyểndịch này kéodài từ vùng Bắc‑Trungbộ hiệnnay ở vĩtuyến 16 cho đến mũi Càmau ở cựcnam, nhìnra Vịnh Tháilan, dọctheo hơn 3.260 kilômét đường bờbiển.

Các vídụ tiêu‑biểu gồm có:

  • Tháinguyên (Tàiyuán 太原)
  • Sơntây (Shānxī 山西)
  • Hànội (Hénèi 河內)
  • Hànam (Hénán 河南)
  • Hàbắc (Héběi 河北)
  • Hàđông (Hédōng 河東)
  • Hàtây (Héxī 河西)
  • Trùngkhánh (Chóngqìng 重慶)
  • Tràngan (Cháng’ān 長安) — còngọilà Trườngyên, dùngcho kinhđô thếkỷ X thời nhàLý và vẫnđược dùngđể chỉ Hànội trong đầu thếkỷ XX
  • Bắcninh và Tâyninh (Běiníng 北寧và Xīníng 西寧) — songhành với Xīníng ở Tâncương và đốiứng với Nánníng 南寧 ‘Namninh’ ở Quảngtây
  • Thuậnhoá (Shùnhuá 順化)
  • Quảngnam (Guăngnán 廣南) — đốiứng với Guăngdōng 廣東 và Guăngxī 廣西

Ngaycả những têngọi tưởng như thuầnViệt cũng thường hélộ gốc Hán‑Nôm. Chẳnghạn:

  • Kẻchợ (Jīngchéng 京城, SV kinhđô) nghĩalà ‘Kinhđô’, tươngđương với Keijō trong tiếngNhật. Đànẵng, từngđược chép là Xiàngăng 峴港 (HV Hiệncảng), được các cộngđồng Phúckiến và Hảinam đọc là Kẻon ngay từ thếkỷ XVIII.

Ngoài các thànhphố lớn, vôsố thịtrấn và thônxã mang các têngọi cấutạo từ yếutố Hán‑Việt, chẳnghạn:

  • Hoàihương (Huáixiāng 懷鄉)
  • Bồngsơn (Péngshān 蓬山)
  • Bìnhtân (Píngxīn 平津)
  • Longan (Lóng’ān 隆安)
  • Gianghĩa (Jiāyì 嘉義)
  • Longxuyên (Lóngchuān 龍川)

Kiểu đặttên này phảnánh môthức thuộcđịa tươngtự tại Hoakỳ, nơi các địadanh Anhquốc được mang sang bờ Đông như New England, New York, New Hampshire.

Sốlượng địadanh gốc Trunghoa đượcdùng tại Việtnam gầnnhư khôngthể đếm xuể. Ngoài các têngọi thừakế, còncó những têngọi mới được tạo bằng từvựng Hán‑Việt, đặcbiệt tại các vùngđất chỉ mớiđược sápnhập từ Chămpa và Khmer vào thếkỷ XVIII. Các têngọi này gợilại một cảmthức thânthuộc với truyềnthống HánViệt, đồngthời vẫngiữ dấuvết của bảnsắc của cưdân bảnđịa. Các vídụ gồm Quynhơn, Nhatrang, Phanrang, Sóctrăng, tấtcả đều phảnánh quátrình namtiến của lưudân Việtnam trong vài thếkỷ gầnđây.

Hình 1 – Bảnđồ vươngquốc Chămpa cổ (Campadesa – thếkỷ II đến thếkỷ XVIII)

Lãnhthổ Chămpa, tô màuxanh, nằm dọctheo bờbiển miềnNam Việtnam hiệnđại. Ở phíanam (màuvàng) là ĐạiViệt; ở phíatây (màuxanhdương) là Angkor Wat (Đếthiên-Đếthích).
(Nguồn: https://en.wikipedia.org/wiki/Champa)

Khaiquật khảocổ tại Việtnam đã pháthiện nhiều trốngđồng, tiêubiểu là loại Đôngsơn và Ngọclữ, được chônsâu dưới những tầngđất dày. Những cổvật này phảnánh một truyềnthống luyệnkim pháttriển cao, thế nhưng cưdân Việtnam hiệnđại sống ngay trên các tầng vănhoá ấy lại hoàntoàn khônghề biếtđến sựtồntại của chúng. Dẫuvậy, họ vẫn tựnhận mình là hậuduệ của những người đã sángtạo ra các trốngđồng này. Những hoạtiết khắc trên mặt và vành trống môtả thuyền gỗ và chimdàilông vốnđược quycho người LạcViệt 鵅越 (LuóYuè), và có hìnhthức rất gần với các hoạtiết trên trốngđồng mà người Choang (Tráng), gọi theo tiếngViệt là Nùng, ngàynay vẫncòn sửdụng.

Người Choang là dântộc thiểusố lớn nhất tại Khu Tựtrị Quảngtây ở Hoanam, với hơn 18 triệu người, chưakể cộngđồng cưtrú tại vùngnúi cao phíabắc Việtnam. Tráivới những cổvật bị vùilấp và bị lãngquên trong lòngđất Việtnam, cộngđồng Choang vẫn tiếptục sửdụng trốngđồng trong các nghilễ và sinhhoạt tínngưỡng, bảotồn một sựliêntục vănhoá chothấy họ cóthể là hậuduệ trựctiếp của những nghệnhân xư­a. Ngượclại, những người tựnhận là concháu của BáchViệt (Yue), tức người Việtnam, dườngnhư đã táchrời khỏi disản tâmlinh và kỹthuật được kếttinh trong các cổvật ấy.

Sựđứtđoạn này cóthể bắtnguồn từ nhiều thếkỷ chiếntranh đã phávỡ các mạch liênkết vănhoá bảnđịa. Việc trốngđồng còn tồntại ở Việtnam cólẽ là nhờ chúng bị chôngiấu, thoátkhỏi chínhsách nấuchảy đồđồng quymô lớn của nhàHán. Mặcdù tại Hoanam vẫncòn tồntại một tiểu-vănhoá trốngđồng phảnánh cộirễ BáchViệt (Yue) của Annam cổđại, nhưng hàng thếkỷ triềuđại nhàHán thốngtrị đã gópphần làm maimột trithức luyệnkim của ngườiViệt cổ. Sau thời Hán đôhộ, những lànsóng didân từ Trunghoa tiếptục đẩynhanh quátrình thuộcđịahoá Annam.

Nhiều nhà khảocổ Việtnam đã nhận các cổvật này là sởhữu của tổtiên ngườiViệt bảnđịa từng sinh sống tại miềnBắc Việtnam ngàynay. Tuynhiên, Thờikỳ Đồđồng cótrước sựhìnhthành của cộngđồng Annam, một tậphợp dântộc được cấuthành từ tộcngười BáchViệt (Yue) và Hán. Vìvậy, các khái niệm Annam hay Việtnam chỉ những căntính bảnđịa biếnđổi qua nhiều đợt didân Hán kếtiếp nhau. Điềunày tươngtự như cách thuậtngữ ‘Hán’ dần trởthành một phạmtrù rộng chỉ toànbộ thếgiới “Trunghoa”.

Những tuyênbố của mộtsố họcgiả Việtnam thiênvị chủnghĩadântộc về nguồngốc cổvật tại vùng phíanam Việtnam thiếu cơsở lịchsử. Việc khẳngđịnh rằng các cổvật ấy do “tổtiên người Việtnam” tạora là khôngđúng, vì vùngđất này chỉ được sápnhập vào cuốithếkỷ XVIII. Những cổvật tìmthấy tạiđây thuộcvề các nền vănminh Sahuỳnh và Ốc-Eo trên vùngđất nước Chămpa và Khmer cổ. Cáchđây chỉ năm thếkỷ, biêngiới ĐạiViệt vẫncòn dừng lại ở Thanhhoá ngàynay. Các vươngquốc Chăm ở phíanam đã caitrị vùng đất này hơn một thiênniênkỷ theo chếđộ quânchủ chatruyềnconnối. Chỉ saukhi họ suyvi vào thếkỷ XIII, các triềuđại Việtnam mới bắtđầu mởrộng lãnhthổ. Từđó, cưdân Kinh dicư hàngloạt vượtqua Thuậnhoá, nơi kinhđô Huế được thiếtlập vào đầu thếkỷ XIX. Đến thờiđiểm ấy, Việtnam đã vươntới mũi Càmau, nhìnra Vịnh Tháilan.

Tưliệu nhânchủng trong bảy thậpniên qua ủnghộ giảthuyết rằng cưdân Tháicổ (Taic) bảnđịa, tổtiên của BáchViệt (Yue), đã hoàtrộn với các nhóm dumục có nguồngốc Tạng để hìnhthành quầnthể tiền-Hán. Những nhóm tiền-Hán này đã rời các vùngđất cằncỗi ở tâybắc để tiếnvề vùngđất phìnhiêu của Hoanam cáchnay khoảng 4.000 năm (xem Shifan Peng, 1987). Các thuậtngữ Dai và Tai (Tày và Thái cổ) thường đượcdùng thaythế nhau; họcgiả Đàiloan thậpniên 1960 dùng 臺 (Tái) cho Tai (Ding Bangxin, 1977) và 傣 (Tài) cho Dai.

Qua nhiều thiênniênkỷ, trước áplực xâmnhập của kỵbinh dumục phương Bắc, các bộlạc BáchViệt (百越, ‘Yue’) đã dicư xuống phươngNam, cuốicùng đến bánđảo Đôngdương, baogồm đôngbắc Myanmar, đôngnam Ấnđộ, Tháilan, và mũi Càmau (xưa dân Khmer gọi Ttœ̆kkhmau, nghĩa là “Mựcđen”), cũngnhư Campuchia. Môhình dicư này phùhợp với các lýthuyết ngônngữ NamÁ, liênkết tổtiên BáchViệt (Yue) với các nhóm Munda, Mon-Khmer và Chăm trong hai ngữhệ NamÁ và NamĐảo. Những từvựng chung, như sốđếm Khmer từ 1–5 hay đạitừ Chăm, củngcố mối liênhệ này.

Vềmặt lịchsử, người Khmer và người Chăm đã sánglập hai vươngquốc hùngmạnh bậcnhất ĐôngnamÁ: Đếchế Khmer và Vươngquốc Champa. Các nghiêncứu ditruyềnhọc chothấy ngườiChăm cổ có liênhệ với tộc Li ở Đảo Hảinam. Cólẽ những người Li ấy khônghề biếtrằng những người anhem phươngNam của họ đã xâydựng một vươngquốc tồntại hơn 1.600 năm, từ thếkỷ II đến năm 1832, được sửsách Trunghoa ghilại dưới tênnước Lâmấp (林邑) và Chiêmthành (占婆國).

Bảng 3 — Đánhgiá độ chínhxác về mặt lịchsử, ngônngữ và di truyền
của nhậnđịnh liênquan đến Đếquốc Khmer và Vươngquốc Chămpa


Tổngthể mà nói, nộidung của nhậnđịnh này, xét trên ba phươngdiện lịchsử, ngônngữ và di truyền, nhìnchung là đúng, tuy mứcđộ chínhxác của từngphần khôngđồngnhất.

Một, về vịthế quốcgia của Khmer và Chămpa Đếquốc Khmer và Vươngquốc Chămpa đềulà những quốcgia quantrọng trong lịchsử ĐôngNamÁ. Khmer từ thếkỷ IX đến thếkỷ XV giữ vịthế chủđạo trong vùng; Chămpa từ thếkỷ II đến năm 1832 nổibật với hảithương, kỹthuật hànghải và giaolưu với Trungquốc, ĐạiViệt, Java và Śrīvijaya. Vìthế, nhậnđịnh rằng đâylà những quốcgia hùngmạnh của ĐôngnamÁ là phùhợp.

Hai, về quanhệ ditruyền cổđại giữa Chăm và người Lê ở Hảinam Các nghiêncứu ditruyền cho thấy người Chăm và người Lê đều mang thànhphần tổtiên thuộc ngữhệ NamĐảo, song mối liênhệ này thuộc dạng thânthuộc phânnhánh sớm, chứ khôngphải quanhệ truyềnthừa trựctiếp. Vìvậy, nói rằng “có liênquan” là đúng; nhưng nếu hiểu theo nghĩa tổtiên trựchệ thì không phùhợp với kếtluận của di truyềnhọc hiệnđại.

Ba, về việc người Lê khôngbiết nhóm đồngnguồn ở phươngnam từng lập nên Chămpa Đây là một nhậnđịnh có tính tutừ vănhoá. Người Lê và người Chăm đã phânhoá từ lâu về ngônngữ, vănhoá và lịchsử, không có kýức chung. Vìvậy, nói “chưahẳn biết” là một quansát hợplý, chứ khôngphải một mệnhđề cóthể kiểmchứng trựctiếp bằng sửliệu.

Ảnhhưởng ngônngữ NamÁ đối với tiếngViệt bắtnguồn sâuđậm trong tầnggốc bảnđịa. Những tàntích từvựng cơbản như (OC */ŋa/) hay mắt (OC /mukw8/) xuất hiện trong nhiều ngônngữ khu vực: Khmer /ka:/, Tiền-NamÁ /ka/, và Malay ‘mata’. Những dạngthức chung này chothấy từvựng Khmer và Chăm đã thấmvào tiếngViệt, chonên được xếpvào họ NamÁ Mon-Khmer.

Tuynhiên, hiệntượng này nhiều khảnăng phảnánh sự tiếpxúc địalý và lantruyền từvựng hơnlà quanhệ huyếtthống trựctiếp. Vídụ, tên các congiáp trong hệthống Thậpnhị Chi của Trungquốc được các cộngđồng tiền Tần‑Hán tiếpnhận trước, rồi vềsau đivào tiếngViệt dưới những dạng bảnđịahoá: Hán‑Việt 子 zǐ (Việt chuột), sửu 丑 chǒu (trâu), dần 寅 yín (cọp = chằn), mão 卯 máo (mẹo = mèo), v.v. (xem An Chi, Rong chơi Miền Chữ nghĩa, 2016, tập 1, tr. 80–86, 159–183).

Xétvề phươngdiện dântộc, khôngcógìlạ khi trong thếkỷ XXI, dânsố Việtnam gồm 54 dântộc được côngnhận, và bấtkỳ côngdân nào cũng cóthể lần theo tổtiên của mình đến một trong các nhóm ấy. Điều này càng hợplý khi xétđến các yếutố lịchsử và địalý. Chẳnghạn, một nhàkhảocổ sinhra tại vùng Sahuỳnh, vốn từng thuộc Vươngquốc Chămpa và được sápnhập dưới triều nhàTrần vào thếkỷ XIII, cóthể tựhào cho rằng các cổvật của nền vănhoá Sahuỳnh được tìmthấy tại quêhương mình là do tổtiên họ tạodựng, bấtkể tổtiên ấy có phải là cưdân bảnđịa nguyênthuỷ hay không.

Tuynhiên, xéttheo gócđộ dântộchọc quốcgia, việc khẳngđịnh rằng những nghệnhân tạora các cổvật ấy là tổtiên trựctiếp của người Việtnam là khôngchínhxác. Nhóm Kinh chiếm hơn 85,32% dânsố hiệnnay, táchbiệt với các dântộc thiểusố, chỉ mới địnhcư dầndần gần các dichỉ khảocổ này trong khoảng gần một thiênniênkỷ, theo hướng dicư từ Thanhhoá ngàynay xuống phươngNam. Chuyểnđộng lịchsử dàilâu này khiến mọi tuyênbố về quanhệ tổtiên trựctiếp trởnên phứctạp, đồngthời nhấnmạnh bảnchất tầnglớp và hợpthành của căntính Việtnam.

Vấnđề cốtlõi nêutrên liênquan trựctiếp đến những côngdân Việtnam được xácđịnh là người Kinh trong tổngđiềutra dânsố gầnnhất, kểcả những người có giatộc sinhsống lâuđời tại các vùng có pháthiện cổvật khảocổ. Những tuyênbố nhưvậy chỉ cóthể hợplý nếu đặt trong dòng thờigian lịchsử phùhợp với quátrình sápnhập hoàntoàn các vùng đất sau sựsuyvong của vươngquốc Chămpa hay đếchế Khmer. Những người có nguồngốc Chăm hay Khmer cóthể chínhđáng nhận các cổvật ấy là disản tổtiên. Bảnthân tácgiả sinhra tại vùng Chămpa ở miềnTrung Việtnam, chamẹ cũng vậy; tuynhiên, các cổtích được khaiquật tại vùngđất ấy không thuộcvề những nghệnhân bảnđịa đã mất từlâu trong giatộc bênnội của ông. Xétđến niênđại của các cổvật, việc nhận mình là hậuduệ của những người sángtạo ra chúng là khôngđúng về mặt lịchsử, nhấtlà khi tổtiên bênnội của tácgiả chỉ dicư từ Trunghoa vào Việtnam vào thếkỷ XIX.

Như đã nhấnmạnh trướcđây, cộngđồng Kinh, mà tổtiên banđầu hìnhthành bộphận dânsố chủyếu, xuấthiện từ một hợpthể ditruyền được kýhiệu ởđây là {4Y6Z8H}, biểuthị các dòngdõi Yue‑Hán ghépcành trên nền tổtiên Tai (Tháicổ). Vềmặt nhânchủng, người Hán thời nhàHán, vốnlà hậuduệ của nước Sở và các nhànước Yue (BáchViệt cổ), đã tiếnvào Annam và hoàtrộn với cưdân bảnđịa tại lưuvực Sông Hồng, trongđó nhiều nhóm cũngcó nguồngốc từ Hoanam. Trong 900 năm qua, tổtiên ngườiViệt đã lặplại môhình dicư này, dầndần mởrộng xuống phươngNam. Chặngcuối của hànhtrình ấy đưa đasố ngườiKinh đến mũi Càmau ở cựcnam bánđảo Đôngdương. Vìvậy, quyền sởhữu vănhoá đốivới các cổvật tìmthấy tại miềnTrung và miềnNam Việtnam phụthuộc nặngnề vào thờikỳ mà chúng được tạora, được biểuthị ởđây bằng hai môhình {4Y6Z8H+CMK} và {CMK}.

Khi bànvề “cộirễ”, ta trởlại nềntảng sinhhọc, tức hệ ‘gen’ biểulộ qua ngoạihình và sắcthái. Với ngườikhôngquen, kểcả ngườiphươngTây, việc phânbiệt ngườiViệt và ngườiTrunghoa trong các nhóm hỗnhợp, chẳnghạn sinhviên thếhệ thứhai tại các cơsở giáo dục Hoakỳ, khôngphải lúcnào cũng dễdàng. Tươngtự, vềmặt ngônngữ, tuy người phươngTây cóthể phânbiệt tiếngViệt với các ngônngữ Môn-Khmer, nhưng họ thường khó phânbiệt tiếngViệt với tiếng Quảngđông. Lýdo là vì tiếngViệt vậnhành như một ngônngữ thiên-Hán (Sino‑xenic), dựatrên nền Yue nhưng thấmđẫm yếutố Hán, hơnlà một ngônngữ Mon-Khmer thuần.

Khôngcógì bíẩn khi tiếngViệt chiasẻ một phầnlớn từvựng với tiếngHán, nhiều hơn bấtkỳ nguồngốc ngônngữ nào khác. Những đặcđiểm chung này xuấtphát từ các lớp trầmtích lịchsử mà các dạng Háncổ và phươngngữ Hoanam đểlại. Vìsao cách nóinăng của haibên lại gầnnhau đến vậy? Bằngchứng gợiý một mốiliênhệ sinhhọc. Xétvề quanhệ ditruyền với các cộngđồng lâncận tại Hoanam, những tiếnbộ trong côngnghệ DNA hứahẹn sẽ giúp các nhànhânchủng xácđịnh rõhơn thànhphần ditruyền của ngườiViệt, được kýhiệu ởđây là {4Y6Z8H+CMK}.

Thựctế chothấy, vềmặt ditruyềnhọc, hiệnnay đã xuấthiện nhiều côngtrình nghiêncứu mới được côngbố rộngrãi trênmạng, cóthể tiếpcận dễdàng; chẳnghạn bảng tómtắt tríchdẫn từ https://www.ncbi.nlm.nih.gov/ trong hộpthoại dướiđây chỉlà một vídụ.

Bảng 4 – Gen ditruyền HLA‑DR và HLA‑DQB1 đadạng trong quầnthể ngườiKinh tại Hànội

Vũ Triệu A, Djoulah S, Trần Thị C, Nguyễn Thanh T, Le Monnier De Gouville I, Hors J, Sanchez-Mazas A.
Nguồn: Department of Immunology and Physiopathology, Medical College of Hanoi, Vietnam.

Tómtắt:

Chúngtôi trìnhbày tạiđây phép địnhdạng PCR‑SSO (polymerase chain reaction sequence‑specific oligonucleotide) đốivới các locus HLA‑DR B1, B3, B4, B5 và DQB1 trên một mẫunhóm gồm 103 ngườiKinh tại Hànội, đồngthời sosánh tầnsuất allen và haplotype của họ với các quầnthể ĐôngÁ và Hảiđảo đãđược khảosát trong Hộinghị HLA Quốctế lần thứ 11 và 12. Nhóm Kinh biểulộ mộtsố allen có tầnsuất rấtcao tại locus DRB1 (1202, đãđược xácnhận bằng giảitrìnhtự DNA, và 0901) và DQB1 (0301, 03032, 0501), khiến họ trởthành mộttrongnhững quầnthể đồngnhấtnhất từngđược thẩmđịnh về HLA lớp II tại ĐôngÁ. Ba haplotype chiếm gần 50% tổng tầnsuất haplotype ở ngườiViệt. Haplotype phổbiến nhất là HLA‑DRB11202‑DRB30301‑DQB10301 (28%), cũnglà haplotype trội trong cưdân Hoanam, Micronesia và Java. Ngượclại, DRB11201 (phổbiến tại vùng Tháibìnhdương) hầunhư không xuấthiện ở ngườiViệt. Haplotype phổbiến thứhai là DRB10901‑DRB401011‑DQB103032 (14%), cũng thườnggặp trong nhiều quầnthể Trunghoa khácnhau, nhưng với chuỗiphụ khác (DRB40301) ở phầnlớn các nhóm dântộc.

Khoảngcách ditruyền được tínhtoán cho một tậphợp các quầnthể Áchâu và Hảiđảo có dữliệu DRB1 và DQB1 chothấy ngườiViệt có quanhệ gần với ngườiThái và với nhiều nhóm Trunghoa ở các vùng khácnhau. Những kếtquả này, phùhợp với bằngchứng khảocổ và ngônngữ, đónggóp vào việc hiểurõ hơn nguồngốc của quầnthể ngườiViệt, vốn trướcđây còn nhiều điểm chưa sángtỏ.

PMID:9442802[PubMed – indexed for MEDLINE]

Nguồn: http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/9442802

From the first chapter the author has gone a great length to substantiate a hypothesis that today’s Vietnamese Kinh racial stock come out of a mixed stock, so is their language as a result of the proto-Chinese moving in into China South from the southwest hundreds of years prior to the Western Han period (206 B.C.). After hundreds of years the new racially-mixed populace then continued to emigrate southward on a lager scale to today’s Vietnam’s northern region, and after that, part of land had been annexed to the Han’s map. For the prehistoric evidences, archaeologically,

Table 4 – Affinities of the Mạnbắc people
to later early Metal Age Đôngsơn Vietnamese

The excavation of the Man Bac site (c. 3800–3500 years BP) in Ninh Binh Province, Northern Vietnam, yielded a large mortuary assemblage. A total of 31 inhumations were recovered during the 2004–2005 excavation. Multivariate comparisons using cranial and dental metrics demonstrated close affinities of the Man Bac people to later early Metal Age Dong Son Vietnamese and early and modern samples from southern China including the Neolithic to Western Han period samples from the Yangtze Basin. In contrast, large morphological gaps were found between the Man Bac people, except for a single individual, and the other earlier prehistoric Vietnamese samples represented by Hoabinhian and early Neolithic Bac Son and Da But cultural contexts. These findings suggest the initial appearance of immigrants in northern Vietnam, who were biologically related to pre- or early historic population stocks in northern or eastern peripheral areas, including Southern China. The Man Bac skeletons support the ‘two-layer’ hypothesis in discussions pertaining to the population history of Southeast Asia. 

(See Morphometric affinity of the late Neolithic human remains from Man Bac, Ninh Binh Province, Vietnam: key skeletons with which to debate the ‘two layer’ hypothesis, co-authored by Hirofumi MATSUMURA, Marc F. OXENHAM, Yukio DODO, Kate DOMETT, Nguyen Kim THUY, Nguyen Lan CUONG, Nguyen Kim DUNG, Damien HUFFER, Mariko YAMAGATA (2007) at http://www.jstage.jst.go.jp/article/ase/116/2/135/_pdf

Những kếtquả nêutrên khôngchỉ ủnghộ lýthuyết về sựhìnhthành của cộngđồng Kinh chiếmưuthế tại Việtnam, mà còn phảnánh những môhình dântộcchí rộnglớnhơn từng được quansát trên toàn vùng Hoanam và ĐôngnamÁ. Qua hàngnghìnnăm, những lànsóng didân Trunghoa kếtiếpnhau, mộtphần có nguồngốc Altaic từ Trunghoa phươngBắc, baogồm cả các nhóm Hẹ (Hakka) phươngĐông, đã dicư xuống phươngNam, dầndần thếchỗ cưdân bảnđịa tại những vùng như Mạnbắc thuộc Tỉnh Ninhbình.

Điều đángchúý là trong số những nhóm địnhcư sớmsủa ấy, một trong những thắngcảnh đẹpnhất của tỉnh, nơi sơnthuỷ giaohoà, được đặt tên là Tràngan, một tên gọi gợinhớ Chang’an 長安, cốđô của các triềuđại Trunghoa. Điềunày khiến Tràngan trởthành địađiểm thứhai tại Việtnam, bêncạnh Hànội, mang một têngọi trựctiếp phỏngtheo trungtâm lịchsử của Trungquốc cổ. (Cũng nên lưuý rằng Chang’an nguyênthuỷ nay gọilà Tâyan, thuộc Tỉnh Thiểmtây, từng là kinhđô thời nhàĐường.)

Quátrình dicư này cóthể đã xảyra vào nhiều thờiđiểm khácnhau trong 3.800 năm qua. Theo các giảthuyết hiệnhành, thànhphần chủngdạng của ngườiKinh Việtnam ngày nay phảnánh sựhoàtrộn của những nhóm didân Trunghoa bị dờidạt từ cả Trunghoa phươngBắc lẫn phươngNam. Nhóm sau được xem là hậuduệ của BáchViệt (百越,) hay Yue (粵, cũng viết 越, 鉞 trong thưtịch cổ), baogồm các dântộc như Dai 傣 (HN Tày), Zhuang 莊 (Bouxcueng, HN Nùng), Tong 垌 (Đồng), Shui 水 (Thuỷ), Maonan 毛南 (Môn), Miao 苗 (Mèo, H’mong), và nhiều nhóm thiểusố phươngNam khác.

Tổtiên của ngườiBáchViệt (Yue) đượccholà xuấtphát từ người Tai (tộcngười Thái nguyênthỉ 傣族) trước năm 3000 TCN. Các nhóm Tai này khôngchỉlà tổtiên của người Dai (Tày) hiệnđại tại Vânnam, Quảngtây, Tháilan, Lào và Bắc Việtnam, mà còn từng cưtrú trong các nhànước cổđại như Chu (周朝), Sở (楚國), và các thựcthể tiền‑Tần‑Hán. Qua nhiều thếhệ, những cộngđồng này hoàtrộn với các nhóm dântộc khác trong Thời Chiếnquốc, rồi tiếptục hoàtrộn với cưdân Tần (秦 Qín) và TâyHán (西漢), hìnhthành nên khối Hán tậphợp và căn tính Trunghoa rộnglớn. Nhiều hậuduệ của họ, baogồm cả các dântộc thiểusố bảnđịa, vẫncòn sinhsống tại các vùng này cho đếnnay (xem Xu Liting, 1981).

Trướckhi các nhóm Yue trỗi dậy, đặcbiệt là các chínhthể Sở và NamViệt, và trước khi các nhóm Thổ (Turkic) thuộc hệ Altaic xuấthiện, cưdân Tháicổ (Taic) từng giữ vịthế chủđạo trên những vùng lãnhthổ rộnglớn thuộc Hoanam. Đấtđai của họ trảidọc hai bờ Trườnggiang, mởrộng về phíađông đến BiểnĐông Trungquốc, và xuôivề phía nam và tâynam đến các vùng như Vânnam, Tứxuyên, Quýchâu, Quảngtây, Hồbắc, Hồnam, Giangtây, QuảngĐông, Phúckiến, Giangtô, baogồm cả miềnBắc ViệtNam.

Cộngđồng dâncư thời ĐôngChu (770–221 TCN) đượccholà có chủngdạng hỗnhợp, kếthợp thànhphần Tháicổ (Tai) với cưdân đời nhà Thương (1600–1050 TCN) và TâyChu (1046–771 TCN). Những nhóm này cóthể đã hìnhthành từ sựtiếpxúc giữa các bộlạc dumục Tạng và cộngđồng tiền‑Tai trong đời nhàHạ. Nước Tần (778–222 TCN), thựcthể mạnhnhất thời Chiếnquốc, đã hấpthu nhiều nhóm cưdân này. Chiếntranh triềnmiên với các nhóm Yin (Ân) và các nước đốinghịch đãlàm giánđoạn đờisống nôngnghiệp của cưdân của các tộcngười BáchViệt (Yue) dọc Trườnggiang phíanam, buộc nhiều nhóm phải chạy xuống phươngNam để tìm nơi lẫntránh antoàn sinhkế.

Terrien de Lacouperie (1887), trong tácphẩm The Languages of China Before the Chinese (Ngônngữ tại Hoanam trướckhi ngườiHán xuấthiện), đã khảosát disản ngônngữ của các chủngdạng tiền‑Hán. Ông dẫnlời Mạnh Tử 孟子 (thếkỷ IV TCN), người từng nhậnxét rằng tiếngSở có âmđiệu thethé khácbiệt sovới tiếngTề (齊) của Sơnđông. Trong Tảtruyện 左傳 (663 TCN), có ghichuyện một đứa trẻ nước Sở tên Tou‑wutu, tên ghépkép giữa “búmớm” (tou / nou) và “cọp” (wutu 於虎兔), được một concọp cái cứu và nuôi, sau trởthành Tử Văn, một đạiphu nước Sở. Các yếutố “tou” và “wutu” phảnánh từvựng Taic‑Shan: dut trong tiếngXiêm (Tháilan) nghĩalà “bú”, còn htso, tso, su nghĩa là “cọp”. Trong tiếngViệt vẫn còn các dạng tươngứng như cọpđút, hùmđút, hổđút. Dù đã maimột, chúng vẫn tồntại trong các phươngngữ ‘Tchungkia’ của Giangtây 江西, vùnglõi của nước Sở cổ, đếnmức người nói tiếng Xiêm cóthể hiểurõ mà khônggặp khókhăn. Tựđiển Nhĩnhã (爾雅) ghilại 928 từvaymượn vùngmiền, nhiều từ trongsốđó được phiênâm từ ngônngữ Taic‑Sở bằng các hìnhthức đồngâm Hán. Những tàntích ngônngữ này cho thấy Taic và Yue có trước Hánngữ.

Vào thời nhàTần (221–206 TCN), nhiều cưdân Yue bị sápnhập vào đếquốc thốngnhất. Thựcthể mới này, được gọi là Tần (Qin, Chin, Chine, hay Chinese), baogồm các nhóm chủngdạng hỗnhợp từ những vùng đôngbắc và đôngnam bị chinhphục, chiếmkhoảng một nửa lãnhthổ Trungquốc hiệnđại.

Sau sựsụpđổ của nhàTần, nước Sở bị LưuBang, Tiếtđộsứ Hántrung, đánhbại; ông là người sánglập nhàHán (208 TCN). Thuậtngữ “Hán” phátxuất từ nguồncội này. Mặcdù căntính “ngườiHán” chỉ hìnhthành chínhthức sau năm 208 TCN, nó được dùng hồiquy để chỉ các cộngđồng trướcđó.

Saukhi nhàHán thôntính Vươngquốc NamViệt vào năm 111 TCN, quátrình thuộcđịahoá Annam (Giaochâu) tiếptục diễnra qua nhiều triềuđại cho đến năm 939 SCN. Tiếntrình Hánhoá các nhóm Yue bảnđịa — tổtiên của cưdân Quảngtây và Quảngđông ngàynay, baogồm cả cưdân Giaochỉ , càng lúc càng tăngtốc. Sựhìnhthành của “Trungquốc” cóthể được xemnhư sựrađời của một “Liênhiệp Hán”.

Trớtrêu thay, môhình bànhtrướng ấy vềsau lại được các quânvương Annam môphỏng. Từ lưuvực Sông Hồng, họ mởrộng về phíatây và phíanam, tiếpxúc với các cộngđồng nói ngữhệ NamĐảo và NamÁ, tức người Chăm và người Mon-Khmer. Các dântộc vùngnúi chốngđối sự Hánhoá bị gọilà Mọi, tức “mandi”, tươngứng với chữ Man (蠻) mà ngườiHán dùng để chỉ các nhóm phi‑Hán.

Điềunày nảysinh một nghịchlý lịchsử: nếu các nhóm Mon-Khmer có quanhệ huyếtthống với ngườiKinh (1), vìsao họ lại bị kỳthị rộngkhắp? Ngượclại, các nhóm thiểusố phươngBắc thuộc ngữchi Dai hay Yue lại được đốixử khá côngbằng. Người Hán didân, tuy khácbiệt về vănhóa, thườngđược đốixử ưuái (2) và chỉ sau mộthai thếhệ đã hoànhập vào xãhội Việtnam.

Ngàynay, ở bấtkỳ nơinào có cộngđồng ngườiViệt, ai cũng cóthể nhậnra ảnhhưởng tinhvi nhưng thấmsâu của disản Trunghoa trong căntính Việtnam. Khôngcógìlạ khi những thựcthể “Việtnam” thường mang sắcthái “Trunghoa”.

Đếnđây, cóthể thấy rằng saukhi Annam trởthành một quận của Trungquốc, nó được quảntrị tươngtự như các tỉnh Phúckiến và Quảngđông. Môthức này kéodài chođếnkhi Annam giành độclập vào năm 939. Tên “Việtnam” chỉ xuấthiện trong vănbản quốctế vào khoảng năm 1920. Thựcthể Annam cổđại hìnhthành từ những lànsóng didân Hoanam trong phạmvi bànhtrướng của Trungquốc.

Banđầu, nhiều người đến Annam là lính trườngchinh, kiệtquệ sau những chiếndịch bìnhđịnh liênmiên. Kếđến là những nhóm diđân baogồm đôngđảo lưuđày chínhtrị và giatộc của họ, những người bị các triềuđại biếnđộng thanhtrừng (Bo Yang, 1983–1993) (3). Cùng với họ là lànsóng địnhcư lớnhơn: nôngdân nghèokhổ chạytrốn chiếntranh, đóikém và ápbức tại quênhà. Đốivới phầnlớn họ, chuyếnđi xuống phươngNam là mộtchiều; hầunhư khôngai trởvề.

Như đã nêutrước, quyếtđịnh địnhcư vĩnhviễn tại vùng Bắc Việtnam hiệnhành cóthể xuấtphát từ một xunglực dicư sâusắc. Nhiều người trongsố họ lấyvợ bảnđịa hoặc được gảcho các giatộc sởtại, hìnhthành những quanhệ huyếtthống mới. Môhình này tươngtự như trườnghợp Đàiloan hiệnđại, nơi dicư và hônnhân hỗnhợp đã địnhhình căntính vănhóa.

Ai quenthuộc với lịchsử Trunghoa đều biết rằng người Trunghoa didân hầunhư khôngbaogiờ trởvề nguyênquán. Chính sứcnung của “nồisúpde” này cũng lýgiải vìsao hầuhết ngườiViệt đều mang họ Trunghoa.

Vềmặt địalý, vì lýdo tươngtự, phầnlớn địadanh nơi cưdân sơkhai và ngườiKinh từng sinhsống đều tươngứng với các địadanh tại Trungquốc. Chẳnghạn: Sơntây 山西 Shānxī, Hànội 河內 Hénèi, Hàđông 河東 Hédōng, Hànam 河南 Hénán, Thuậnhoá 順化 Shùnhuà, Quảngnam 廣南 Guăngnán, Tâyninh 西寧 Xīníng, Bìnhtân 平津 Píngjīn, Longan 隆安 Lóng’ān, Gianghĩa 嘉義 Jiāyì, v.v.

Qua nhiều năm và nhiều thếhệ, những nhóm didân banđầu — dù từ phươngBắc hay từ các vùng Hoanam xuống sau lànsóng bànhtrướng Hán — đều hoànhập hoàntoàn vào xãhội Annam Hánhoá sâuđậm. Điềunày đặcbiệt đúng với các nhóm Trunghoa phươngNam như Hẹ (客家), Quảngđông (廣東), Hảinam (海南), Phúckiến (福州), và Triềuchâu (潮州). Sựhoànhập diễnra chậmrãi nhưng liêntục, từng thếhệ một, và cuốicùng tấtcả hoàtan vào khối cưdân hỗnhợp được ghinhận trong hộkhẩu hiệnđại là dântộc Kinh.

Cùng nhau, họ hìnhthành cộngđồng quốcgia Việtnam bêncạnh hơn 50 dântộc lớn khác như Miao 苗 (H’mong, Mèo), Zhuang 壯 (Nùng), Dai 傣 (Tày), Tai Noir 黑傣 (Tháiđen), Tai Blanc 白傣 (Tháitrắng), Chamic 占婆 (Chămpa), và Khmer 高棉 (Caomiên).

Didân Trunghoa mang theo vănhóa và phươngngữ của họ, bổsung các yếu tố khẩungữ mới vào ngônngữ Việtcổ, bêncạnh thứ tiếngHán nhàquan (Mandarin) có uythế của giớicầmquyền. Quátrình này đã sảnsinh ra cả Hán-Việt và Hán-Nôm (Sinitic‑Vietnamese). Mặcdù đãcó những côngtrình phântích sự chuyểndạng của tiếngHán Trungcổ thành HánViệt và phụcghi âmđiệu khảdĩ của nó (Nguyễn Tài Cẩn, 1979), vẫnchưa có một nghiêncứu toàndiện nào về cách cả Quanthoại lẫn khẩungữ Hán phươngNam thấmvào ngônngữ Annam cổ, dẫnđến sựhìnhthành của lớp từvựng Hán-Nôm sau một thiênniênkỷ Hán đôhộ.

Quátrình dàilâu này đã địnhhình cả mặt ngữnghĩa lẫn ngữâm của lớp từ HánNôm có nguồngốc Trunghoa. Trong tiếngViệt hiệnhành, còn nhiều dạng đaâm và khẩungữ thôngdụng cóthể truynguyên đến Quanthoại sơkỳ, chẳnghạn:

  • bậnviệc = 忙活 mánghuó
  • bưngbít = 蒙蔽 méngbì
  • mắcbịnh = 犯病 fànbìng
  • ănmày = 要飯 yàofàn

Sựhiệndiện của những từnguyên này chothấy ảnhhưởng sâusắc của Háncổ đốivới tiếngViệt vào cuốithời Đường (907 SCN). Vềmặt ngữnguyên, các từ HánNôm đồngnguyên với những từ cơbản trong Amoy 廈門 (Hạmôn) và Quảngđông cho thấy một tầnggốc ngônngữ bảnđịa chung, nhiều khảnăng thuộc hệ Tai. Chẳnghạn: Hảinam và Amoy /bat7/ “biết”, /kẽ/ “con”, /swã/ “soài”, và Quảngđông /t’aj3/ “thấy”, /lei2/ “lưỡi”, /o5/ “ỉa”.

Ngữpháp tiếngViệt cũng biểulộ một trậttự địaphương đặcthù, nhiều khảnăng thừahưởng từ ngônngữ Yue bảnđịa, trongđó tínhtừ (yếutố bổnghĩa) đứngsau danhtừ (yếutố được bổnghĩa). Chẳnghạn: gàcồ 雞公 (trống). Trậttự nghịchđảo này, tươngtự như trong tiếng Choang (Nùng) và Dai (Tày), là một disản rõrệt của ngữloại Tai nguyênthỉ. Các dạng ngữpháp Háncổ cùng kiểu vẫncòn tồntại trong mộtsố phươngngữ Hoanam như Quảngđông, Amoy và Hảinam (/kaj1kong1/).

Đốivới các nhóm ngônngữ saunày, các việnnghiêncứu Trunghoa chínhthức xếphạng chúng như các phươngngữ Hán do sởhữu mộtsố lượng lớn từvựng Hán và các đặcđiểm ngônngữ khác — ngữpháp, thanhđiệu, từvựng — gầnnhư tươngđương với Hánngữ cả về ngữnghĩa lẫn ngữâm. (4)

Trongkhi người Quảngđông và Phúckiến tại bảnđịa ngàycàng bị Hánhoá mạnhhơn dưới ảnhhưởng của Hán qua các triềuđại từ cổđại đến hiệnhành, thì người Annam và quốcgia độclập của họ lại đi theo một lộtrình riêng trong 1.200 năm qua, hìnhthành một căntính biệtlập. Họ maymắn tránhđược sốphận của các cộngđồng Phúckiến và Quảngđông cổ, những người bảnđịa bị Hánhoá hoàntoàn dưới các chínhquyền phươngBắc mà khônghề haybiết. Vìvậy, mặcdù có những tươngđồng trong tiếntrình lịchsử thờicổ, Hánngữ khôngbaogiờ thaythế được cấutrúc cúpháp lõi của tiếngViệt. Đólà lýdo tiếngViệt không trởthành một phươngngữ Hán, mặcdù sựhoànhập của các nhóm Hán phươngBắc — như quanlại và binhđội xâmlược — vào cộngđồng Annam diễnra suốt nhiều thếkỷ.

Các yếutố vănhóa, như nềntảng Nhogiáo chung, chắcchắn đã làm nhẹnhàng quátrình hoànhập của ngườiHán vào cơcấu xãhội bảnđịa Annam, vốn dễdàng tiếpthu cưdân mới. Sựtươngđồng ngônngữ tại nước sởtại càng đẩynhanh tiếntrình hoànhập vào quêhương mới. Nếukhông hiểurõ chất xúctác nhânchủng này — cách concháu ngườiHán didân trởthành bộphận của khối Kinh — ta khôngthể nắmbắt hoàntoàn bảnchất của nguồngốc tiếngViệt và căntính của những người sửdụng nó.

Ngượclại, ngườiHán didân tại các quốcgia Áchâu khác thường trảiqua một quátrình thíchứng khác, phụthuộc nặngnề vào độkhoandung của nước sởtại. Trong nhiều trườnghợp, sựhoànhập của họ vào vănhóa, ngônngữ và xãhội sởtại kém trọnvẹn hơnnhiều sovới tại Việtnam. Không nơinàokhác trongvùng ngữhệ NamÁ hay NamĐảo ta cóthể tìmthấy một quátrình tươngtự như tại Việtnam. Chẳnghạn, tại Malaysia, Indonesia, và thậmchí trong các xãhội Nhogiáo như Nhật và Hàn, các cộngđồng ngườiHán — hậuduệ của những lànsóng didân nhiều thếhệ trước — thường phảichịu kỳthị kéodài.

Thựctế, thốngkê dânsố chothấy tại các quốcgia ĐôngnamÁ như Malaysia và Indonesia, tỉlệ ngườiHán cao hơnnhiều so với Việtnam, nơi chỉ ghinhận khoảng 1% trong tổngđiềutra năm 2009. Sựkhácbiệt đángkinhngạc này củngcố mạnhmẽ kếtluận rằng ngườiHán didân tại Việtnam đã hoànhập gầnnhư hoàntoàn. Điềunày đặtra câuhỏi: “Điềugì đã xảyra với sốlượng lớn ngườiHán didân trướcđây tại Việtnam, khi họ dườngnhư biếnmất khỏi sốliệu dânsố?” Câutrảlời hiểnnhiên là: “Họ đã trởthành một bộphận hoàntoàn tíchhợp của cộngđồng Kinh.”

Hình 2 – Sưbànhtrướng lãnhthổ của Việtnam

Map of Vietnam showing the conquest of the south (the Namtiến, 1069-1757)

Cam: Trước thếkỷ XI. Vàng: Thếkỷ XI. Xanh lợt: Thếkỷ XV. Xanhđậm: Thế kỷ XVI. Tím: Thếkỷ XVIII. Laichâu và Điệnbiên (Tâybắc): Thếkỷ XIX.

(Nguồn: https://en.wikipedia.org/wiki/History_of_Vietnam)

Trong thếkỷ XXI, một xuhướng đángquanngại đã xuấthiện tại Việtnam, được đánhdấu bởi sựtăngtrưởng và tìnhtrạng táchbiệt dântộc của lựclượng côngnhân Trunghoa khôngphải didân — một hiệntượng gợi nhớ những môhình bấtổn trong quákhứ. Trong haimươi năm qua, nhiều khu địnhcư Trunghoa mới đã mọclên để tiếpnhận những côngnhân vừa đến, phầnlớn là những người nghèokhổ từ các thônxóm hẻolánh tại Trunghoa, thường ởlại quáhạn chứngnhận visa laođộng. Những cộngđồng này, giốngnhư các “phốTàu” mới, mọclên khắpnơi tại Việtnam, thường tâptrung quanh các đặckhu kinhtế có vốn Trunghoa, nhiềunơi hoạtđộng theo các hợpđồng thuê 50 hoặc 90 năm đốivới mỏ, rừng và đấtrừng.

Cuộc bạoloạn chống-Trung vào giữa tháng 5 năm 2014, lanrộng đến hàngtrăm nhàmáy thuộc sởhữu Trunghoa tại Việtnam và dẫn đến nhiều vụ phónghoả cùng 26 trườnghợp tửvong, đã khiến mộtsố ýkiến chorằng đây cóthể là những sựkiện được dànlập bởi các tácnhân Trunghoa nhằm leothang căngthẳng và tạocớ cho các hànhđộng cứngrắnhơn tại Việtnam. Sựkiện này gợilại những biếncố trướcđó, đặcbiệt là việc trụcxuất cộngđồng ngườiHoa, vốn gópphần dẫnđến cuộc chiến biêngiới Việt–Trung năm 1979.

Lịchsử hìnhthành của cộngđồng ngườiKinh Việtnam về bảnnăng chínhlà câuchuyện hoànhập của ngườiHán didân vào xãhội Việtnam, cả trong quákhứ lẫn hiệntại. Quanđiểm này được củngcố bởi chứngcứ lịchsử, bắtđầu từ các vùng phíaBắc của Việtnam ngàynay, nơi những bộlạc hỗnhợp chủngdạng — hậuduệ của nhiều chinhánh Yue cổ — đã tồntại từtrước. Quátrình hoànhập tươngtự tiếptục diễnra khi đấtnước mởrộng xuống phíanam, và điềunày được phảnánh trong hìnhthái ngoạihình của cưdân các vùng khácnhau.

Người BắcViệt hiệnhành có ngoạihình gầnvới cưdân Hoanam Trunghoa hơnnhiều sovới lớp Annam cổ đã dicư xuống phíanam sau thếkỷ XIII. Những nhóm địnhcư này đã hônphối với các cộngđồng bảnđịa được giảthiết là thuộc hệ Namđảo — Polynesia và Malay — cũngnhư với các nhóm Mon-Khmer thuộc hệ NamÁ.

Sựhoànhập banđầu của nhữngngười didân Hán bắtnguồn từ binhsĩ nhàTần xuống xâmlược vùngđất phươngnam. Sau sự xuấthiện của các quanlại thuộcđịa nhàHán cùng bộbinh của họ, rồi tiếptục là những lànsóng didân Trunghoa bị cuốnhút bởi đấtrừng phìnhiêu và thảm thựcvật phongphú ở Annam. Những nhómngười mới đến này hoànhập với lớp cưdân trướcđó và hậuduệ của họ dầndần trởthành một bộphận của khối Kinh trong xãhội Việtnam cổ vềsau. Cùngvới biếndạng dânsố ấy, chínhquyền thuộcđịa đã dunhập Quanthoại như ngônngữ giaotiếp chung. Qua thờigian, nó tiếpthu và biếndạng theo khẩungữ sởtại, tạonên một ngônngữ hỗnhợp được phảnánh qua sựhiệndiện rộngkhắp của cả lớp từ Hán-Nôm và Hán-Việt.

Vềmặt lịchsử, sửliệu về Annam cổ của Trungquốc khá thưathớt. Các sửthư Trunghoa chỉ thỉnhthoảng ghinhận những cuộc nổiloạn và việc trấnáp chúng, nhưng hầunhư không cungcấp chitiết về các cuộc khởinghĩa hay những trậntuyến quyếtđịnh dẫnđến độclập của Annam (xem Bo Yang, 1992–93, quyển 52–67). Trongkhiđó, bảnthân Annam cũng khôngcó sửliệu đầyđủ trước thếkỷ X. Các phảký của những giatộc danhgiá rất hiếm, mơhồ hoặc giátrị lịchsử hạnchế. Vìvậy, các nhànhânchủnghọc khi nghiêncứu nguồngốc ngườiViệt thường phải dựavào sửliệu Trunghoa, đôikhi chỉđược tìmthấy tìnhcờ qua tríchdẫn trong những tácphẩm khôngliênquan. Mặcdù Annam từng sảnsinh nhiều vănnhân có tầmvóc, những đónggóp ấy thường bị xemnhẹ trong sửliệu Trunghoa. Tuyvậy, dưới thời nhàĐường, Annam là một vùng phồnthịnh, gửi nhiều nhânvật kiệtxuất đến triềuđình Trườngan, nơi họ giữ những chức vụ caocấp. Đồngthời, Tỉnh Bắcninh — bêncạnh “Tràngan” của Việtnam — nổitiếng là nơi cungcấp hàngtrăm cungtần mỹnữ bảnđịa mỗinăm cho triềuđình nhàĐường, nơi họ được kỳvọng góp phần duytrì các dòngdõi hoàngtộc Trunghoa.

Về ngônngữ, giảthuyết Hán‑Tạng về tiếngViệt thuyếtphục hơn sovới các giảthuyết NamÁ hay Namđảo, chủyếu vì sửliệu ủnghộ một nềntảng Hánngữ. Hầunhư mọi từ đều cóthể truyvề một gốc. Nếu các nhà Hánngữhọc cóthể phụcghi Háncổ, thì cùng phươngpháp ấy cũng cóthể ápdụng cho Việtcổ và ĐạiViệt trungcổ vì lịchsử Việtnam trước thếkỷ X gắnbó chặtchẽ với Trungquốc. Chẳnghạn, họcgiả An Chi (2016, quyển 1, tr. 177–180) lậpluận rằng từ “vượn” có gốc từ 申 shēn = 猿 yuán, còn “khỉ” từ 狐 hú = 猴 hóu. Nhưvậy, trước năm 939, ngônngữ của cưdân Annam cổ cóthể được hiểurõ qua các từnguyên Hán‑Tạng, bêncạnh lớp từ HánNôm hìnhthành từ Quanthoại nhàquan, Quanthoại khẩungữ và các phươngngữ Hoanam.

Những phép sosánh từnguyên lịchsử muộnhơn cho thấy sự pháttriển ngônngữ và vănhóa thường songhành với biếndạng chínhtrị. Thídụ thứnhất, trong thời Phápthuộc (1861–1954), một tầnglớp tríthức mới xuấthiện, baogồm cả vị vua cuốicùng của Việtnam, Bảo Đại, người nói tiếngPháp trôichảy hơn tiếngmẹđẻ. Thứhai, về hỗnhợp chủngdạng, chỉ trong mộtnăm mươi (1965–1975), sựhiệndiện của lính Mỹ tại miềnNam Việtnam — lúcấy chỉcó dưới 22 triệu dân — đã sảnsinhra gần 50.000 trẻ lai Mỹ‑Việt, tức khoảng một trên 440 ca sinh. Thứba, theo kyotoreview.org, đến năm 2022 đã có hơn 133.000 phụnữ Việtnam kếthôn với đànông Đàiloan. Với dânsố Đàiloan khoảng 25 triệu, cóthể đặt câuhỏi: đãcó baonhiêu trẻ hỗnhợp được sinhra trong hơn 32 năm trướcđó? Và theo phépsochiếu, đãcó baonhiêu ngườiViệt lai được sinhra trong mộtnghìn năm nhàHán đôhộ?

Theo nghĩa này, Đàiloan hiệnhành cóthể được xemnhư một trườnghợp songhành với Việtnam; và nếu soichiếu về năm 939, một Đàiloan độclập cóthể sẽ phảnánh lộtrình lịchsử của Việtnam sauđó một thiênniênkỷ nữa.

Phépsochiếu Đàiloan giúp làmrõ quátrình Hánhoá tại Annam cổ, vốn bắtđầu từ một dânsố tươngđối nhỏ — ướcchừng khoảng 900.000 người theo ghichép sớmnhất của nhàHán sau năm 111 TCN. Cần lưuý rằng Annam phải tiếpthu một lượng lớn binhsĩ Trunghoa, lênđến hàngtrămnghìn người, tiếndần xuống phíanam từ thời Tần và Hán trong suốt kểtừ thếkỷ II TCN. Khi các nhóm thuộcđịa Trunghoa thiếtlập được chỗđứng vữngchắc tại Annam, những lànsóng didân mới từ lụcđịa lại tiếptục đổxuống, tươngtự môhình saunày tại đảo Phùlãng (Formosa).

Bấtkỳ ai không mang lậptrường dântộcchủnghĩa cựcđoan đều cóthể dễdàng nhậnra tính hợplý của việc xácnhận sựhỗnhợp Hán‑Việt trong các cộngđồng địnhcư sớmsủa tại Annam cổ. Nguồngốc của các từnguyên HánNôm cũng cóthể được giảithích theo cùng môhình ấy. Những trườnghợp tươngtự cóthể tìmthấy ở nhiều nơi khác trên thếgiới. Chẳnghạn, người Pháp khôngcòn nói tiếng Gaul cổ mà dùng một ngônngữ Rôman có gốc Latinh, gầnvới tiếng Ý và Bồđàonha. Ngônngữ Bungari cũnglà một ngônngữ hỗnhợp chịu ảnhhưởng mạnh của từvựng vaymượn. Ngoài Âuchâu, tại Trung và Nam Mỹ, disản của sự đôhộ Tâybannha chothấy cả biếndạng ditruyền lẫn ngônngữ: những người chinhphục conquistador đã hoàtrộn với cưdân bảnđịa, tạonên những xãhội mới chỉ trong bốn thếkỷ. Sựchinhphục trong những trườnghợp này đã làm thayđổi sâusắc thànhphần chủngdạng và vănhóa, điều mà ta vẫn thấyrõ ngàynay.

Tại Việtnam, phầnlớn ngườiHán didân sớm đã hoàtan vào khối Kinh. Tuyvậy, nhiều nhóm đến muộn hơn trong bốn thếkỷ gầnđây thường giữ lại căntính Trunghoa riêng nếu họ muốn. Những nhóm này phầnlớn đến từ các tỉnh Hoanam như Quảngtây, Quảngđông (Canton) và Phúckiến (Hokkien), và được phânloại thành các nhóm như Triềuchâu (Teochow), Quảngđông, Hẹ, Hảinam và Phúckiến. Một lànsóng đặcbiệt quantrọng đến sau sự sụpđổ của nhàMinh, gọilà Minhhương 明鄉 — hậuduệ của những người trungthành với nhàMinh chạytrốn sựchinhphục của Mãnthanh. Họ được địnhcư tại vùng cựcNam rộnglớn và thưathớt của Việtnam dưới những điềukiện địalý‑lịchsử đặcthù. Trongsốnày, nhóm Triềuchâu chiếm tỉlệ lớnnhất trong những người đến muộn, và theo thờigian họ đã hoànhập hoàntoàn vào xãhội Việtnam. Điềunày thểhiện rõ trong các biếnthểhoá địaphương của họ Trunghoa: Hoàng ↔ Huỳnh (黃), Vũ ↔ Võ (武), Hàn ↔ Hàng (韓), Lưu ↔ Lều (劉), và nhiều trườnghợp khác.

Thựctế, những họ này chiếm gần như toànbộ họ Việtnam có nguồngốc Trunghoa, là bằngchứng sốngđộng về sựkếthừa của những dòngdõi Trunghoa lớnrộng qua nhiều thếhệ. Hãy hỏi một ngườiViệt hômnay về họ của họ — chẳnghạn Trần ↔ Chen 陳, Trương ↔ Zhang 張 — và cóthể ba hoặc bốn trên mười người vẫncòn cóthể truynguyên phảhệ của mình về gốc Trunghoa.

Lànsóng didân Trunghoa liêntục tiếnxuống phíanam cuốicùng đã táicấutrúc thànhphần dântộc Kinh tại Việtnam, giốngnhư nó đã biếndạng tiếngViệt qua sựchồnglớp dầndần của một kho từvựng Hánngữ khổnglồ. Sựhìnhthành của tiếngViệt như ta biết nay cóthể cũng là kếtquả của việc ápđặt tiếngHán như ngônngữ giaotiếp chung trong nhiều thếkỷ Annam cònlà một quận của Trungquốc. Tấtyếu, ảnhhưởng Hánngữ thấmvào mọi giaitầng của tiếngViệt, đểlại dấuấn vĩnhviễn từ tầng cơbản — táchbiệt khỏi lớp tànlưu bảnđịa của ngữhệ Thái cổ — cho đến lớp từvựng báchọc. Những từ này vẫnđược dùng rộngrãi trong đờisống hằngngày. Thựctế, nếu loạibỏ toànbộ từvựng gốc Hán khỏi tiếngViệt hiệnhành, gầnnhư khôngthể tạođược một câucú hoànchỉnh; cùnglắm, lờinói sẽ trởnên cứngnhắc và cổkính, giống vănbản cổ Hánvăn (文言文), nhấtlà vì ngaycả hưtừ (虛詞 xūcí) — baogồm cả giớitừ — cũngcó nguồngốc Hán.

Lộtrình hìnhthành quốcgia Việtnam đã diễntiến dưới nhiều têngọi khácnhau: NamViệt, Annam, Giaochỉ, Giaochâu, ĐạiNgu, ĐạicồViệt, ĐạiViệt, ĐạiNam, và cuốicùng là Việtnam. Sựtiếnbộ của cộngđồng cưdân và ngônngữ Việtnam ngàycàng được củngcố bởi những pháthiện khảocổ và tiềnsử dọc theo các lộtrình mà tổtiên họ từng dichuyển. Trong thờicổ, giaothông và thôngtin vôcùng khókhăn, tuyvậy quỹđạo pháttriển quốcgia của Việtnam lại songhành với nhiều xãhội khác trên thếgiới, như NamMỹ, NamPhi, Singapore và Đàiloan.

Trườnghợp Đàiloan đặcbiệt là một phépsochiếu rànhrõ. Saukhi Trunghoa chiếm đảo này từ tay người Hàlan vào đầu thếkỷ XVII, ba thếkỷ sau, năm 1949, giới lãnhđạo và binhsĩ Quốcdânđảng chạy khỏi lụcđịa đã thiếtlập chínhquyền lưuvong tạiđây. Để củngcố quyềnlực, họ ápđặt chếđộ chuyênchế lên các cộngđồng bảnđịa — tươngtự sốphận của người Mường trong Việtnam cổ — khiến họ dầndần trởthành một thiểusố bị gạtbênlề ngay trên chính quêhương mình. Đến năm 2024, dânsố Đàiloan đạt khoảng 23,6 triệu người, được hìnhthành bởi nhiều lànsóng didân từ lụcđịa và việc cưỡngchế việc sửdụng Quanthoại làm quốcngữ. Nếu soichếu môhình này ngượcvề thếkỷ II TCN, khi Giaochỉ (交趾) chỉcó khoảng 900.000 cưdân theo hộtịch nhàHán, và giảđịnh Đàiloan chỉ còn một phần haimươibarưỡi dânsố hiệnhành mà vẫn độclập đến thếkỷ XXI, thì lộtrình của nó sẽ rất giống Việtnam, cả về cưdân lẫn ngônngữ, xét trong bốicảnh hạnchế thôngtin thờicổ.

Độnglực thuộcđịa càng làm tăngtốc quátrình hoànhập tại Annam, tạonên hơn một thiênniênkỷ “tự‑Hánhoá”. Thuậtngữ này nhấnmạnh rằng các đời vua Annam đã tựnguyện tiếpnhận môhình chuyênchế Trunghoa, baogồm cả khung ngônngữ của nó. Việtnam buộc thế phải dùng hệchữ Hán cho đến đầu thếkỷ XX, khiến sựdunhập ngônngữ là khôngtránhkhỏi. Cùng lúc, Nhogiáo, Đạogiáo và Phậtgiáo đã địnhhình vănhóa và tínngưỡng Việtnam, rồi hoàtrộn với truyềnthống bảnđịa trong các tôngiáo như Caođàigiáo và Hoàhảogiáo, kếthợp thờtổtiên với các giáolý dunhập.

Nỗlực kiếntạo một hệchữ dântộc riêng xuấthiện từ thếkỷ XV, như trong các tácphẩm kiểu Phậtthuyết. Việc sángtạo chữNôm (𡨸喃, từ 字南 TựNam) đã điềuchỉnh Hántự để ghinhận âm bảnđịa, baogồm cả địadanh và các dạng Hán-Nôm của từ Hán. Văn chữNôm hưngthịnh từ thếkỷ XVI trởđi. Đến cuốithếkỷ XIX, dưới thời Phápthuộc, Quốcngữ — hệ chữ Latinhhoá do các giáosĩ Tâyphương soạn — dầndần thaythế Hántự, vừa do mệnhlệnh thuộcđịa vừa do đồngthuận quốcgia.

Chính tả tiếngViệt hiệnhành vìthế phảnánh ba tầng từvựng lớn:

  1. Hán-Việt 漢越 (HV; Sino‑Vietnamese, SV): lớp từvựng lớnnhất, có nguồngốc Hán.
  2. Hán-Nôm 漢喃 (HN; Sinitic‑Vietnamese, VS): các từ Hán được bảnđịahoá theo cáchdùng Việtnam.
  3. Tầng bảnđịa: từ gốc Thái cổ (Taic), Chăm, NamÁ Mon‑Khmer và các nguồn khác, baogồm cả từ vaymượn muộn.

Hai tầng đầu — đều có nguồngốc Hán — chiếm ưuthế trong từvựng tiếngViệt. Nóicáchkhác, nếu Việtnam vẫnlà một quận của Trungquốc thêm 1.300 năm nữa kểtừ năm 939, tiếngViệt hiệnhành hầunhư chắcchắn sẽđược xếphạng như một ngônngữ Hán‑Tạng, tươngtự Quảngđông hay Phúckiến. Cũng như Latinh và Hylạp là cốtlõi của tiếngAnh, các yếutố Hánngữ là bảnchất của tiếngViệt hiệnđại. Dựatrên chứngcứ ngônngữ vữngchắc, ta cóthể nhậnra những tươngđồng rõrệt giữa Háncổ và các dạng tươngứng trong tiếngViệt, baogồm nhiều dạng Tiền‑HánViệt có gốc từ ngữloại Việtcổ. Hàngtrăm dạng Háncổ đã thấmvào tiếngViệt qua nhiều thếkỷ, địnhhình nó một cách sâusắc và lâulâu.

II) Chứngcứ từ lớp từvựng cơbản

A. Các mụctừ cơbản

Giảthuyết về một nguồngốc Yue chung được thểhiện rõ nhất qua lớp từvựng cơbản, những từ khó vaymượn. Các mụctừ này, thuộc quanhệ huyếtthống, yếutố thiênnhiên, phânloại nhânloại, chothấy những tươngứng cóhệthống giữa tiếngViệt và tiếngHán. Bảng mụctừ dưới đây làm nổibật các tươngđồng ấy.

ViệtngữHánngữPinyinHán-ViệtGhichú / từ đồngnguyên
mẹmẫume, mợ, mái,…
bốphụbọ, phủ…
contửtý, trai, giai, gái, cái…
ngườirénnhânrến, nghỉ, ai, ngử…
giờinhậttrời, ngày…
nướcshuǐthuỷđắc, đák, nác, 淂 dé… ss. 踏 tă ‘đạp’,
đấtđịass. 土 tǔ (thổ)
ông翁 / 公wēng / gōngcôngcồ, ông, x. ‘trống’
chịtỷss. 姐 jiě (thư)
em妹 / 弟mèi / dìmuội / đệss. 兄弟 xiōngdì (huynhđệ, anhtam = anhem), 阿妹  āmèi (côem) 

Ghichú:

  • Đâylà các từ cơbản, khôngphải từ vaymượn chuyênbiệt — chúng thuộc lớp từvựng sinhsống hằngngày.
  • TiếngViệt thường bảolưu các dạng tầnggốc (giời, nước, đất) bêncạnh các dạng HánViệt (nhật, thuỷ, địa).
  • Sự đồng tồntại của dạng bảnđịa và dạng HánViệt tạora các cặp songđẳng, một dấuhiệu của quanhệ đồngnguyên kếthợp với vaymượn khảtín về sau.
  • Các từ quanhệ huyếtthống (mẹ, bố, con) cho thấy quan‑hệ đồngnguyên trựctiếp với các dạng tươngứng trong Hánngữ, gợi ý một tầnggốc Yue hơn là vaymượn ngẫunhiên.

B. Vấnđề cơbản của từnguyên Việtngữ

Cao Xuân Hạo (2001), một họcgiả vănhóa và ngônngữ Việtnam đươngđại có uytín, trong bàiluận TiếngViệt là Tiếng Mãlai?, lậpluận rằng phầnlớn những từ được xem là “thuầnViệt” thựcra không hề “thuần” theo nghĩa bảnđịa nguyênthuỷ. Theo ông, trong ngônngữhọc không tồntại kháiniệm “thuầnkhiết tuyệtđối”. Ông nhấnmạnh rằng việc tiếngViệt có đồngnguyên với Hán, Thái, Môn-Khmer hay NamÁ không quantrọng bằng vấnđề cốtlõi: bảnchất của ngônngữ nằm ở tổngthể của nó. Như ông chỉra, những từ cơbản như chim ‘bird’ (gốc Môn-Khmer), vịt ‘duck’ (gốc Thái), cá ‘fish’ (gốc NamÁ), thỏ ‘hare’ (gốc Hán) vẫn được xemlà “thuầnViệt” (tr. 90).

Như đã nhiều lần gợiý, câuchuyện hìnhthành quốcgia quantrọng hơn việc truytìm chínhxác nguồngốc của cưdân hay ngônngữ tổtiên. Điều quantrọng trong bấtkỳ ngônngữ nào là tính toànvẹn của nó, chứ không phải xuấtxứ của mộtvài mụctừ cơbản. Tính chỉnhthể của tiếngViệt hiệnhành có trọnglượng lớn hơn các tranhluận vềviệc lớp từvựng lõi là NamÁ hay NamĐảo, những giảthuyết vẫn còn bỏngỏ. Với việc pháthiện các từnguyên Hán‑Tạng trong lớp từvựng cơbản tiếngViệt, ngườinghiêncứu cóthể cânnhắc lại tiếngViệt nên được xếphạng vào ngữhệ nào (xem Vietnamese Parallels with the Sino-Tibetan Languages).

Về mặt từnguyên, các từ Hán đi vào tiếngViệt qua nhiều phươngngữ, đặcbiệt là Yue 粵 (Quảngđông) và MânNam 閩南 (Phúckiến, Triềuchâu, Hảinam…), bêncạnh những mụctừ vốn đã thuộc kho từvựng chung. Chẳnghạn: Phúckiến /kẽ/ ~ HN ‘con’; Triềuchâu /yẽo/ ~ HN ‘dê’; Hảinam /bat7/ ~ HN ‘biết’. Các biếnthể phươngngữ của cùng một gốc, được tái‑dunhập bởi những lànsóng didân khácnhau từ Hoanam, được nhậndiện như các cặp songđẳng — một hiệntượng vốn phổbiến ngay trong Hánngữ. Trong bốicảnh này, “Hánngữ” được hiểurộng là toànbộ họ Hánngữ, baogồm Quanthoại và các phươngngữ khác. Sựchồnglớp đồngnghĩa này lýgiải ảnhhưởng mạnh của các khẩungữ Hán đốivới tiếngViệt qua nhiều giaiđoạn. Chẳnghạn, kháiniệm “lạnh” hiệndiện dưới nhiều dạng: 寒 hán (SV hàn) đốiứng với Hảinam /kwa2/ → HN ‘cóng’; bêncạnh HN giá, rét, lạnh — đồngnguyên với Hán qī 淒, liè 冽, lěng 冷 — với sựkhácbiệt vùngmiền trong cách dùng.

Về sau, những cặp songđẳng có cùng phátâm cóthể được quảngbá bởi các vănsĩ có ảnhhưởng, khiến chúng trởnên phổbiến. Mộtsố chữ được giữ lại trong khẩungữ, mộtsố khác bị thaythế bởi dạngtừ phươngngữ khác, dẫnđến sựphânhoá ngữcảnh. Chẳnghạn, từ ‘cộ’ cóthể được viết 車, 檋, 輂, 輁 hoặc 梮 (jù). Tổngsố Hántự được ướctính khoảng 74.900, trong khi Tựđiển Khanghi ghi khoảng 50.000 mục, phầnlớn là biếnthể phươngngữ hoặc các cặp songđẳng đồngnguyên đã maimột.

Sựdunhập các từvaymượn Háncổ vào Việtcổ được thúcđẩy bởi những độnglực xãhội mạnhmẽ. Mộtmặt, quầnchúng, thườnglà khôngbiếtchữ — giữ vaitrò thenchốt: línhcanh, xãtrưởng, ngườibánchợ, thợthủcông, phuphen, và đặcbiệt là những phụnữ bảnđịa kếthôn (tựnguyện hoặc theo chỉdụ của hoàngđế) với binhsĩ hay quanlại nhàHán. Điềunày lýgiải vìsao nhiều từ HánViệt báchọc lại đivào khẩungữ hằngngày. Mặt khác, các từvaymượn tiếngHán trungcổ từ thời Đường — vốnthuộc ngônngữ triềuđình (Quanthoại thờiấy) — cũng thấmvào đờisống, tươngtự như trong tiếng Quảngđông. Nếu khôngcó sự dunhập khẩungữ này, lớp từ Hán trungđại trong HánViệt đã khôngthể trởnên phổbiến và thườngxuyên như trong tiếngViệt hiệnhành.

Bảng 5 — Gốcrễ của hônnhân đachủng

Suốt một thiênniênkỷ Trunghoa đôhộ Việtnam thờicổ, những nhóm didân từ lụcđịa đã kếthôn với phụnữ bảnđịa, hìnhthành các cộngđồng hỗnhợp mà khẩungữ phảnánh đồngthời cả sự thừahưởng lẫn thíchứng. Trong những thếkỷ gầnđây, những môhình tươngtự lại xuấthiện trong các bốicảnh xãhội khácnhau — thường được kịchhoá trên truyềnthông — nơi phụnữ Việtnam có hoàncảnh khókhăn kếtgiao với người Pháp thuộcđịa, lính Mỹ, hoặc hiệnhành tìmkiếm cơhội kinhtế qua hônnhân với đànông Singapore, Đàiloan, Hànquốc, và ngàycàng nhiều với các nhóm didân Trunghoa mới.

Vềmặt lịchsử, những cuộchônnhân nhưvậy luôn đểlại hệquả ngônngữ. Các hộ giađình tiếpxúc thường pháttriển những khẩungữ hỗnhợp dùng trong sinhsống hằngngày, giốngnhư cách Annam cổ từng hìnhthành từ sựtiếpxúc từlâu giữa cưdân BáchViệt bảnđịa và các nhóm địnhcư Trunghoa. Những quátrình tươngtự cũng địnhhình sựrađời của tiếng Đàiloan như một dạng khẩungữ riêng. Ở mọi giaiđoạn, những biếndạng này được thúcđẩy khôngphải bởi ýthứchệ mà bởi áplực kinhtế và nhucầu thựctiễn phải giaotiếp giữa các cộngđồng.

Tácgiả nhậnthấy rằng cáchdùng ngữcảnh trong lờinói tiếngViệt có nhiều điểm tươngđồng đángchúý với Quanthoại phươngBắc, như được minhhoạ qua nhiều vídụ trong khảoluận này. Vềmặt ngônngữ, hiệntượng ấy giống với tìnhhuống của các côdâu Việtnam và những người chồng Đàiloan hiệnhành. Nhìn về thờicổ, dưới các triều Tần và Hán, những phụnữ bảnđịa cólẽ đã dùng một dạng “Háncổ giảnhoá” để giaotiếp với những người chồng “ngoạilai” của mình. Không giống các binhsĩ bộbinh đóng tại miềnNam Trunghoa, những kỵbinh trườngchinh từ phươngBắc — nhờ địavị xãhội caohơn — cóthể đã đónggóp nhiềuhơn các yếutố phươngngữ phươngBắc vào khẩungữ cộngđồng sởtại, đồngthời tiếpnhận từngphần các mụctừ bảnđịa.

Dù ở trườnghợp nào, những nhóm người mới đến này đều phải thíchứng với môitrường mới, thường với ýđịnh địnhcư lâudài. Concháu sinhra trong các giatộc thuộc tầnglớp thốngtrị cókhảnăng được họchỏi có quyphạm, và khi trưởngthành sẽ thamgia bộmáy hànhchính địaphương (‘Con quan lại được làmquan…‘). Lờivăn của họ, dựa trên kho ngônngữ Quanthoại chínhthống, được củngcố bởi khẩungữ giaotiếp của triềuđình và vănbản hànhchính. Chỉ sau vài thếhệ, nhiều giatộc cóthể sasút — một hiệntượng phổbiến ở cả Trunghoa lẫn Việtnam — nhưng mộtsố cánhân vẫn tiếptục theođuổi conđường họcthuật, trởthành thầygiáo và dầndần hoànhập vào khối Kinh. Chính họ là những người từng dùng ngônngữ của giới quanlại qua nhiều triềuđại.

Quátrình này lýgiải vìsao nhiều thuậtngữ Hán trungđại báchọc vẫn còn bámrễ trong tiếngViệt hiệnhành và được dùng trong ngữcảnh sinhsống. Chẳnghạn: sínhlễ (聘禮 pìnglǐ), vuquy (于歸 yúguī), kínhtrọng (敬重 jìngzhòng), ẩmthực (飲食 yǐnshí). Những từ này là bấtkhảthiếu trong tiếngViệt hômnay. Đồngthời, các nhosĩ thờixưa khi ởnhà vẫn nói “tiếng Annam”, vốn đã thấmvào vôsố mụctừ Hán-Nôm sớm, mộtphần cótrước cả lớp HánViệt trungđại, và mộtphần được tạotác từ vậtliệu Háncổ như căntiết, gốc và phụtố. Chẳnghạn: HV ‘chủxị’ < HV chủtrì < M 主持  zhǔchí < MC /tɕioɖy/.

Quátrình địaphươnghoá ngônngữ đã khôngngừng tăngtốc sựhoànhập của từvay vào kho từvựng tiếngViệt. Cơchế này vậnhành tươngtự như tốcđộ dunhập của thuậtngữ tinhọc và tinnhắn trong thờihiệnđại. Những hiệntượng như vậy phổbiến trong nhiều ngônngữ, kểcả các ngônngữ ẤnÂu, như trườnghợp tiếng Albani hay tiếngPháp-Haiti.

Qua thờigian, khẩungữ Annam pháttriển thành các phươngngữ vùngmiền: Bắc, Trung, Nam. Những biếnthể này hoàtrộn yếutố bảnđịa với ảnhhưởng phươngngữ Hán ở mứcđộ khácnhau. Chẳnghạn:

  • ăn 唵 vs. xơi 食 shí / 吃 chī
  • uống 飲 yǐn vs. hớp 喝 hè
  • buồn 悶 mèn vs. phiền 煩 fán
  • khoái 快 kuài vs. vui 娛 yú
  • lùn 短 duǎn vs. thấp 低 dī
  • bảnh 昺 bǐng vs. sáng 亮 liàng
  • mơi 明 míng vs. mai 明ㄦ mír
  • mới 萌 méng vs. xịn 新 xīn
  • cũ 舊 jiù vs. cổ 古 gǔ
  • heo 亥 hài vs. lợn 腞 dùn
  • cọp 虎 hǔ (SV hổ) vs. hùm 甝 hán

Những dạng vaymượn và biếnthể này làm phongphú kho từ HánNôm. Trongsuốt hainghìn năm, quátrình ấy cũng phânhoá các từ đồngâm qua thanhđiệu và thúcđẩy xuhướng đaâmtiết, đặcbiệt là songâmtiết, một xuhướng vẫn tiếptục đếnnay.

Khi những từvaymượn này trưởngthành, chúng trởthành các đơnvị hoànhập hoàntoàn, xuấthiện trong cả các tổhợp bấtkhảphân và các dạng độclập. Điềuđángchúý là sựchuyểndạng từ Hán sang Việt nhìnchung diễntiến trơntru, hầunhư khôngcần sựcanthiệp của giới tríthức, những người thường xemnhẹ các phátâm khẩungữ. Chẳnghạn, kinhkhủng (驚恐 jīngkǒng) vừa giữ nghĩa “đángsợ”, “ghêghớm”, vừa pháttriển nghĩa mới “tuyệtvời”; riêng khủng hiệnhành còn mang nghĩa “tuyệtvời” một pháttriển ngữnghĩa khôngcó trong tiếngHán hiệnhành.

Trước thếkỷ XVII, vănbản cổ cần được chúgiải rộngrãi để ngườihiệnđại hiểurõ từvựng — điều này phảnánh tốcđộ hiệnđạihoá ngônngữ và những biếndạng ngữâm diễnra độclập với khẩungữ. Từng có thờikỳ hai vănbản cùng tồntại: Hánvăn cổ (文言文), như HV niên (年 nián), và khẩungữ, như HN năm (𢆥), vốn khôngđược ghinhận chođếnkhi chữNôm xuấthiện vào thếkỷ XII. ChữNôm điềuchỉnh Hántự để ghinhận âm bảnđịa, lấp khoảngcách giữa vănbản (年 niên) và khẩungữ (𢆥 năm).

Trongkhiđó, các phươngngữ Yue (BáchViệt) và MânNam (Quảngđông, Phúckiến) đitheo một lộtrình khác. Sau sựsụpđổ của nước NamViệt năm 111 TCN, cưdân các vùng này vẫn tiếptục sinhhoạt trong vùng Hánngữ và dưới quátrình Hánhoá lâudài — một hànhtrình mà nước Annam cổ cũng đã điqua cả đứng mộtngàn năm — ngônngữ của họ hoànhập hẳn vào ngữhệ Hán-Tạng. Tầnggốc Yue cổ dầndần bị chônvùi dưới các tầng Hánngữ, dù vẫncòn tànlưu trong tiếngViệt: thídụ 戶 hù (HV hộ) = HN cửa, 胡 hú (hồ) = HN cổ.

Sựpháttriển của Annam cổ songhành liêntục với vănhóa như trốngđồng Đôngsơn, Ngọclữ, vốn truyvết về nền Vănhoá Phùngnguyên. Các thựcthể Yue tồntại lâuđời trướckhi nhà Hán đôhộ (111 TCN–939 SCN), và tànlưu của các nềnvănhoá Sahuỳnh, ÓcEo, Khmer ở miềnNam cótrước sựmởrộng lãnhthổ của nhànước Annam về phíanam. Về bảnnăng, yếutố Tai-Yue cótrước ảnhhưởng Tai-Hán, và vềsau hoàtrộnlại lầnnữa với tầnggốc Yue để hìnhthành Annam, thídụ, ‘vịt’ (duck) 鴄  pī (phất) Tai-Kadai: Proto-Tai *pitᴰ (‘duck’) > Thai เป็ด (bpèt), Lao ເປັດ (pet), Zhuang bit; Austroasiatic: Proto-Vietic *viːt (‘duck’) > Viet. vịt; Sino-Tibetan: Miju kɹɑi³⁵ pit⁵⁵ (‘duck’); Pela pjɛ̱t⁵⁵ (‘duck’), Zaiwa pje̱t⁵⁵ (‘duck’); Proto-Lolo-Burmese *baj¹/² (‘duck’) > Burmese ဘဲ (bhai:) (6).

Với hiệnđạihoá, biếndạng ngữâm chậmlại, đặcbiệt saukhi chữ Quốcngữ Latinhhoá được ápđặt vào đầu thếkỷ XX dưới thời Phápthuộc. Ngàynay, truyềnthông xãhội đạichúng, internet và giaothông nhanhchóng đã thuhẹplại sựkhácbiệt phươngngữ.

Trong thờihiệnđại, từvựng khoahọc và kỹthuật đivào tiếngViệt chủyếu qua tiếngNhật (trunggian Hán), tiếngPháp, rồi tiếngAnh. Lànsóng từ mới tiếptục tăngnhanh, cùngvới các lốiviết cụtngủn mẫtự đầu, viếttắc và ngônngữ tinnhắn: khủng (tuyệtvời), ko (không), hay các dạng đùagiỡn như ‘Hum ni là sn of e, dc gì hit‘ (= Hôm nay là sinhnhật của em, đâu có gì hết). Các đềxuất như TiếqViệt của Bùi Hiền (2018), đưa thêm F, W, J, Z, cũng phảnánh xu hướng này.

Tựutrung, bảnnăng của tiếngViệt nằm ở cấutrúc toànthể của nó. Cả HánViệt lẫn Hán-Nôm đều là lõisống của ngônngữ. Cũngnhư tiếngAnh khôngthể táchkhỏi Latinh và Hylạp, tiếngViệt khôngthể được phânloại đúngđắn nếu chỉ dựavào mộtvài tànlưu NamÁ. Việc xem Môn-Khmer là đặctrưng quyếtđịnh của tiếngViệt chỉ dựatrên mộtvài mụctừ cònsótlại là một nhậnđịnh sailệch. Các yếutố Hánngữ khôngphải ngoạibiên — chúng chínhlà bảnchất và sắctố — bảntố — của tiếngViệt hiệnhành.

Bảng 6 — Các trườnghợp đồngnguyên Môn‑Khmer ~ Việtngữ theo phépsosánh hìnhtượng về ẩmthực dântộc, vượthơn cả “salad bowl”

Các mónăn đặcthù thường biếndạng nhẹ khi chuyểntại từ vùng này sang vùng khác. Chẳnghạn, một tô hủtiếu Namvang hay cơmgà Hảinam nấu tại Sàigòn cóthể còn ngon hơn cả tại nguyênquán Campuchia hay Trunghoa.

Trong nhiều sách dạynấunướng, các côngthức này đôikhi được điềuchỉnh bởi các đầubếp Tâyphương chuyên ẩmthực dântộc, thêmbớt giavị để phùhợp với xuhướng ẩmthực mới tại các trường dạy nấunướng Tây‑Á. Điềunày cóthể xemnhư một ẩndụ cho ảnhhưởng NamÁ trong ngônngữhọc: những món ăn Việtnam vốn khởiđầu từ Môn‑Khmer hay Hảinam, nay được hoàtrộn với nguyênliệu bảnđịa để phùhợp khẩuvị ngườiViệt.

Tươngtự, một tô phở tại Lyon (Pháp) khôngthể có hươngvị giốngnhư tô phở mà một thựckhách sành-ăn thưởngthức tại Sàigòn hay California. Tuyvậy, vềmặt lịchsử, nướcdùng xươngbò kiểu Pháp đã gópphần vào sựhìnhthành của phở, vốnđược nấunướng cùng mắmnêm cácơm của Việtnam — và từ phở không bắtnguồn từ pot‑au‑feu.

Thựctế, bảntố của phở Việt (粉 fěn) nằm ở sựhoàquyện của hương quế và hồi — những giavị đã đượcdùng lâuđời trong ẩmthực Trunghoa và cũngchínhlà thứ từng lôicuốn những kẻthựcdân Âuchâu đến Áchâu. Đồngthời, cũng chính người Tâyphương là những người đã đưa mẫutự Latinh vào tiếngViệt.

Điều thiếtyếu là chớ bỏqua các đặctính ngônngữ nổibật, và những ngườimới bướcvào lĩnhvực này không nên lặplại những lộtrình cũ chỉ nhằm xácnhận mộtnhóm nhỏ các từnguyên Môn-Khmer trong tiếngViệt. Một sốlượng chứngcứ hạnchế nhưvậy khôngthể làm cơsở cho giảthiết nguồngốc NamÁ của tiếngViệt, vì ngônngữhọc lịchsử rốtcuộc phảiđược nénchặt trong chính lịchsử. Một cáchtiếpcận NamÁ thuần tiềnsử rất dễ trượtvào quanđiểm lỗithời cho rằng mọi ngônngữ đều phátxuất từ một gốc duynhất. Khung phântích ấy tướcbỏ tiếngViệt khỏi nềntảng lịchsử của nó và làmlệch cáncân tổngthể: hơn 90% trong khoảng 420 mụctừ cơbản cóthể truyvết về từnguyên HánTạng (xem Vietnamese Parallels with the Sino-Tibetan Languages), chỉ chồnglên khoảng 10% lớp Môn-Khmer NamÁ giảđịnh. Ngượclại, quanđiểm tổngthể được trìnhbày ởđây nhấnmạnh rằng chính toànthể ngônngữ — chứ khôngphải một mảng hẹp — mớilà điều quyếtđịnh.

Hơnnữa, những người ủnghộ giảthuyết NamÁ Môn-Khmer thường bỏqua sựthật rằng nhiều mụctừ cơbản họ việndẫn cũng xuấthiện như các từnguyên giaochéo trong tiếngHán hoặc các từnguyên Hán-Tạng khác ngaytrongcùng những miền từvựng cơbản ấy. Dù những tươngứng này đã được ghinhận khá đầyđủ, chúng chỉ chiếm vài phầntrăm — như mắt (目 mù), lúa (來 lái), chim (禽 qín), vịt (鴄 pī), (魚 yú), cọp (虎 hǔ)… đềucó từnguyên Hán— cólẽ vì thiếu nhậnthức về sựđankết sâusắc giữa lịchsử và vănhóa Trunghoa–Việtnam khi giảthuyết này được hìnhthành. Những hiệntượng giaochéo nhưvậy — nơi các từ Môn-Khmer cơbản đồngthời xuấthiện trong cả tiếng Việt lẫn Hán — cólẽ đãđược các nhàNamÁhọc quan­sát, nhưng cách họ diễngiải chúng quáhẹp trong khung “quanhệ ditruyền”, thayvì đặtvào một bốicảnh lịchsử‑ngônngữ rộnghơn.

Songhành với sựkiện đó, việc bỏqua các chiềukích vănhóa và lịchsử — như các từ chỉ quanhệ huyếtthống thânthiết (cha, mẹ, anh, chị, em…) sẽđược khảosát sau — cóthể sosánh với câu thaiđố chưađược giải vềviệc vìsao trốngđồng lại được tìmthấy tận quầnđảo Indonesia. Điềuđángchúýlà khônghề có hiệnvật đồngthau nào được pháthiện trong lãnhthổ cổ của vươngquốc Khmer. Khôngthể chorằng những trống này được chở bằng đườngbiển như lễvật của người Chăm Hồigiáo vềsau gửiđến các trungtâm Hồigiáo Indonesia, vì niênđại không phùhợp với giaiđoạn đầu của cuộc xâmnhập củ ngườiHán vào Annam, khi vươngquốc Champa vẫn còn bámrễ trong tôngiáo và vănhóa Ấnđộgiáo.

Chứngcứ khảocổ càng củngcố điểm này: không có hiệnvật làmbằng đồng nào được tìmthấy trong phạmvi Champa cổ, cũng khôngcó trong vùng cưtrú nguyênthuỷ của sắctộc Lê (黎族) tại khu tựtrị núi Thôngthậ ở miềnnam Đảo Hảinam, nơi tổtiên tiền‑Chăm từng dicư sang vùng Trungbộ Việtnam.

Một gợiý nhânhọc — Một trong những dântộc thiểusố của Trunghoa, tộc Lê (黎族), truygốc thuộc về nhánh LạcViệt của BáchViệt cổ. Họ tậptrung tại đảo Hảinam, với khoảng 1,1 triệu người. Sinhkế chính là nôngnghiệp, kèm sănbắt và thủcông. Họ nói tiếng Lê, thuộc nhánh Lê của ngữhệ Tai‑Kadai — khôngphải ngữhệ Hán-Tạng như sáchgiáokhoa Trungquốc đã ghi — và đasố thôngthạo tiếngHán. Vănhọc truyềnkhẩu của họ rất phongphú, với thầnthoại và dânca giữ vịtrí quantrọng. Họ thờ tổtiên và tin vào thầnlinh; do phụthuộc vào nôngnghiệp và sănbắt, họ đặcbiệt coitrọng thờ cúng sơnthần. (5)

Từ gócđộ nhânhọc, khôngcó hiệnvật vănhóa nào tươngđương hiệnvật đồng được tìmthấy để kếtnối ba vùng này, và cũng khôngcó sửliệu nào ủnghộ quanđiểm rằng cưdân NamÁ Môn-Khmer tạothành tầnggốc bảnđịa cho một hồsơ ngônngữ‑lịchsử.

Vìvậy, giảthuyết NamÁ Môn-Khmer chỉ cóthể xemnhưlà một giảthuyết tạmthời, nhấtlà khi sosánh với hơn 420 từnguyên HánTạng đãđược xácđịnh trong lớp từvựng cơbản tiếngViệt — một nềntảng phânloại vữngchắc hơnnhiều.

Dù mang thiệný dântộcchủnghĩa, mộtsố ngườiViệt nhiệtthành đã gán các pháthiện khảocổ tại những vùng Môn-Khmer tâynam cho disản tổtiên Việt của chínhmình. Tuynhiên, trong nghiêncứu họcthuật nghiêmtúc, những lậpluận như vậy khôngthể đứngvững theo cả haichiều.

Theo cùng lậpluận ấy, một câuhỏi ngônngữ quantrọng được nêura: vìsao một số từ Môn-Khmer cơbản lại cóthể đivào tiếngViệt vào cuối thếkỷ XII, khi biêngiới phíaNam của Việtnam khiấy vẫn chỉ mới đến vùng Thanhhoá? Sửliệu chobiết chỉ từ thếkỷ XIII trở đi — saukhi ĐạiViệt (大越) đã củngcố — cưdân Việt mới bắtđầu namtiến, chinhphục và xoábỏ Vươngquốc Champa 1.600 năm tuổi, sápnhập gần một phần ba lãnhthổ phíađông của Khmer cổ.

Ngônngữ khôngthể đứngmộtmình; nó phảiđược kiểmchứng bằng sửliệu. Với những từnguyên chưarõ nguồngốc, câu trảlời phải được tìm trong lịchsử sâuhơn. Chẳnghạn, sử cũng ghinhận rằng vươngquốc Khmer cổ mất phầnđất phíatây vào nước Xiêmla (Tháilan), khiấy do cưdân Dai (傣) chiếmcứ. NgườiThái là hậuduệ của Dai, mà Dai lại xuấtthân từ các nhóm Tai từng caiquản nước Sở (楚國) thờicổ ở Trunghoa. Các từnguyên cơbản của họ cònđược ghinhận trong Nhĩnhã (爾雅) (De Lacouperie [1887] 1963).

Từ gócđộ phântích, cóthể nhậnthấy những liênhệ từnguyên rõrệt giữa tiếng Thái và Việt, như Haudricourt đã chỉra đầu thếkỷ XX: gạo ~ Thái ข้าว /kʰâːw/ (稻 dào), ~ Thái ไก่ /kài/ (雞 jī). Những từnguyên này chỉra một tầnggốc Tai‑Yue chung có trướckhi nhànước ĐạiViệt namtiến.

Hai từnguyên Việt–Thái này dườngnhư có niênđại trước khi ngữhệ Tai-Yue (傣越) giảđịnh táchthành nhánh Dai (傣, 臺; xem Ding Bangxin 1977: 36–45) và nhánh Yue (越) tại miềnnam Trungquốc. Giữa các pháttriển ấy tồntại một “khoảngtrống Khmer”, chothấyrằng các từ Môn-Khmer cơbản chỉ đivào tiếngViệt tại những vùng có cộngđồng Môn-Khmer hiệndiện trong vùng ngônngữ.

Các nhànghiêncứu NamÁ Môn-Khmer thườngxem những từ cơbản phi‑Môn-Khmer như các trườnghợp riênglẻ, loạibỏ mọi mụctừ cơbản không đồngnguyên với NamÁ. Họ giảđịnh rằng từvựng tiếngViệt phải xuấtphát từ Môn-Khmer, chứ không theo chiều ngượclại. Vì thế, họ phủ một “tấmchăn NamÁ” lên toànbộ từvựng, xem mọi từ Hán-Nôm không phùhợp với kho từvựng Môn-Khmer chỉ là “từ vay Hán”. Nhưng nếu gácbỏ nhãn “vaymượn”, ta sẽ thấyrằng nhiều mụctừ ấy khôngphải vaymượn gìcả: chúng mang những tươngứng cấutrúc và ngữâm với Quảngđông và Phúckiến — đềuđược các viện Hánngữ phânloại là Hán-Tạng — hoặc với các từnguyên HánTạng khác, hoàntoàn khôngliênquan đến ngữhệ NamÁ Môn-Khmer (xem Vietnamese Parallels with the Sino-Tibetan Languages).

Đãtừlâu ngườita nhậnthấy rằng những xãhội mạnhhơn và tiếnbộhơn luôn tácđộng lên những xãhội yếuhơn. Lịchsử xácnhận nguyêntắc này, rõnhất là trong thời nhàHán đôhộ Việtnam, khi sựthốngtrị được thiếtlập bằng những biệnpháp khắcnghiệt như việc Tướng Mã Viện (馬援) pháhuỷ và nungchảy trốngđồng ngay trong những năm đầu chinhphục. Theo cùng lậpluận ấy, mộtsố mụctừ cơbản chưathể kiểmchứng trong tiếngViệt cóthể truyvết về Đếchế Khmer, vốn từ thếkỷ IX đến XIII đã vươnlên thành một thếlực hùngmạnh phithường ở ĐôngnamÁ. Quymô thốngtrị của họ vẫncòn hiểnnhiên qua những tàntích nguynga của Đếthiên Đếthích (Angkor Wat và Angkor Thom); đó là những thànhquách và cungđiện đồsộ làm cả thếgiới nểphục.

Trong những năm gầnđây, theo tườngthuật của BBC London, côngnghệ Tâyphương đã pháthiện rằng sẽ còn nhiều thànhphố có tườngthành của vươngquốc Khmer cổ được tìmthấy trong những năm sắptới, saukhi họ quét‑laser khu rừngnhiệtđới Campuchia và pháthiện rằng vẫncòn những côngtrình bị chephủ nằmsâu bêndưới tầng rừngrậm dàyđặc.

Vào cùng thờikỳ ấy, tuyvậy, nhànước Annam nontrẻ chỉ vừamới nhôđầu lênkhỏi thờikỳ chìmngập lâuđời trong khônggian của ngườiHán, đếnmức mọi phươngdiện đều thấmđẫm yếutố Hán, cả về vănhóa lẫn huyếtthống. Người ta giảđịnh rằng mãi về giaiđoạn muộn, các isogloss Môn-Khmer mới lantoả và tiếpxúc với tiếngViệt Trungđại, khi Annam cổ vẫncòn nằm ở vùng thượngbắc của vĩđộ 16. Thựctế, nước Annam cổ vẫn giữ thânphận chưhầu của Trunghoa rất lâu saukhi giànhđược độclập và dễdàng khuấtphục trước thếlực ấy chođến tận ngàynay.

Trong nghiêncứu pháttriển từvựng, những từnguyên cóthể truyvết về gốc xácthực trong khoảng 1.000–1.500 năm thường có khảnăng là từvaymượn, được truyềntải qua tiếpxúc, nhấtlà giữa các ngônngữ lánggiềng. Đốivới tiếngViệt, chứngcứ ápđảo nghiêngvề ảnhhưởng Hán, kếtquả của thờigian Annam là quận‑huyện dưới sựcaitrị của nhànước Trunghoa. Về mặt địalý, trước giaiđoạn tiếpxúc kéodài ấy, cưdân LạcViệt bảnđịa cưtrú ở vùng châuthổ Sông Hồng, còn phíanam là Vươngquốc Champa có lịchsử nghìnnăm, nằmchắn ngay giữa Annam cổ và Đếchế Khmer.

Thayvì khảosát sựphatrộn chủngdân tại Hoalục, các nhà NamÁ Môn-Khmer cốgắng giảithích sựđồngnguyên của các từ cơbản Hán-Việt bằng nguyênnhân vănhóa, chorằng hễ Trunghoa có gì thì Việtnam ắtphải có nấy. Chiều ngượclại thì không: Trunghoa khôngcó những yếutố vănhóa đặcthù của Việtnam. Một vídụ điểnhình là nướcmắm, với dạng Hán hiệnhành 魚露 yúlù chỉ là một phép dịchmượn, có cấutrúc hìnhvị songhành với 魚汁 yúzhī “ngưchấp”, vốn từ tiếng Phúckiến (MânNam). Thậmchí, trườngnghĩa này còn gópphần hìnhthành từ catsup/ketchup trong tiếngAnh, như đã bàn ở một bàiviết khác. (Xem  Michael Barris’s   Ketchup’s Chinese origins a sticky subject for US foodies.) Điềuđángchúýlà trong nướcmắm, thứtự hìnhvị đảongược so với 鹹液 xiányè (HV hàmdịch, tiếngQuảng /ham2jik8/), hay đơngiản là mắm, gợiýrằng nguyênmẫu cóliênquan đến mắmcácơm, một thứ giavị lâuđời của cưdân LạcViệt.

Vìthế, các nhà NamÁ Môn-Khmer khôngthể nétránh việc thừanhận rằng các từnguyên cơbản tiếngViệt phảnánh không chỉ Môn-Khmer mà còn cả Hánngữ như hai thànhtố nềntảng của tiếngViệt hiệnhành. Tuyvậy, trước khốilượng từvựng Hán ápđảo, họ không xếp tiếngViệt vào loại ngônngữ hỗnhợp, mà xem khoảng 98% từvựng đồngnguyên Hán chỉ là “từvaymượn”, phầncònlại dưới 2% mớilà gốc NamÁ. Từ đó, họ xếp tiếngViệt vào một phânnhánh của Môn-Khmer, thayvì xét chiều ngượclại.

Sựtáiphânloại này phầnlớn chỉlà một giảipháp tiệnlợi. Nhãn “NamÁ Môn-Khmer” được dùng để lýgiải những từ cơbản chung giữa Việt và Mường. Nhưng tiếngViệt chưa từng là gốc để các ngônngữ Môn-Khmer phânnhánh. Điều bị bỏqua là khảnăng giaitầng của các ngônngữ Tháicổ (Taic) hoặc Việtcổ (Vietic) cóthể là tầnggốc sâuhơn dưới nhiều ngữhệ khác — kể cả Hán và Môn-Khmer — tuỳtheo gócnhìn. Tácgiả hiệntại nhấnmạnh quanđiểm sau, dựatrên những đặctính ngônngữ của tiếngViệt, đặcbiệt là mảng Hánngữ dàycộm.

Khókhăn nằm ởnơi các nhà NamÁ thiếu chứngcứ lịchsử để chốngđỡ giảthuyết của họ. Lậpluận của họ dựa gầnnhư hoàntoàn vào cơchế ngônngữ, dựa trên một nhóm nhỏ các từ Môn-Khmer cơbản cóthể xem như tànlưu từnguyên, được bảolưu chủyếu trong tiếngnói các tộcngười thiểusố miềnnúi — những nhóm chỉ đónggóp rấtít vào thànhphần ditruyền và ngônngữ của khối ngườiKinh. Thựctế đã chothấy ngườiViệt từlâu chính là hậuduệ của sắctộc BáchViệt; họ đượcgọilà “người Yue phươngnam” và nhànước “Việtnam” là pháoluỹ cuốicùng của tộcngười Yue. Vìthế, ngônngữhọc lịchsử tiếngViệt phải được hiểu như côngtrình nghiêncứu ngônngữ BáchViệt (Yue), vốn thâncận với ngữhệ của các ngônngữ dântộc vùng Hoanam, chứ khôngphải với các ngônngữ Môn-Khmer của Bánđảo Đôngdương. Môn-Khmer chỉ cóthể xemnhư mộtphần của liênđới Việt nếu chứngminh được rằng các nhóm Môn-Khmer từng dicư từ Trunghoa xuống Đôngdương hàng thếkỷ trước khi Annam cổ hìnhthành, thayvì xuấtphát từ hướng tâynam hoặc tâybắc theo tuyến ngữchi của tiếng Munda.

Vềmặt từnguyên, tiếpxúc địalý và vănhóa tựnhiên tạo điềukiện cho traođổi từvựng. Cũng như từ Môn-Khmer đivào tiếngViệt, những từ Việt thựcdụng cũng cóthể lan sang Môn-Khmer. Nhiều từ trong số này cóthể lenlỏivào tiếngViệt qua ngườianhem chúbác nói tiếngMường, nhóm có quanhệ ditruyền và ngônngữ gầngũi nhất với Việt. Người Mường tiếpxúc với Môn và Khmer saukhi Việt–Mường phânly, vào thờikỳ ngườiHán tiếnvào. Vìthế, các yếutố Môn-Khmer trong tiếngViệt đã đểlại disản ngữngôn truyềntải qua tiếngMường, là tiếngnói đóng vaitrò tầngđệm giữa Việt và Môn-Khmer.

Ở bìnhdiện rộnghơn, tácgiả thừanhận rằng cáchdiễngiải này vẫn là quanđiểm thiểusố, và tiếngnói đơnđộc của ông khôngđủsức đảongược giảthuyết NamÁ Môn-Khmer đã ănrễ vào các cơchế và tiếptục được củngcố qua nhiều thếhệ họcgiả. Rõràng, những ngườimới vào ngành thường đi theo lộtrình của tiềnnhân, xâydựng lậpluận trên cùng những tiềnđề cũ. Trong tranhluận về thanhđiệu, chẳnghạn, nhiều người chấpnhận giảthuyết của Haudricourt rằng Annam cổ vốn không thanhđiệu vì gốc Môn-Khmer, và môhình nguồngốc thanhđiệu của ông giảithích sựchuyểnhướng từ vôthanh sang hữuthanh mộtcách độclập trong tiếngViệt, thayvì xem hệthống thanhđiệu tiếngViệt là kếtquả của sựthẩmthấu từvựng Hán cổđại và trungđại. Nghĩalà từvựng của tiếng Háncổ khi dunhập vào tiếngViệt bảnthân nó đã mang thanhđiệu.

Về lýthuyết thanhđiệu, chúng cóthể hìnhthành tựnhiên như Haudricourt giảđịnh cho Annam cổ. Nhưng rõràng ngônngữ nói khôngthể “tự thêm” thanhđiệu một cách giảtạo; khôngthể chỉ đơnthuần “gắn” thanhđiệu vào một ngônngữ vôthanh để biến nó thành hữuthanh. Trên thựctế, ngườiViệt tựnhiên gắn thanhđiệu vào cả những từ vay Pháp sớm — như cờlê, mỏlết, bíttết, bơsữa, càphê — hoàntoàn phùhợp với khung thanhđiệu tiếngViệt. Điều này chothấy thanhđiệu là bảntố của tiếngViệt. Vìthế, giảthuyết nguồngốc thanhđiệu trong tiếngViệt của Haudricourt không đứngvững: theo môhình ấy, tiếngViệt chỉ trởthành ngônngữ hữuthanh vào thếkỷ XII qua biếnđổi nộitại, thay vì qua tiếpxúc Hán, một giảđịnh phi‑lôgic.

Thừanhận rằng ở giaiđoạn nguyênthuỷ, mọi ngônngữ cóthể vôthanh hoặc đơnâm, nhưng đó không phải trọngtâm ởđây. Từ gócnhìn Hánngữ, hợplý hơn khi cho rằng Việtcổ hoặc Tháicổ pháttriển thanhđiệu bằngcách thanhđiệuhoá các phụâm nguyênthuỷ thành bốn thanh. Chẳnghạn, 恐龍 kǒnglóng (SV khủnglong) cóthể phụcnguyên từ */klong/, trongđó việc songâmhoá cụm phụâm đầu /kl‑/ giúp giảithích những tươngứng cấutrúc từvựng nộitại.

Rõràng thanhđiệu không đikèm từvaymượn Hán khi nó dunhập vào các ngônngữ vôthanh không liênhệ, và những ngônngữ ấy cũng không pháttriển thanhđiệu vềsau. Ví­dụ điểnhình là các từvay Hán vôthanhđiệu trong tiếng Nhật và Hàn. Trong cả hai ngônngữ, từvay Hán bị tướcbỏ thanhđiệu. Dướithời Đường (618–907), người Nhật và Hàn vaymượn một kho từ Hán đồsộ và thậmchí sángtạo hệchữ riêng dựa trên giátrị âmtiết của Hántự — một bước ngoặt phávỡ tưduy Hán‑trungtâm. Tuyvậy, cấutrúc nộitại của Nhật và Hàn không chophép dungnạp đồngthời thanhđiệu và ngữnghĩa vào ngônngữ mang bảnchất vôthanhđiệu của họ, nên họ tiếptục phátâm từvay Hán phi-thanhđiệu. Chẳnghạn, trong tiếngHàn, 防火 fánghuǒ (“phònghoả”) và 放火 fànghuǒ (“phónghoả”) đều trởthành banghwa. Ngượclại, tiếngViệt hiệnhành vẫn phânbiệt phònghoảphónghoả như hai kháinệm đốinghịch. Nói cáchkhác, mỗi từ tiếngViệt đềuđược hìnhvịhoá (morphemize) với một hoặc nhiều trong tám thanhđiệu của Hántrung (nếu ởđây ta chấpnhận thanhđiệu là một hìnhthức hìnhvị khác của từvựng ghinhận caođộ của thanhvực.)

Trớtrêu thay, tiếng Phổthông hiệnhành (Quanthoại), vốnđược cho là hậuduệ trựctiếp của tiếngHán Trungcổ vốn rất giàu thanhđiệu, nay chỉcòn giữ bốn thanhđiệu. Điềunày gợiýrằng cưdân Hoabắc, thựctế mang nhiều thànhphần huyếtthống của người Nhung, Thátđát, Mãnchâu, hoặc Altai, tựthân họ cũng khôngthể bảotồn trọnvẹn hệthống thanhđiệu của tiếngHán Trungcổ, vốn gồm bốn thanh ở hai thanhvực âmdương (caothấp) (thường tínhthành tám thanhđiệu). Nếu ngaycả họ còn không giữđược đầyđủ các đốilập thanhđiệu nguyênthuỷ, thì khócóthể kỳvọng rằng những người nói các ngônngữ Môn‑Khmer — vốn gặp khókhăn khi phânbiệt các đốilập thanhđiệu tinhvi — lại cóthể làmđược điều ấy. Khókhăn này thểhiện rấtrõ khi người Tâyphương họctiếng Quanthoại khi họ cốgắng phithường để phânbiệt bốn thanh trong những âmtiết đơngiản như ma1, ma2, ma3, ma4. Vìthế, các nhàngữhọc thuyết NamÁ Môn‑Khmer tự mâuthuẫn khi bỏqua ảnhhưởng lịchsử sâusắc của cả hệthống thanhđiệu Việt lẫn Hán đối với sựhìnhthành tiếngViệt.

Vềmặt họcthuật, giảthuyết NamÁ Môn‑Khmer khôngphảilà conđường giảithích duynhất. Phần từđồngnguyên Môn‑Khmer trong tiếngViệt vừa ítỏi vừa không mang ýnghĩa quyếtđịnh. Nhiều “từnguyên” được nêura thựctế cóthể truyvết về Hánngữ, chẳnghạn chồmhỗm /chromom/ “ngồichồmhỗm” sovới 犬坐 quánzuò, hoặc chòhõ /choho/ “đứngchànghảng” sovới 伸站 shēnzhàn.

Một phươngpháp hiệuquả hơn cho từnguyênhọc tiếngViệt đòihỏi một môhình mới dựatrên hai cộttrụ: thứnhất, kho từvựng cơbản Hán‑Tạng rộnglớn với hơn 420 mụctừ đã được xácđịnh, chothấy từ gốcchung, như trong côngtrình Hán‑Tạng đồsộ của Shafer (1972); thứhai, lượng chứngcứ ngàycàng tăng về sựđồngnguyên giữa Hán và Việt, với những tươngứng khôngthể phủnhận trong hầuhết các phạmtrù ngônngữ.

Banđầu, tácgiả cũng chấpnhận giảthuyết NamÁ Môn‑Khmer, như tácgiả Bình Nguyên Lộc (1972). Niềmtin ấy chủyếu dựavào sựphổbiến của giảthuyết và sốlượng ngườiủnghộ vượttrội sovới phái Hán‑Tạng, cùngvới sựthiếuhụt kiếnthức của ông về Môn‑Khmer. Tuynhiên, qua thờigian nghiêncứu ngônngữhọc lịchsử Việt, tácgiả dần thayđổi quanđiểm. Ông nhậnthấy rằng các nhà NamÁ thườngdùng một “cáichăn chung”, rút kếtluận chỉ từ các yếu tố Môn‑Khmer hiệndiện trong những phươngngữ Mường rồi mởrộng sang tiếngViệt toànthể. Lậpluận ấy không giảiquyết được những bấtnhất, chẳnghạn như hệthống sốđếm Khmer từ 1 đến 5, vốn thườngđược tríchdẫn nhưng lại có vấnđề.

Ngaycả các bảng đốichiếu từvựng cũng gợilên nhiều nghivấn. Các nhàNamÁhọc, được đàotạo theo phươngpháp Tâyphương, thường dựadẫm vào những hướngdẫnviên địaphương trong các chuyến điềndã — những ngườithôngdịch đó cóthể không nắmvững nguyênlý ngônngữhọc, chứ chưa nóiđến ngônngữhọc sosánh hay lịchsử. Ngượclại, khi tácgiả bắtđầu đốichiếu danhsách Hán‑Tạng của Shafer (1972) với các phụcnguyên Háncổ của Karlgren, Schuessler, Wang Li, Chu Fagao, Nguyễn Tài Cẩn và những người khác, ông nhậnthấyrằng lớp từvựng cơbản Hán‑Việt có mứcđộ tươngứng với Hán‑Tạng vượtxa sovới NamÁ Môn‑Khmer.

Qua nhiều năm, tácgiả đã thuthập các vídụ đếntừ cả kinhđiển Hán và truyềnthông Hán hiệnđại, chothấy mứcđộ thẫmthấu của cả Hánvăncổ và Quanthoại vào tiếngViệt. Đángchúý, tiếngViệt hiệnhành còn bảotồn những cách dùng mà ngay cả Quảngđông hay MânNam cũng khôngcòn. Chẳnghạn, Quảngđông dùng /fajng1kao1/ và Hảinam dùng /k’waj5majk8/ cho từ “ngủ”, trongkhi tiếngViệt dùng ngủ, lạilà từđồngnguyên với 臥 (HV ngoạ).

Nhiều từnguyên Hán‑Việt khác còn chothấy sựgắnkết giữa lờinói hằngngày của ngườiViệt với khẩungữ Hán, độclập với thể Hánvăncổ từng thịnhhành ở Annam. Chẳnghạn:

  • 何故 hégùcớsao
  • 為啥 wèishávìsao
  • 卸罪 xièzuìđổlỗi
  • 賴他 làitātạinó

và:

  • 幹活 gànhuólàmviệc
  • 忙活 mánghuóbậnviệc
  • 生活 shēnghuócuộcsống
  • 勤勞 qínláolàmsiêng
  • 勞動 láodònglàmlụng
  • 再來 zàiláilàmlại
  • 上來 shàngláilênđây
  • 離近 líjìnlạigần
  • 離開 líkāirờikhỏi

Những vídụ kểtrên chothấy tiếngViệt gắnkết với truyềnthống Hán ngữ một cách sâusắc và cóhệthống hơnnhiều sovới những gì giảthuyết NamÁ Môn‑Khmer cóthể giảithích.

Những vídụ trên là những pháthiện mới do tácgiả tổnghợp. Ta cóthể xem đó là một bướctiến quantrọng, lẽra đã phải xuấthiện từlâu trong ngônngữhọc lịchsử Việt, nhưng các nhà NamÁ, dù nỗlực nhiều thậpniên, vẫnchưa làmđược. Hãynhớrằng các nhàlýluận NamÁ thường thổiphồng giátrị của một nhóm “từcơbản”, nhưđãnói, phầnlớn thuthập từ các chuyến điềndã với sựhỗtrợ của những thôngdịchviên hướngdẫn thuộc các tộc Môn‑Khmer thiểusố, thường dưới sựtàitrợ của các việnnghiêncứu ngắnhạn.

Mặcdù cộngđồng ngônngữhọc rộnglớn chưa chấpnhận giảthuyết Hán‑Tạng cho tiếngViệt, các nhà NamÁ đã giam tiếngViệt trong khung Môn‑Khmer đã quálâu, đếnmức cảntrở sựtiếntriển nghiêmtúc của từnguyênhọc tiếngViệt suốt nhiều thậpniên. Hậuquả là những ngườimới vào ngành thường chỉ dựavào khoáhọc, rồi lặplại lộtrình của tiềnnhân: đi điềndã, hỏi thổdân, và lặplại những phươngpháp cũ. Những cáchlàm lỗithời ấy đã không manglại thànhtựu nào đángkể trongsuốt sáumươi năm, chỉ đàosâu thêm những hàoluỹ cũ mà không tìmra điềugì mới, và càng mởrộng khoảngcách mà ít ai dám bướcqua.

Thựctế, những điểmyếu phươngpháp nhưvậy cóthể ảnhhưởng đến bấtkỳ trườngphái nào. Sựthiếuhụt chuyênmôn về các ngônngữ liênquan — như các phươngngữ Hán hoặc các thổngữ Môn‑Khmer — dễ dẫnđến những kếtluận sai. Từnguyênhọc đòihỏi khôngchỉ tưliệu mà còn cả sựnghiêmtúc trítuệ, độchínhxác phântích và khảnăng sángtạo. Khôngthể chỉ dựavào côngcụ, áp dụng quytrình cơgiới, hay lập bảng từvựng để biệnminh cho tính hợplý của mộtvài mụctừ trùngkhớp. Trong hơn 20.000 từ Hán‑Việt đang dùng hằngngày, có baonhiêu từ Môn‑Khmer thậtsự cóthể xemlà cơbản? Liệu mộtvài từnguyên ấy có tạonên bảntố của ngônngữ? NgườiViệt vẫn giaotiếp trôitrảy mà khôngcần đến chúng, điềunày tựthân đã chothấy vai trò thứyếu của chúng.

Không ai cóthể tinhthông toànbộ các ngônngữ liênquan: Thái, Tráng, Môn, Khmer, Quanthoại, Quảngđông, Hảinam, Phúckiến, Việt và nhiều ngônngữ khác. Họcsinh cóthể vượtqua các kỳthi khảosát ngônngữhọc lịchsử nhờ nănglực và đàotạo, nhưng các chuyêngia thường điđến kếtluận dựatrên kiếnthức hạnchế. Ai khởiđầu từ những tiềnđề sailầm sẽ dễdàng tiếptục lantruyền saisót và chuyểngiao thôngtin khôngchínhxác, trừphi được hiệuđính bởi những người amhiểu.

Côngtrình này giớithiệu một phươngpháp mới cho từnguyênhọc Hán‑Việt, cungcấp cho họcsinh một môhình truyvết từnguyên tiếngViệt phùhợp với gốc Hán‑Tạng và Hánngữ, cóthể sochiếu với các phươngngữ trong khônggian ngônngữ Hán. Đâylà côngtrình nguyênbản, xuấthiện trựctuyến cáchđây haimươilăm năm, và từđó đãđược nhiều người tríchdẫn như chứngcứ hỗtrợ.

Ngônngữhọc sosánh‑lịchsử đòihỏi nhiều hơn sựthôngminh; nó đòihỏi sựnhạycảm đối với căntính vănhóa và ngônngữ. Chủnghĩadântộc thường chiphối nhậnthức: chẳnghạn, hậuduệ người Hoa tại Việtnam cóthể xem mình hoàntoàn là ngườiViệt, cũngnhư người Đàiloan hoặc Singapore gốcHoa xem mình là côngdân của quốcgia họ. Những yếutố này dễ làmmờ nhậnđịnh khoahọc.

Mụctiêu của côngtrình này không phải để “chứngminh” rằng tiếngViệt có nguồngốc Hán‑Tạng, cũng khôngphải để phủnhận sựhiệnhữu của các từnguyên Môn‑Khmer. Thayvàođó, nó nhằm giớithiệu những dữliệu và phươngpháp mới để táiđánhgiá hàngnghìn từ tiếngViệt có gốc Hán rõrệt. Những côngcụ này cũng cóthể dùng để xemxét lại những từ từngđược phânloại bởi các họcgiả của cảhai phái.

Những điểm tươngđồng từvựng là khôngthể phủnhận. Các nhànghiêncứu ngữhọc NamÁ nêura những trùngkhớp với Môn‑Khmer, nhưng họ không giảithích được bềrộng của lớp từvựng cơbản rõràng tươngứng với Hánngữ: nạ = 娘 niáng (“mẹ”), bố = 父 (“cha”), mẹ = 母 (“mẹ”), xơi = 食 shí (“ăn”), ăn = 唵 ǎn (“ăn”), uống = 飲 yǐn (“uống”), ngủ = 臥 (“ngủ”), mắt = 目 (“mắt”), đầu = 頭 tóu (“đầu”), sọ = 首 shǒu (“sọ”), ngực = 臆 (“ngực”), phổi = 肺 fèi (“phổi”), bụng = 腹 (“bụng”), gạo = 稻 dào (“gạo”), chim = 禽 qín (“chim”), = 魚 (“cá”), lửa = 火 huǒ (“lửa”), = 葉 (“lá”), nhà = 家 jiā (“nhà”), lợn = 豚 tún (“heo”), săn = 田 tián (“săn”), và còn nhiều từ khác — kể cả những từnguyên không dễ nhậnra ngay.

Khôngcógì ngạinhiên khi các nhàngônngữhọc Việtnam theo phái Môn‑Khmer sẽ bảovệ luậnđiểm của họ mộtcách quyếtliệt. Tuyvậy, côngtrình này chothấyrằng sốlượng từ cơbản Môn‑Khmer được tríchdẫn chỉ khoảng 170 mụctừ — quánhỏ so với khối lượng đồsộ các từ tiếngViệt có gốc Hán. Nếu địnhnghĩa từvựng cơbản là khoảng 200 mụctừ, như ngônngữhọc thường chấpnhận, thì theo chính lậpluận của phái NamÁ, tiếngViệt phải được xếp vào Hán‑Tạng.

Phântích sosánh liênngữ cũng củngcố quanđiểm này. Quảngđông và MânNam — hai phươngngữ Hán lớn — được xếpvào ngữchi Hán của Hán‑Tạng chủyếu dựatrên lớp từvựng Hán, chứ khôngchỉ dựavào từvựng cơbản. Theo cùng lậpluận, tiếngViệt cũngnên được xemxét cùngvới chúng. Tấtcả những ngônngữ này đều xuấtphát từ các dòng Việt trong liênđới Thái‑Việt cổ, mang những liênhệ Hán‑Tạng. Các giảthuyết về tiếpxúc giữa Tháicổ và tiền‑Hán trước thời Chu (1122–256 TCN) càng củngcố mốiliênhệ này.

Mặcdù khôngcần vộivàng táiphânloại tiếngViệt thành Hánngữ, chứngcứ chothấy lớp từvựng cơbản của nó có khảnăng cao là đồngnguyên với Hán‑Tạng. Hơnnữa, từ Hán‑Việt khôngchỉ trùngkhớp về từvựng mà còn về cấutrúc và ngữâm, baogồm cả những đặctính tinhvi thường thấy trong các ngônngữ cậnhệ.

Những phần tiếptheo trong bảng mụctừ dướiđây sẽ trìnhbày chitiết hơn những tươngđồng ngônngữ nổibật, kèm thêm vídụ và phântích để củngcố các luậnđiểm này.

III) Vấnđề cốtlõi của tiếngViệt

A. Hệthống thanhđiệu

TiếngViệt dùng hệthống tám thanhđiệu, thườngđược môtả thành sáu thanh trong chínhtả hiệnhành, vốn khôngtính hai thanhnhập (入聲 rùshēng). Hệthống này tươngứng gầnnhư hoàntoàn với sơđồ thanhđiệu truyềnthống của tiếngHán Trungcổ, gồm bốn thanh ở hai thanh âm‑dương. Các thanhđiệu tiếngViệt cóthể đốiứng trựctiếp với thanhđiệu Quảngđông và MânNam hiệnhành, và cũng chophép ngâmđọc thơ Đường theo đúng quyphạm về điệuluật bằngtrắc và vậnmẫu (Xu Liting 1982:219).

Quanthoại ngàynay chỉ còn giữ bốn thanhđiệu, nhưng giátrị caothấp của chúng vẫn tươngứng chặtchẽ với các từđồngâm tiếngViệt. Các phươngngữ Hán miềnnam, đặcbiệt là MânNam và Quảngđông, giữ từ bảy đến mười thanhđệu. Chẳnghạn, Quảngđông phânbiệt chín thanh: ma1, ma2, ma3, ma4, ma5, ma6, mak7, mak8, mak, tươngứng với âmtiết tiếngViệt ma, mà, mả, mã, má, mạ, mác (mát, máp), mạc (mạt, mạp), mac (mat, map).

Những giátrị thanhđiệu tươngđương cũng xuấthiện trong các ngônngữ thiểusố miềnnam Trunghoa như Choang (Nùng), Dai (Tày), H’mong (Mèo), nói tại Vânnam, Quýchâu, Quảngtây, Hồnam, Quảngđông, và Phúckiến. Trong các trườnghợp này, mỗi thanh mang giátrị ngữâm gầnnhư trùngkhớp với thanh tươngứng trong các phươngngữ Hán, gợiý một hệthống thanhđiệu chung và bảntố, chỉra một mốiliênhệ ngônngữ cùng ngữhệ.

Ngượclại, các ngônngữ Môn‑Khmer khôngcó độphứctạp ấy. Đặctính thanhngữđiệu của chúng chỉ tươngđương khoảng haithanh tiếngViệt, ma, (còn ít hơncả câucú mang dấunhấn ‘tress‘ trong từng vịtrí ngữcảnh của từvựng tiếngAnh) nêubật sựkhácbiệt cănbản giữa hệthống thanhđiệu tiếngViệt và hệthống caothấp của Môn‑Khmer.

B. Cấutrúc câu cănbản

Cả Hán và Việt đều dùng môhình {Chủngữ + Độngtừ + Tânngữ} (SVO):

  • 我 愛 小燕! (Wǒ ài Xiǎoyàn!) → Tôi yêu Tiểu Yến!

Biếnthể gồm đảo tânngữ ra trước:

  • 飯 我 吃了 (Fàn wǒ chī le.) → Cơm tôi ăn rồi.
  • 這 本書 我 看 了 (Zhè běnshū wǒ kàn le.) → Quyểnsách này tôi xem rồi.
  • 把 水果 帶 過來 請客 (Bǎ shuǐguǒ dài guòlái qǐngkè.) → Bưng tráicây đem quađây mời khách.

Cấutrúc lưỡngchủthể:

  • 小燕 她 愛我 (Xiǎoyàn tā ài wǒ) → Tiểu Yến nó yêu tôi.

Trong vídụ cuối, ngoài các cấutrúc có tânngữ trựctiếp hoặc giántiếp, cả hai ngônngữ đều không chophép một cấutrúc S+V+OO kép trongđó tânngữ bị lặplại dưthừa, như ‘…+ Tiểu Yến nó‘. Đồngthời, cảhai đều chophép lượcbỏ chủngữ hoặc tânngữ khi ngữcảnh đã xácđịnh. Đâylà một đặctính quantrọng trong ngônngữhọc sosánh, vì nó nêubật một songhành cấutrúc cógiátrị chẩnđoán trong việc xáclập mốiliênhệ ditruyền hoặc vùng ảnhhưởng giữa các ngônngữ cùnghọ.

C. Cấutrúc “côlập”

Cả Hán và Việt đều không có phụtố biếnhình để đánhdấu chứcnăng ngữpháp hoặc quanhệ cúpháp, khác với các ngônngữ Ấn‑Âu. Thayvàođó, chúng dựavào các hạttừ (ngữtố, tiềntố, và hậutố) cốđịnh để hìnhthành các cấutrúc tĩnhthái, liênhệ, bịđộng, chủđộng, thađộng, và địnhngữ.

Từ chứcnăng ngữpháp

ViệtHánPinyinEnglish meaning
không(bù)‘negation’
(yǒu)‘there is’ / ‘exist’
 (thì, SV thị)(shì)‘to be’
bị(bèi)‘passive’ (in Chinese also active, in Vietnamese only passive)
được(dé)‘active/resultative’
nó thôngminh她聰明(tā cōngmíng)‘she is intelligent’
cóphải是否(shìfǒu)‘is it…?’
cóphảilà是不是(shìbùshì)‘is that…?’
không (cuối câu nghivấn)不 / 否(bù / fǒu)(final interrogative particle: ‘…isn’t it?’, ‘…don’t you?’

Các hìnhtiết hìnhvị vậnhành như phụtố

Những hìnhvị này hoạtđộng songhành trong cả haingônngữ vì tiếngViệt không chỉ tiếpthu trọnbộ các họbiếnthể hìnhvị Hánngữ mà còn dùngchúng để kiếntạo các từ đaâmtiết mang cùng đặctính ngữnghĩa và cấutrúc.

ViệtHánPinyinEnglish meaning
hoanhỏ花兒(huār)‘flower’
mainày明兒(mínr)‘tomorrow’
họcgiả學者(xuézhě)‘scholar’
tácgiả作者(zuòzhě)‘author’
vôlễ無禮(wúlǐ)‘impolite’
vôhiệu無效(wúxiào)‘ineffective’
phithường非常(fēicháng)‘extraordinary’
phichínhnghĩa非正義(fēizhèngyì)‘injustice’
casĩ歌手(gēshǒu)‘singer’ (手 shǒu ~  士 shì)
hoạsĩ畫家(huàjiā)‘painter’ (家 jiā ~  士 shì)
nhàthơ詩人(shīrén)‘poet’ (人 rén ~ nhà 家 jiā)

Bảng mụctừ này nêurõ chothấy:

  • Cảhai ngônngữ đều dùng các từvựng cốđịnh thaycho phụtố biếnhình.
  • Các âmtiết hìnhvị vậnhành như phụtố, kiếntạo những tổhợp đaâmtiết có cấutrúc ngữnghĩa songhành.
  • TiếngViệt đã tiếpthu và tíchhợp cóhệthống các loại hìnhvị Hánngữ vào chính từvựng của mình.

D. Cấutrúc âmtiết

Đơnvị từvựng cănbản của tiếngViệt tuân theo môhình [âmđầu + âmgiữa + âmcuối], thường gặp nhất là CVC (phụâm + nguyêntố + phụâm). TiếngViệt, giống như tiếngHán, ưachuộng âmtiết mởđầu bằng phụâm (sốlượng từ mởđầu bằng nguyênâm íthơnnhiều). Các âmtiết này dùng những phụâm đơn như /k/, /c/, /t/, /ʈ/, /n/, /ŋ/, /ɲ/, v.v. , và khôngcó phụâmphức, Các bánnguyênâm như /‑w‑/ và /‑j‑/ cũng phổbiến. Chẳnghạn:

  • xoang [swaːŋ˧˧] ↔ 腔 (qiāng, Hán Trungcổ /hɑŋ⁵⁵/)
  • hương [hɨəŋ˧˧] ↔ 香 (xiāng, Hán Trungcổ /hœːŋ⁵⁵/)

Từvựng Hán‑Việt đặcbiệt gầnvới tiếngHán Trungcổ, nhấtlà ở các vầncuối pháttriển từ các âmcuối của vậnđuôi khépmôi Háncổ độcđáo như /‑wng/ và /‑wk/.

Bảng 7 — Tươngứng âmtiết

ViệtPhiênâm Quốctế (IPA)TiếngHán TrungcổQuanthoạiHánMeaning
thống[tʰəwŋ˧˥]/thowng5/tòng /tʊŋ⁵⁵/‘pain’
đông[ɗəwŋ˧˧]/downg1/dōng /tong1/‘east’
cốc[kəwk˧˥]/kowk7/gǔ /kʊk̚⁵/‘cereal’
tốc[təwk˧˥]/towk7/sù /su4/‘fast’
quốc[kwək̚˧˥]/kwok/guó /kuɔ³⁵/‘nation’
mục[muk̚˧˥]/muwk/mù /mu⁵¹/‘eye’
bạch[ɓaɪk̚˧˥]/baek/bái /pai³⁵/‘white’
lực[lɨk̚˧˥]/liwk/lì /li⁵¹/‘strength’
học[hɔk̚˧˥]/haewk/xué /ɕyɛ³⁵/‘study’
quách[kwaːk̚˧˥]/kwæk/guō /kuɔ⁵⁵/‘outer wall’

Bảng mởrộng này chothấy:

  • Môhình CVC giữ vịtrí chủđạo trong cả tiếngViệt lẫn tiếngHán Trungcổ.
  • Các phụâmcuối như ‑ng, ‑k, ‑c, ‑ch vẫn được bảotồn trong tiếngViệt, phảnánh trungthực ngữâm Hán Trungcổ.
  • •Quanthoại thường đơngiảnhoá hoặc chuyểndịch các vỹâm (âmđuôi) này, nhưng mốiliênhệ lịchsử vẫn còn hiểnnhiên.

Bảng 8 — Vậncuối trong tiếngViệt, Hán Trungcổ, Quanthoại, Quảngđông và MânNam

Vỹâm tiếngViệttiếngHán TrungcổQuanthoạiQuảngđôngPhúckiếnHánMeaning
‑ngthống 
[tʰəwŋ˧˥], 
đông
[ɗəwŋ˧˧]
/‑wng/tòng 痛 /tʊŋ⁵⁵/, dōng 東 /toŋ⁵⁵/tung3 痛,
dung1 東
thàng 痛, tang 東痛, 東‘pain’, ‘east’
‑kcốc [kəwk̚˧˥],
tốc [təwk̚˧˥],
quốc [kwək̚˧˥]
/‑wk/,
/‑ok/
gǔ 榖 /ku³⁵/,
sù 速 /su⁵¹/,
guó 國 /kuɔ³⁵/
guk1 榖,
cuk1 速,
gwok3 國
kok 榖, chok 速, kok 國榖, 速, 國‘cereal’, ‘fast’, ‘nation’
‑tmật [mət̚˧˥],
quật [kwət̚˧˥]
/‑t/mì 蜜 /mi⁵¹/,
qū 屈 /tɕʰy⁵⁵/
mat6 蜜,
wat1 屈
bat 蜜,
oat 屈
蜜, 屈‘honey’, ‘bend’
‑phợp [həp̚˧˥],
thập [tʰəp̚˧˥]
/‑p/hé 合 /xɤ³⁵/,
shí 十 /ʂɨ³⁵/
hap6 合,
sap6 十
hap 合, chap 十合, 十‘combine’, ‘ten’
‑mtâm [təm˧˥],
nam [nam˧˥]
/‑m/xīn 心 /ɕin⁵⁵/,
nán 南 /nan³⁵/
sam1 心,
naam4 南
sim 心,
lam 南
心, 南‘heart’, ‘south’
‑nân [ən˧˥],
sơn
 [səːn˧˥]
/‑n/ēn 恩 /ən⁵⁵/,
shān 山 /ʂan⁵⁵/
jan1 恩,
saan1 山
in 恩,
soaⁿ 山
恩, 山‘grace’, ‘mountain’

Ghichú:

  • TiếngViệt và Quảngđông đều bảotồn các âmcuốitắc (‑p, ‑t, ‑k) và các âmcuốimũi (‑m, ‑n, ‑ng), khiến chúng gầnvới tiếngHán Trungcổ hơnnhiều sovới Quanthoại.
  • MânNam cũng giữ các âmcuối này, chothấy những songhành mạnhmẽ với tiếngViệt.
  • Quanthoại đã làmmất phầnlớn các âmcuốitắc, đơngiảnhoá chúng thành nguyênâm mở hoặc chuyểnhóa thành biếntố thanhđiệu.
  • Sựbảotồn này giảithích vìsao tiếngViệt và các phươngngữ Hán miềnnam (Quảngđông, MânNam) đặcbiệt quígiá trong việc phụcnguyên vậnluật và hệthống thanhđiệu thời Đường.

E. Lớp từvựng cơbản

Sựtươngđồng nổibật này là khôngthể phủnhận trong mọi phươngdiện từvựng của từng từ thuộc lớp từnguyên cơbản chung.

Lớp từvựng cơbản giữa tiếngViệt, tiếngHán và các hệphụcnguyên

ViệtHánPinyinPulleyblank
âm Hán Trungcổ (MC)
Baxter–Sagart
MC
Zhengzhang
MC
Baxter–Sagart
âm Hán Thượngcổ (*OC)
Meaning
nạ(niáng)nɨaŋ nɨaŋnjaŋnraŋ‘mother’
tía(diè)tja tjatjajaʔ‘dad’
bố(fù)bjuH bjuHbjuHpəʔ-s‘father’
xơi(shí)ʑiək d͡ʑiɪkɕiəkl̥ek‘eat (meal)’
ăn(ăn)ʔomX ʔomXʔomXʔˤəmʔ‘eat’
ngủ(wò)ŋwaH ŋwaHŋwaHŋˤwaʔ‘sleep’
xem(qiáo)dzew dzewdzewdzew‘look’
mắt(mù)mjuk mjuwkmjukmˤuk‘eye’
đầu(tóu)duw duwduwlˤu‘head’
ngực(yì)ʔik ʔikʔikʔik‘chest’
phổi(fèi)piajH pɨajHpiajHpˤi[t]-s‘lung’
gạo(dào)dawH dawHdawHlˤuʔ-s‘rice’
(yú)ŋjo ŋjoŋjoŋa‘fish’
lửa(huǒ)xwaX xwaXxwaXqʰˤajʔ‘fire’
(yè)jep jepjeplˤap‘leaf’
nhà(jiā)ka krakrakra‘home’
lợn(tún)dwin dwondwinlˤu[n]‘pig’
trồng(zhòng)tsyuwngX t͡ɕjuwngXtsyuwŋXtoŋʔ‘cultivate’
săn(tián)den dendenl̥ˤiŋ‘hunt’

Những điểm thenchốt

  • Các thểhiện ngữâm tiếngViệt bảotồn các âmcuối (‑p, ‑t, ‑k, ‑m, ‑n, ‑ng) vốn hiểnnhiên trong tiếngHán Trungcổ và còn truyvết được về Háncổ.
  • Pulleyblank, Baxter–Sagart và Zhengzhang dùng kýhiệu khácnhau, nhưng tấtcả đều biểulộ cùng một cấutrúc cănbản.
  • Phụcnguyên Háncổ hélộ từgốc sâuhơn: chẳnghạn, bố (父) truyvết về Háncổ pəʔ‑s, còn mắt (目) phảnánh Háncổ mˤuk (phươngngữ Hảinam /mat5/). Điều này chothấy tiếngViệt, thôngqua lớp Hán‑Việt, đã bảotồn những đặctính ngữâm cổ xưa nối trựctiếp với Háncổ.
  • Trong cả ba hệ phụcnguyên, các âmcuối (‑p, ‑t, ‑k, ‑m, ‑n, ‑ng) đều được bảotồn nhấtquán, giảithích vìsao các biểuhiện tiếngViệt vẫn gầngũi đặcbiệt với tiếng Hán Trungcổ.

F. Thànhphần gốc phươngngữ

Nhiều từ và cúpháp tiếngViệt hằngngày mang những tươngứng rõrệt với các phươngngữ Hán miềnnam (Quảngđông, Hảinam, Phúckiến/MânNam), phảnánh nhiều thếkỷ tiếpxúc và vaymượn.

ViệtHánPinyinPhươngngữEnglish meaning

đúngrồi

中了

zhòngle

Quanthoại

‘correct’
đượcrồi得了déleQuanthoại‘that’s okay!’
luônluôn老老 / 牢牢láoláoQuanthoại‘always’
ngàymai明兒mínrQuanthoại (phươngngữ)‘tomorrow’
nóichuyện聊天liáotanQuanthoại‘talk’
ngầuníuQuanthoại (tiếnglóng)‘hefty, cool’
đánhcá打魚dǎyúQuanthoại‘net fishing’
gàcồ / gàtrống雞公jīgōngHảinam, Phúckiến, Hẹ, Quảng, Tương…
/kekong/, /koekong/
‘rooster, cock’
gàmái雞母jīmǔ(Thànhđô, Tứxuyên /jīmǔ/), Hảinam /giĕmai/, Phúckiến /giĕmō̤/, Quảngđông /kemou6/
‘hen’
mắtkiếng目鏡mùjìngHảinam /mat5keng5/‘eye‑glasses’
biết明白míngbǎiHảinam, Phúckiến /bat1/ (clipping of 1st syllable)‘know’
soàishēPhúckiến /suã/‘mango’
conjiǎnPhúckiến /kiaŋ/, /kiã/, /kẽ/‘son, child’
chạyzǒuQuảngđông /zau2/‘run’
xơishíCantonese /ʂʐ̩³⁵/‘eat (meal)’
uốngyǐnQuảngđông /jam3/‘drink’

Những quansát chính

  • Khẩungữ Quanthoại đã đónggóp các dạng như đúngrồi, đượcrồi, ngàymai.
  • Các phươngngữ miềnnam (Hảinam, Phúckiến/MânNam, Quảngđông) cungcấp nhiều từ thôngdụng hằngngày: gàcồ, gàmái, mắtkiếng, soài, con, chạy, uống.
  • Những vaymượn này nêubật tầng ảnhhưởng phươngngữ nhập nhiều lớp vào tiếngViệt, vượtra ngoài giaitầng Hán‑Việt kinhđiển gắnbó với Hán Trungcổ.

G. Tínhchất đaâmtiết

Từvựng tiếngViệt phầnlớn là đaâmtiết, songhành với các tổhợp từ Hán. Những dạng này xuấthiện thườngxuyên trong sửdụng hằngngày và thường biểulộ sựtươngứng trựctiếp hoặc những kếtcấu ngữnghĩa sángtạo.

Từvựng đaâmtiết thôngdụng

ViệtHánPinyinEnglish meaning
siêngnăng勤勉qínmiǎn‘industrious’
làmsiêng勤勞qínláo‘hardworking’
nonsông江山jiāngshān‘country’ (lit. ‘river + mountain’)
ánhmắt目光mùguāng‘the look’
ánhnắng陽光yángguāng‘sunlight’
giàucó富有fùyǒu‘wealthy’

Những kếtcấu ngữnghĩa đặcthù

ViệtHánPinyinBaxter–Sagart
MC
Literal meaningSemantic sense
bàntay手板shǒubǎn/*ʑuwX panX/‘panel of the palm’‘hand’
cổchân腳脖子jiǎobózi/*kjak pwot/‘neck of the foot’‘ankle’
khuônmặt面孔miànkǒng/*menH khuwngX/‘frame of a face’‘face’
dướiquê鄉下xiāngxià/*qʰjaŋ hæH/‘(down there in the) countryside’‘countryside’
đoáhoa花朵huāduǒ/*xwa taX/‘(a stem of) flower’‘flower’

Những quansát chính:

  • Đảongược thứtự hìnhvị: Một số từ đaâmtiết tiếngViệt đảongược thứtự sovới tiếngHán, phảnánh mẫu ngữpháp địaphương khi hìnhthành từ đaâmtiết, hiệntượng từng xảyra phổbiến trong khoảng cuối thời nhàĐường.
  • Tầnsuất cao của từ đaâmtiết: TiếngViệt, giống tiếngHán, dựa mạnh vào các tổhợp hai hìnhvị.
  • Sángtạo ngữnghĩa: Nhiều tổhợp được kiếntạo từmới (coinage) những ẩndụ sốngđộng (cổchân = “cổ của chân”).

H. Âmtiết hìnhvị, đơnvị kiếntạo từmới

Các tổhợp âmtiết hìnhvị trong tiếngViệt, tiếngHán và các hệphụcnguyên

ViệtHánPinyinPulleyblank
MC
Baxter-Sagart
MC
Zhengzhang
MC
Baxter-Sagart
*OC
Meaning
bồihồi徘徊páihuáibaj hwajbɨaj hwajbɨaj hwajbˤəj ɡʷˤəj‘melancholy; hesitation’
yêuđương愛戴àidàiʔaj tajHʔajH tajHʔaj tajHqˤəʔ-s lˤəks‘love’
khổsở苦楚kǔchǔkhuX tshoXkʰuX t͡ʂʰoXkʰuX t͡ʂʰoXkʰˤaʔ tʰraʔ‘hardship’
mắcbệnh犯病fànbìngbjiamH biajŋHbjomH biajŋHbjomH biajŋHbom-s breŋ-s‘to be sick’
bắtcóc綁架bǎngjiàpaŋX kaeHpaŋX kraeHpaŋX kraeHpˤaŋʔ kraʔ-s‘kidnap’
cẩuthả苟且gǒuqiěkuwX tshjaXkuwX t͡ɕʰjaXkuwX t͡ɕʰjaXkˤoʔ tʰjaʔ‘sloppy; careless’
  • Pulleyblank: Phiênâm ngắngọn, thựcdụng.
  • Baxter–Sagart MC: Chitiết, có phânloại thanhđiệu (X, H) và chấttố nguyênâm.
  • Zhengzhang: Chitiết tươngtự cách phiênâm của Baxter–Sagart nhưng giảđịnh ngữâm hơikhác.
  • Háncổ (Baxter–Sagart OC): Đẩy từnguyên về sâuhơn, thường phụcnguyên thanhhầu, ngạc-âm và cụm phụâmphức giảithích các biểuhiện ngữâm Hán Trungcổ vềsau.

Các dạng tiếngViệt thường phảnánh sát ngữâm Hán Trungcổ, nhưng cấutrúc ngữnghĩa lại được bảotồn từ các tổhợp Hán.

I. Tổhợp âmtiết songhành (ở dạng đồngnghĩa / phảnnghĩa / láy)

Cả tiếng Việt và Hán đều =có sốlượng lớn từ đơnâm, trongđó nhiều từ đồngâm do khuônmẫu âmtiết giới hạn {(C) + V + (C)}. Riêng tiếngHán đã tíchluỹ gần 80.000 tự (chữkhốivuông Hán) trong khung ngữâm này.

Để giảmbớt mơhồ, cảhai ngônngữ đều pháttriển mạnhmẽ xuhướng hướngtới việc kếthợp âmtiết hìnhvị rời lạivớinhau để tạo từ đaâmtiết. Điềunày gồm việc ghép hai đơnâmtiết — thường là đồngnghĩa, tráinghĩa hoặc liênhệ ngữnghĩa — thành các từ đaâmtiết. TiếngViệt cũng dùng rộngrãi láy và các tổhợp hìnhvị songhành, phảnánh sát chiếnlược của tiếngHán.

Tổhợp đồngnghĩa / phảnnghĩa

ViệtHánPinyinnghĩađenSemantic sense
đấtđai土地tǔdì‘soil + land’land
thươngyêu疼愛téngài‘affection + love’love
buồnrầu愁悶chóumèn‘sad + sorrowful’sorrow
chịuđựng承受chéngshòu‘take + accept’endure
tìmkiếm尋找xúnzǎo‘seek + search’search
chimchóc禽雀qínquè‘fowls + birds’birds
caothấp高低gāodī‘high + low’contrast in height
trêndưới上下shàngxià‘above + below’positional relation

Từláy songâmtiết

ViệtHánPinyinEnglish meaning
liênmiên連綿liánmiǎncontinuous
mongmanh渺茫miǎomángslim, faint
lôithôi囉嗦luōsuōverbose
dễdàng容易róngyìeasily
lòngthòng籠統lóngtǒnglong-winded, loose

Từghép hìnhvị songhành

ViệtHánPinyinNghĩađenSemantic sense
cayđắng辛苦xīnkǔ‘spicy hot + bitter’hardship, suffering
lạigần離近líjìn‘far + near’get closer
dìghẻ姨姨yíyí‘aunt + aunt’stepmother

Những quansát chính

  • Đơnâmtiết quátải: Cảhai ngônngữ đều chịu mứcđộ đồngâm rấtcao do kho từ đơnâmtiết giớihạn.
  • Ghépchữ thành từkép để giảiquyết: Các từ đaâmtiết làm giảmbớt mơhồ và làmgiàu khảnăng diễnđạt.
  • Chiếnlược ngữnghĩa: Tổhợp cóthể được cấutạo từ đồngnghĩa, phảnnghĩa, lấpláy hoặc các hìnhvị songhành.
  • Tươngứng Việt–Hán: Sựtươngđồng cấutrúc phảnánh quátrình vaymượn và thíchứng lâudài, đặcbiệt pháttriển mạnh vào thời nhàĐường.

J. Tươngđồng trong khẩungữ và thànhngữ

Cảhai ngônngữ, do bảnchất nộitại, biểulộ những đặctính riêng ở nhiều bìnhdiện — đặcbiệt trong biếnthể phươngngữ và khẩungữ. Những tươngứng này hiểnhiện trong các câunói hằngngày, chẳnghạn:

  • tạitôi (賴我 làiwǒ)
  • vìsao (為啥 wèishă)
  • làmviệc (幹活 gànhuó)
  • chồmhổm (犬坐 quǎnzuò)
  • răngkhểnh (犬牙 quǎnyá)
  • saocứ (總是 zǒngshì)
  • tấtcả (大家 dàjiā)
  • mauchóng (馬上 măshàng)
  • ítra (起碼 qǐmǎ)
  • trờinắng (太陽 tàiyáng)
  • nơinào (那裡 nàlǐ)
  • đểý (在意 zàiyì, “để ý”)
  • Tên này thậttếu. (這 個 人 挺逗. Zhègè rén tǐngdòu, “Người này thật tếu”)

Còn các thànhngữ mang tính vănhoá càng làmrõ khung tưduy chung:

  • uốngnướcnhớnguồn (飲水思源 yǐnshuǐsīyuán)
  • lárụngvềcội (葉落歸根 yèluòguīgēn)
  • ếchngồiđáygiếng (井蛙之見 jǐngwòzhījiàn)
  • sưtửHàđông (河東獅子 Hédōngshīzǐ)

Hơnnữa, các mẫuhình ngữthanh trong tiếngViệt nêugợi ýnghĩa bằng các phụâmđầu như /b‑/, /f‑/, /ph‑/ và các biếnthể /x‑/, /gi‑/, /z‑/ thường gợilên hìnhảnh trượt, phồng, hoặc chuyểnđộng nhẹ. Điềunày hiểnhiện qua các biểuthức như:

  • phậpphồng (彭彭 péngpéng)
  • bềnhbồng (泛泛 fànfàn)
  • phấtphới (飄飄 piāopiāo)
  • phầnphật (翩翩 piānpiān)

Những vídụ này khôngchỉ chothấy sựhộitụ từvựng màcòn phảnánh các ẩndụ nhậnthức chung được mãhoá trong biểutượng âmthanh của cảhai ngônngữ.

K. Loạitừ và chứcnăng như đạitừ

Các loạitừ ngữpháp và chứcnăng trong tiếng Việt và Hán dùng để chỉđịnh sựvật, sựkiện hoặc đơnvị. Chúng thường đứng trước danhtừ, nhưng cũng cóthể dùng độclập như đạitừ. Cáchdùng gầnnhư songhành trong cảhai ngônngữ, chẳnghạn:

  • cái (個 gè)
  • chiếc (隻 zhī)
  • đôi (對 duì)
  • con (子 zǐ)
  • cuốn (卷 juān)
  • (把 bǎ)
  • chìa (匙 chí)
  • trang (張 zhāng)
  • trận (陣 zhèn)
  • cục (塊 kuài)
  • miếng (片 piàn)
  • cơn (場 chăng)
  • chuyện (件 jiàn)
  • ván (盤 pán)
  • cuộc (局 jú)
  • bữa (飯 fàn)

Vềmặt ngữnghĩa và ngữpháp, các loạitừ này thường kếtcặp cốđịnh với từng nhóm từvựng, hìnhthành những đơnvị chặtchẽ mang ýnghĩa phânloại rànhmạch. Mỗi loạitừ xáclập một miền ngữnghĩa riêng — địnhlượng sinhvật, sựkiện trừutượng hoặc sựvật cụthể.

L. Trợtừ

Các trợtừ ngữpháp thường được ghépkèm ở cuối câu để biểulộ hướngtính, cảmthái hoặc tháiđộ của ngườinói đốivới một tìnhhuống nhấtđịnh. Thídụ:

  • đây như trong Lênđây! (上來! Shànglái!)
  • đi như trong Vềđi. (回去. Huíqù.)
  • ơi như trong Trờiơi! (天啊! Tiānna!)
  • như trong Tôi đây nè. (是 我 呢. Shì wǒ ne.)
  • nha, nhé như trong Tôi ăn nha. (我 吃 啦. Wǒ chī lā.)
  • rồi như trong Chạy khôngnổi nữa rồi! (走不了了呢! Zǒu bùliăo le ne!)

Các trợtừ này hoạtđộng tươngtự trong tiếngViệt và tiếngHán, thường đảmnhiệm chứcnăng ngữdụng hoặc tìnhthái. Chúng tuy đơnâmtiết nhưng mang trọnglượng ngữnghĩa tinhvi và giữ vai trò thiếtyếu trong nhịpđiệu diễnđạt của cảhai ngônngữ. Vịtrí và cáchdùng của chúng phảnánh những xuhướng cúpháp và chứcnăng ngữdụng chung trong liênthể Hán‑Việt.

M. Giớitừ và liêntừ

Hầunhư toànbộ giớitừ và liêntừ tiếngViệt đềucó nguồngốc từ các hưtừ (虛辭 xūcí) tiếngHán. Chứcnăng ngữnghĩa và hànhvi cúpháp của chúng gầnnhư đồngnhất trong cảhai ngônngữ, hìnhthành một tầng ngữpháp chung. Chẳnghạn:

  • (和 hé)
  • với (與 yú)
  • từ (自 zì)
  • nếu (若 ruò)
  • (為 wèi)
  • nhưngmà (然而 rán’ěr)
  • vìthế (於是 yúshì)
  • dođó (所以 suǒyǐ)
  • dùrằng (雖然 suīrán)
  • dovì / bởivì (由於 yóuyú)

Những yếu tố chứcnăng này khôngchỉ tươngứng về hìnhthức và ýnghĩa màcòn phảnánh sựhộitụ lịchsử sâusắc trong lôgic cúpháp. Sựkếtcặp nhấtquán của chúng trong cảhai ngônngữ cho thấy kiếntrúc ngữpháp Hán đã thấmsâu vào diễnngôn tiếngViệt.

N. Dấumốc ngữpháp

Các dấumốc ngữpháp trong tiếngHán là những đơnvị từvựng đảmnhiệm chứcnăng cúpháp bằng cách khunghoá, hoáthạch hoặc trừutượnghoá các biểuthức cốđịnh thành dạng tĩnh hoặc danhhoá. Nhiều dấumốc trong số này đã pháttriển thành các từ độclập chỉ trạngthái, hoàncảnh hoặc tìnhhuống trừutượng. Chúng có nguồngốc từ vănngôn (文言文 wényánwén) và tiếptục được dùng trong cảhai ngônngữ cho đến tận đầu thếkỷ XX.

Theo thờigian, các dấumốc này trởthành những đơnvị cúpháp mãhoá trừutượng ngữpháp — thường là tĩnh, hoàncảnh hoặc danhhoá. Phần lớn là tàntích của các cấutrúc cổđiển, được bảotồn và táinghĩa trong tiếngViệt. Chẳnghạn:

  • sựchuẩnbị (有所準備 yǒusuǒzhǔnbèi)
  • cáigọilà (所謂 suǒwéi)
  • cái tôi có / củatôi (我 所有 wǒ suǒyǒu)
  • cáiviệc nó làm (他 所作所爲 tā suǒzuòsuǒwéi)
  • cáikhác (其他 qítā)
  • ởtrong (其中 qízhōng)

Những dấumốc này phảnánh một kiếntrúc ngữpháp chung bắtnguồn từ cúpháp cổđiển và các cấutrúc hoáthạch. Các tươngứng tiếngViệt giữnguyên chứcnăng, thường phảnánh thứtự từ và phạmvi ngữnghĩa của tiếngHán.

Sựtươngứng cúpháp còn mởrộng sang cách hìnhthành đạitừ và trìnhtự ngữpháp, chẳnghạn:

  • đằngnầy / đằngấy (我等 wǒděng → “chúng tôi” → “mày/anh”)
  • chúngmình / chúngta (咱們 zánměn)

Tựu trung, hầunhư mọi cấutrúc ngữpháp có trong tiếngHán đều cóthể tìmthấy trong tiếngViệt và các dạng phátsinh — và ngượclại. Điềunày baogồm khôngchỉ từvựng và trợtừ màcòn cả quytắc cấutrúc và thứtự từ, nêubật sựđanquyện lịchsử sâusắc giữa hai hệthống ngônngữ.

O. Phântích sựhộitụ của các đặctính ngônngữ thântích

Vềmặt phântích, những đặctính ngônngữ này biểulộ một tầng thânthích độcđáo, thấmđẫm vănhoá, chỉ xuấthiện trong các ngônngữ có quanhệ mậtthiết, cùng chiasẻ đặctính cúpháp nộitại, mẫuhình ngữthanh và bềsâu lịchsử. Vượt lêntrên các tươngứng cấutrúc, những sắcthái vănhoá và cảmxúc được mãhoá tinhvi trong từng đơnvị từvựng và biểuthức. Chẳnghạn:

  • mẹruột (親媽 qīnmā)
  • charuột (親爹 qīndiē)
  • mẹghẻ (繼母 jìmǔ) c
  • haghẻ (繼爹 jìdiē)

Những thuậtngữ thânthuộc này khôngchỉ tươngứng ngữnghĩa màcòn phảnánh cùng một cảmthức vănhoá và trậttự giađình trong cảhai ngônngữ.

Hơnnữa, ngữdụng biểucảm — đặcbiệt trong chữithề hoặc bậtthốt cảmxúc bằng lờilẽ — chothấy sự hộitụ nổibật về ngữâm và ngữnghĩa. Chẳnghạn, khi một ngườinói tiếngHán thốt Tāmà! (他媽), biểuthức này gầnnhư trùngkhớp với tiếngViệt Đụmá về đườnglối biểuđạt âmthanh lẫn cườngđộ cảmxúc. Sựsonghành này càng được củngcố bởi:

  • Quảngđông 屌 diu (/tjew3/) ≈ tiếngViệt đéo / đụ (nghĩa tươngđương tiếngAnh “Fuck you!”)

Những vídụ nhưvậy khôngchỉ chothấy sựgiaothoa từvựng màcòn phảnánh một lôgic biểucảm chung, bénrễ trong khẩungữ và cảmxúc tứcthời. Sựhộitụ giữa hìnhthức, chứcnăng và cảmthức trong các biểuthức này nêubật mứcđộ liênkết sâusắc giữa tiếngViệt và tiếngHán — ngônngữ, vănhoá và lịchsử.

Với rấtít chuẩnbị và nỗlực vừa phải, một ngườinói tiếngViệt cóthể chuyểndịch trọnvẹn câucú tiếngHán sang tiếngViệt gần như từng‑chữ‑một, trongđó mỗi đơnvị từvựng phảnchiếu đốiứng của nó với độ chínhxác ngữvăn đángkinhngạc. Các mệnhđề và ngữđoạn cũng được kiếntạo theo cấutrúc cúpháp songhành, chophép chuyểndịch mượtmà giữa hai ngônngữ.

Hiệntượng này hiểnhiện trong việc chuyểndịch các tácphẩm cổđiển và tiểuthuyết võhiệp tiếngHán, như Tamquốc Diễnnghĩa, Thủyhử của Thị Nại Am, hoặc Anhhùng Xạ Điêu của Kim Dung và các tácphẩm kiếmhiệp của Cổ Long hay Hàn Giang Nhạn. Từ đầu thếkỷ XX, các vănbản này được dịchsang tiếngViệt bằng phươngpháp giữnguyên cấutrúc và từpháp gốc. Đốivới ngườibảnngữ, phongcách cổđiển này không gây trởngại; tráilại, nó gợi lên một vẻ trangnhã vănchương cổđiển tươngtự tiếngAnh cổ trong Hamlet hoặc các tácphẩm của Shakespeare.

Đếnnay, độcgiả ngườiViệt vẫn tiếpnhận các tácphẩm kểtrên một cách tựnhiên, thếhệ này sang thếhệ khác, mặcdù chúng chứa tầngtầnglớplớp ngữnghĩa, cúpháp và từvựng Hán‑Việt. Ngượclại, đốivới ngườinướcthứba học tiếngViệt, những vănbản này là thửthách lớn, đòihỏi nỗlực đángkể để nắmbắt các điểm tinhtế ngônngữ và tầnglớp lịchsử.

Tómlại, nếu một ngườinói tiếngViệt nắm khoảng 3.000 chữHán cơbản, họ cóthể đọc hầunhư mọi tácphẩm vănchương cổ hoặc hiệnđại tiếngHán một cách dễdàng — một khảnăng mà ngườinướcthứba khóđạtđược nếu không bỏra nỗlực rấtlớn. Lýdo là mỗi chữ (字) tiếngHán tươngứng với nhiều từ đaâmtiết tiếngViệt, và phầnlớn trongsốđó đãđược ngườibảnngữ thấmnhuần ngay từ bậc trunghọc.

Chẳnghạn, một ngườiphươngTây học tiếngHán hiệnđại phải xem sáu đơnvị sau như sáu từ riêngbiệt:

  • guó 國 (‘state’)
  • jiā 家 (‘home’)
  • guójiā 國家 (‘nation’)
  •  婦 (‘wife’)
  •  女 (‘female’)
  • fùnǚ 婦女 (‘woman’)

Trongkhi đó, một độcgiả ngườiViệt quen với quốc, gia, quốcgia, phụ, nữ, phụnữ đã nắmbắt chúng như những đơnvị liêntục trong vốn từ Hán‑Việt.

P. Tươngđồng với các phươngngữ Hán

Khi sosánh tiếngViệt với các phươngngữ Hán như Quanthoại, Quảngđông (粵), và MânNam (閩南), mứcđộ phânkỳ ngônngữ tươngtự như khoảngcách sựkhácbiệt giữa tiếngViệt và Quanthoại. Mặcdù Việtnam giành độclập từ thếkỷ X, tiếngViệt vẫn hấpthu lượng lớn cấutrúc Hánhoá trong hơn hai thiênniênkỷ tiếpxúc vănhoá và hànhchính.

Tiếngnói Annam thờixưa được quảngđại quầnchúng nói, gồm cả nhóm Mường và các phụnữ bảnđịa có chồng là quânsĩ ngườiHán, pháttriển từ một nềntảng BáchViệt. Nềntảng nầy cũnglà gốcgác các phươngngữ như Quảngđông, Phúckiến và Triềuchâu; rồi tấtcả ngônngữ này tíchluỹ các giaitầng Hán qua từng thờikỳ: tiếng Háncổ, Hán Thượngcổ, Hán Trungcổ và Quanthoại. Những tầng này được củngcố bởi ngônngữ quanphủ, thấmvào xãhội Việtnam trướcsau hơn 2.000 năm.

Nếunhư Việtnam không giành chủquyền vào thếkỷ X, vậnmệnh ngônngữ của nước nầy cólẽ đã tươngtự Quảngđông hoặc Phúckiến mà những ngônngữ đếnnay vẫn đượcxemlà “phươngngữ Hán”.

Ngay hômnay, tiếngViệt vẫncòn giữ nhiều đơnvị từvựng tươngđương với cả Quanthoại lẫn Quảngđông. Tuynhiên, sựlệchnghĩa giữa Quanthoại và Quảngđông thường héllộ những chuyểndịch tinhtế. Chẳnghạn:

Bảng 8 — Tươngứng từvựng và độlệch ngữnghĩa

KháiniệmQuảngđôngQuanthoạiHán-ViệtHán-Nôm
where/pin5dou2/那裏 nàlǐnalínơiđâunơiấynơiđó
sleep/fajng1kao1/睡覺 shuìjiàothuỵgiácgiấcngủđingủ
eat/sək8/吃 chī / 食 shíngật / thựcxơiăn
drink/jam3/喝 hè / 飲 yǐnhát / ẩmhớphúp, uống,
urinate/o5niew2/尿 niàoniếutiểuđáiđiđái
tired/kwuj2/累 lèiluỵmỏi
see/taj3/, /kijn1/睇 tì / 見 jiàn đê / kiếnnhìn, thấy
descend/lɔt8/下 xiàhạxuống
take/lɔ3/拿 nálấy
go/hoj1/去 qù / 走 zǒukhứ / tẩuđi
run/zau2/走 zǒu / 跑 pǎotẩu / bàochạy

Những vídụ này minhhoạ khôngchỉ sự tươngứng ngữâm và ngữnghĩa màcòn bềsâu từnguyên chung giữa các phươngngữ Hán và tiếngViệt. Trong mộtsố trườnghợp, âmgiọng tiếngViệt khácvới Quanthoại nhưng lạigần hơn với tiếng Quảngđông (粵) hoặc MânNam (閩南), chothấy một quátrình vaymượn nhiều giaitầng được địnhhình bởi tiếpxúc vùngmiền và ảnhhưởng triềuđại.

Giữa tiếngViệt và tiếngHán, saibiệt ngữpháp rấtít, chủyếu nằm ở thứtự cúpháp. TiếngViệt thường theo môthức {danh + tính}, trongkhi tiếngHán ưachuộng {tính + danh}. Mặcdù có sự đảongược này, điểm hộitụ sâuhơn không nằm ở cúpháp mà ở từnguyên: gốc từvựng tiếngViệt và tiếngHán hélộ sự đanquyện lịchsử sâusắc — sâuhơn nhiều sovới điều mà thuyết Môn‑Khmer thường thừanhận.

Vềmặt từnguyên, các vídụ sau chothấy cóthể thiếtlập quytắc dẫnxuất từ một lõi kháinệm, từđó tạora những dạng đồngnguyên khảtín trong cả miền Hán và Hán‑Việt. Mặcdù phạmvi hạnchế, nguyêntắc vẫn đứngvững: nếunhư phầnlớn các từnguyên trong một trườngnghĩa biểulộ sựtươngứng ngữâm và ngữcảnh, chúng cókhảnăng chunggốc, ngaycả khi bềmặt ngữâm cóvẻ lệchlạc.

Bạn có baogiờ nghe người Quảngđông nóitiếng Quanthoại chưa? Đó đúnglà âmvang ngườiViệt nóitiếng Quanthoại ngàyxưa ở kinhkỳ ‘Tràngan’ đó.

Kháinệm tổngquát nhưsau: nếunhư các đơnvị từvựng mang đặctính từnguyên nhấtquán, biểulộ những đặcthù ngữâm songhành và mãhoá những liênhệ ngữcảnh tươngtự, chúng cóthể cùng phátxuất từ một gốcchung — thường là vaymượn từ tiếngHán.

Danhmục dướiđây sẽ minhhoạ cách biếnđổi từvựng thôngqua hai phươngpháp bổtrợ:

  1. Phươngpháp tươngtự ngữnghĩa — nhậndiện các songhành kháiniệm giữa hai ngônngữ
  2. Phươngpháp biếnđổi âmđaâmtiết — truydấu chuyểndịch ngữâm giữa các dạng đồngnguyên

Kếthợp lại, hai khungpháp này chophép nhậndiện các mẫuhình khảdĩ cho sự biếnđổi ngữâm và tiếntriể ngữnghĩa — những chủđề sẽ được khaitriển sâuhơn trong các phần tiếptheo.

Ví dụ songhành Hán–Việt theo cặp phảnnghĩa / đồngnghĩa

  • đầu 頭 tóu — sọ 首 shǒu
  • mặt 面 — mày 眉 méi
  • mắt 目 mù — mũi 鼻 bí
  • gan 肝 gān — ruột 腸 chăng
  • sống 生 shēng — chết 死 sǐ
  • ăn 唵 yān — uống 飲 yǐn
  • khóc 哭 kù — cười 笑 xiào
  • đi 去 qù — đứng 站 zhàn
  • chạy 走 zǒu — nhảy 跳 tiāo
  • nặng 重 zhòng — nhẹ 輕 qīng
  • cao 高 gāo — thấp 底 dì
  • dài 長 cháng — ngắn 短 duăn
  • lạnh 冷 lěng — nóng 燙 tàng
  • hay 好 hǎo — dỡ 亞 yà
  • buồn 悶 mèn — vui 快 kuài
  • gần 近 jìn — xa 遐 xiá
  • trước 前 qián — sau 後 hòu
  • 舊 jìu — mới 萌 méng
  • đắng 辛 xīn — cay 苦 kǔ (SV khổ, “đắng”) (Ýnghĩa nguyênthỷ bị tráođổi ởđây.) (7)

Khẳngđịnh trên dựavào phươngpháp hợplý, nhằm liênkết vốntừ Hán‑Việt và Hán‑Nôm qua một khung đaâmtiết songhành. Khungpháp này chophép nhậndiện, phântích và táchxuất các đơnvị đơnâmtiết nền từ những tổhợp đồngnghĩa hoặc từkép tiếngViệt như chàilưới, xecộ, cậumợ, chúbác, v.v. Quađó, ta nhậnra những vếttích ổnđịnh của biếnđổi âmthanh và tiếntriển ngữnghĩa từ tiếngHán sang tiếngViệt, ngaycả khi các tươngứng này cóvẻ bấtquytắc.

Những mốiliênhệ sau minhhoạ rõ nét phươngpháp tươngtự ngữnghĩa và hộitụ ngữâm:

  • voi ~ 為 wēi
  • lúa ~ 來 lái
  • gạo ~ 稻 dào (so sánh lúa, theo Starostin)
  • nắng <~ trờinắng ~ 太陽 tàiyáng

Cùng một hướng, vốn từ bảnđịa trong hệ thậpnhị địachi Hán–Việt cũng hélộ những liênhệ từnguyên sâusắc: mỗi tên convật trong tiếngViệt đều ứngvới một tự Hán và một gốc ngữthanh tươngứng.

Hệ 12 địachi ViệtnamHệ 12 địachi TrunghoaHán-ViệtHán-NômEnglish notes
子 zǐchuột‘rat’ / cf. 鼠 shǔ (SV thuộc)
sửu丑 chǒusửutrâu‘ox’ /cf. 牛 níu (SV ngưu, VS ‘trâu’)
dần寅 yǐndầncọpcf. 虎 hǔ (SV hổ), also hùm, 甝 hán
mẹo卯 mǎo (replaced by 兔 tù – SV ‘thố‘)mãomèocf. 貓 māo (SV miêu), no Vietnamese ever calls 兔 tù (SV ‘thố‘; or ‘thỏ‘)
thìn辰 chénthìnrồngcf. 龍 lóng (SV long)
tỵ巳 sìtỵrắncf. 蛇 shé (SV ), 巳 as snake pictograph
ngọ午 wǔngọngựaperfect cognate
mùi未 wèivịcf. 羊 yáng (SV dương), phonetic shift /j-/ ~ /d-/
thân申 shēnthânkhỉcf. 猴 hóu (SV hầu), 猢 hú (SV hồ), 猻 sūn (SV tôn), 猿 yuán (SV viện, VS vượn)
dậu酉 yǒudậucf. 雞 jī (SV )
tuất戌 xùtuấtchócf. 狗 gǒu (SV cẩu), 犬 quán (VS cún)
hợi亥 hàihợiheocf. 腞 tùn, also lợn (Northern dialect)

Những tươngứng này khẳngđịnh rằng mẹo 卯 mǎo phải tươngứng với mèo (“cat”), chứ khôngphải thỏ 兔 tù (“hare”). Nguồngốc của thậpnhị địachi thựcchất nhiều khảăng phátxuất từ truyềnthống BáchViệt phươngnam, sauđó được tiền‑Hán tiếpnhận và chếđịnh.

Khung từnguyên này, kếthợp giữa tươngtự ngữnghĩa và biếnđổi âmđaâmtiết, cungcấp một phươngpháp vữngchắc để truydấu tiếntriển từvựng và nhậndiện các mẫuhình đồngnguyên giữa Hán và Việt.

Từ một chuỗi từnguyên ổnđịnh trong cùng một trườngnghĩa, ta cóthể dẫnxuất songhành cho các từViệt khác. Chẳnghạn trườnghợp Tết, cóthể truyvết về 節 jié (SV tiết), như trong:

  • tiếtxuân 春節 Chūnjié
  • ănTết 過節 guòjié
  • TếtNguyênđán 元旦節 Yuándànjié
  • TếtÐoanngọ 端午節 Duānwǔjié
  • TếtTrungthu 中秋節 Zhōngqiūjié

Phântích này xáclập Tết là đồngnguyên trựctiếp của 節 jié (HV ‘tiết’), còn ănTết phátxuất từ 過節 guòjié (HV quátiết). Trongđó 過 guò /kwo4/ tươngứng với HV quá /wa5/, và ăn /ɐn/ được nângnghĩa thành tiềntố chỉ “dựphần”, “thamdự”, “hưởngứng”.

Nhưvậy, 過 quá /wa5/ được táidụng thành ăn, khôngchỉ vì gần âm mà vì nângnghĩa: ănTết trởthành “hưởngTết”, “mừngTết”, “thamgia lễhội”. Đâylà nguyênlý mà tácgiả gọilà liênhệâmvị, khi một tổhợp Hán đaâmtiết quyvề một tiềntố Việt:

過節 guòjié → ănTết \ QT guò /wa5/ → ăn → ăn‑ → [ xz / x > y > Ø‑ ]

Khi ăn‑ đã trởthành tiềntố, nó trởnên sảnsinh, mởrộng nghĩa “tiếpnhận”, “thamgia”, “trảiqua”. Điều này hiểnhiện trong các tổhợp:

  • ăntấtniên 過小年 guòxiăonián
  • ăntiệc 宴席 yànxí
  • ăncưới 酒席 jǐuxí
  • ănmừng 慶祝 qìngzhù
  • ănmặc 衣食 yīshí
  • ănuống 飲食 yǐnshí
  • ănngon 吃香 chīxiāng
  • ănnói 言語 yányǔ
  • ănhiếp 威脅 wēixiè
  • ăntiền 贏錢 yíngqián / 要錢 yàoqián (= HN ‘vòitiền’)
  • ănmày 要飯 yàofàn
  • ănhàng 吃貨 chīhuò
  • ănđòn 挨打 áidă
  • ăncắp 竊案 qiè’àn
  • ănbám 白吃 báichī
  • ănnhậu 應酬 yìngchóu
  • ănthua 輸贏 shūyíng
  • ăncưới 婚宴 hūnyàn

Về hậutố, ăn tiếptục tiếntriển trong cùng một trườngnghĩa với nhiều từvựng trong nhiều ngữcảnh khácnhau:

  • làmăn 生意 shēngyì
  • đồăn, thứcăn 食物 shíwù
  • ngánăn, biếngăn, nhịnăn 厭食 yànshí
  • thamăn, hamăn 貪吃 tānchī
  • háuăn 好食 hàoshí
  • cóăn 有錢鑽 yǒuqiánzuàn
  • ănnóibợmtrợn 胡說霸道 húshuōbàdào

Về ngữâm, tiềntố ăn‑ tươngứng với các phụâm đầu y‑, w‑, sh‑, ch‑, j‑, phảnánh một mẫuhình chuyểnđổi âmvị rộnghơn, trongđó ăn hấpthu và táidụng các yếutố từ tổhợp Hán.

Về từnguyên, 吃 chī và HN ăn có lộtrình riêng:

  • 喫 chī / jī / jí < MC kjit < OC *kɯd
  • 喫 chǐ < MC kʰek < OC *ŋ̥ʰeːɡ
  • 唵 ǎn (SV ảm) < MC ʔəm < OC *qoːmʔ
  • 奄 yǎn / yān (SV yễm) < MC ʔɜm < OC ʔramʔ

Starostin ghirằng 喫 vốn nghĩa “nóilắp”, sau mới chuyểnsang “ăn”, “uống”, “nuốt”. Gốc 乙 yì (SV ất) và kếtthúc /‑t /~ /‑n/ gợi một lộtrình hợplý dẫn đến ăn. Nhưvậy, ăn cóthể phátxuất từ 唵 ǎn, củngcố tính hợplý ngữâm‑ngữnghĩa của nó như một đồngnguyên.

Giảthuyết của tácgiả xem ăn‑ như một vòm‑kháinệm baoquát nhiều từViệt phátxuất từ từnguyên Hán. Mặcdù không phải mọi dẫnxuất đều được thừanhận, phầnlớn biểulộ tươngứng ngữ‑thanh và cấutrúc thuyếtphục. Cáchtiếpcận này tháchthức khung Môn‑Khmer cứngnhắc và mởra một gócnhìn Hán‑ngữ đốivới từnguyên Việt, chấpnhận sự chuyểndịch âmvị, lệchnghĩa và sángtạo hìnhvị.

Kếtluận

Từnguyên tiếngViệt hélộ một ngônngữ không do một dòng duynhất hìnhthành, mà do sựgiaođộng lâudài của nhiều tầnglớp. Hán‑Việt, Hán‑Nôm và lớp bảnđịa giaohoà, táihìnhthành lẫnnhau qua nhiều thếkỷ. Điều tưởngnhư bảnđịa thường mang gốc sâuhơn, và điều tưởngnhư từvaymượn đãđược bảnđịahoá từlâu rồi. Tính thốngnhất của tiếngViệt phátxuất từ sựchồnglớp liêntục này, khiến ngônngữ trởthành một khotưliệu từnguyên của sựchuyểndịch vănhoá.

Vìvậy phải xem tiếngViệt là một ngônngữ BáchViệt phươngNam thuộc vànhđai Hoanam (Thái-BáchViệt, Việt-Mường, Việtcổ, chứ khôngphải một nhánh phátsinh thứyếu phươngngữ Hán, cũng khôngphải một ngônngữ côlập ĐôngnamÁ. Lịchsử vềsau ghilại cả nghìnnăm Bắcthuộc chịu áplực Hánngữ, khángcự và dunghợp chọnlọc. Nềntảng ngữpháp, ngữâm và ngữnghĩa của nó thừakế từ các quầnthể BáchViệt cổ (Taic-Yue) ở Lĩnhnam, trên đó các lànsóng hànhchính, dâncư và họcthuật của Trungquốc qua nhiều thờiđại đã ghépthêm những lớp từvựng và vănhoá mới. Những lộtrình phânkỳ giữa cộngđồng Kinh, Mường và các nhóm tộcngười miềnnúi khác chothấy mứcđộ hộinhập vào cơcấu chínhtrị Hánhoá không đồngnhất, và rằng thểchế caitrị, dòng dâncư cùng cơchế thuộcđịa đã địnhhình bảnsắc của họ sâuđậm chẳngkémgì ngônngữ.

Từ sựkiện didân Minhhương đến việc mang họ Hán, thíchứng từvựng mới theo khuônmẫu thanhđiệu tiếngViệt, mỗi giaitầng là một bằngchứng của quátrình hấpthu chọnlọc chứ khôngphải nhồinhét. TiếngViệt là một bảngkẽm inấn ngônngữ: một vănbản hồsơ laihoá sinhtồn, thíchứng và chủđộng thươngthuyết với đếquốc mà vẫngiữ tiếngnói riêng. (8)

Sáchthamkhảo

Bousquet, Gisèle Luce & Pierre Brocheux. 2002. Viêt nam Exposé: French Scholarship on Twentieth‑Century Vietnamese Society. University of Michigan Press.

Brindley, Erica Fox. 2015. Ancient China and the Yue: Perceptions and Identities on the Southern Frontier, c.400 BCE–50 CE. Cambridge University Press.

Brindley, Erica Fox. 2017. “Ancient China and the Yue.” Journal of Chinese History. Cambridge University Press.

Chang, Yu‑fen. 2010. “Constructing Vietnam, Constructing China: Chinese Scholarship on Vietnam from the Late Nineteenth Century until the Present.” Journal of Asian Studies.

Chinese Academy of Social Sciences (CASS). 2005. Studies on the Luoyue and Lạc Việt. Beijing: Zhonghua Shuju.

Hà Văn Tấn. 2002. Lịch sử Việt Nam cổ đại. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia.

Henry, Eric. —. The Submerged History of Yue. Sino‑Platonic Papers, No. 176. University of North Carolina.

Leith, Seamus P. 2017. An Investigation into the Tai‑Kadai Substratum in Yue. MA Thesis, Leiden University.

Liang Tingwang. 2012. The Zhuang and the Ancient Yue. Guangxi Normal University Press.

Monnais‑Rousselot, Laurence. 1999. Médecine et Colonisation: L’aventure indochinoise, 1860–1939. Paris: CNRS Éditions.

Nguyễn Ngọc San. 1993. Tìmhiểu về Tiếng Việt Lịch sử. TP HCM: Nhà xuất bản Giáo dục.

Nguyễn Tài Cẩn. 1995. Nguồn gốc và Quá trình Hình thành tiếng Việt. Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục.

Papin, Philippe. 2003. Việt Nam: Histoire et Civilisation. Paris: Éditions Fayard.

Phạm Đức Dương. 2001. Ngôn ngữ và Văn hoá Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.

Poisson, Emmanuel. 2004. Mandarins et Modernité: Les Pratiques Administratives au Vietnam au XIXe siècle. Paris: École Française d’Extrême‑Orient.

Trần Quốc Vượng. 1998. Việt Nam: Văn hoá và Con người. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.

Yue, Anne O. 2015. “The Yue Language.” In The Oxford Handbook of Chinese Linguistics. Oxford University Press.

CƯỚCCHÚ


(1)^ Trongsuốt lịchsử Việtnam, hậuduệ của cưdân Annam lai‑chủng , vềsau đượcgọi là ngườiKinh — Kinh, hay 京 Jing (“ngườikinhđô”) — đã xáclập vịthế sớm ở đồngbằng Sông Hồng trướckhi dầndần tiếntới phíatây và phíanam để tìm vùng đấtmới địnhcư. Trong quátrình này, họ đẩylùi hoặc hấpthu nhiều cộngđồng bảnđịa, đặcbiệt là Mường và Mèo (Hmong), cùng các nhóm gốc Đai như Tày, hiệnnay hơn mộttriệu người và vẫn sinhsống ở vùng caonguyên phíabắc, kể cả các vùng Laichâu và Điệnbiên mới sápnhập gầnđây.

Khi Annam tiếntới phươngnam, ngườiKinh thaythế cưdân Chăm dọc duyênhải và tiếntới vùng caonguyên tâynam vốndo các nhóm Môn‑Khmer chiếmcứ. Qua thờigian, những cộngđồng từng giữ vịthế chủđạo này trởthành thiểusố ngaytrên chính đấttổ của họ. Dấutích của sựdịchchuyển này vẫncòn thấyrõ. Đầu thếkỷ XXI, xungđột đã bùngnổ giữa cộngđồng gốc Khmer và đasố Kinh mới dicư từ Bắc đến sau 1975, cólúc được nhànước làmngơ hoặc thậmchí ngầm khuyếnkhích. Căngthẳng khiến nhiều người Khmer thiểusố phải chạysang Campuchia tỵnạn, và hàngtrăm người trongsốđó được táiđịnhcư tại Hoakỳ vào năm 2005.

(2)^ Nhìn từ góc lịchsử, rấtít trườnghợp xảyra xungđột chủngtộc côngkhai giữa ngườiViệt và ngườiHán. Ngaycả sựbựcbội cũng thường không nhắmvào các nhóm đã hoànhập từlâu — những người đã hônphối với Kinh qua nhiều thếkỷ — mà nhắmvào những ngườimới đến, chỉ cách Trungquốc haiba thếhệ và vẫn cố giữ bảnsắc riêng. Tuyvậy, mứcđộ hoànhập vẫn rấtcao, thểhiện ởchỗ nhiều nghệsĩ nổitiếng đươngđại ở Việtnam là ngườiHoa, một thựctế đốilập hẳnhoi với các vụbạođộng chống ngườiHoa táidiễn ở Indonesia, Philippines hay Malaysia.

Lànsóng rờibỏ ViệtNam của ngườiHoa từ 1979 đến 1990 khôngphải là phảnứng tựphát của dânchúng mà là chínhsách được tổchức có chủđích. Phầnlớn những người rờibỏ là dândicư khámuộn, chưađến một thếkỷ địnhcư; trongkhi những nhóm đến sớmhơn đã hoànhập sâu vào xãhội Việtnam. Việctrụcxuất gắnliền với chínhsách xãhộichủnghĩa sau 1975, tạo cơsở để tịchthu tàisản tưnhân — nhàmáy, ngânhàng, cơsở kinhdoanh — và càng bị đẩymạnh bởi xungđột Việt–Trung cuối thậpniên 1970.

Nóicáchkhác, khônghề có những hànhvi bạođộng tựphát của dânViệt nhắmvào từng cánhân ngườiHoa. Ngaycả bạođộng năm 2014, pháhuỷ hàngtrăm nhàmáy của doanhnghiệp TrungQuốc nơi côngnhân được đưa từ Trungquốc sang để làmviệc, cũng chỉ là hànhđộng biểutrưng nhắm vào chínhquyền Bắckinh ở Trungnamhải, chứ không nhắmvào thiểusố ngườiHoa sinhsống tại Việtnam.

(3)^ Trong 72 quyển Tưtrị Thônggiám (資治通鑑) — bộsử biênniên đồsộ của Tưmã Quang, ghichép từ đời Hạ, Thương đến Tống — một chủđề lặplại là địalý lưuđày. Hết lần này đến lần khác, quanlại thấtthế, đốithủ chínhtrị, và tầnglớp tinhhoa sacơ đều bị lưuđày xuống phươngnam: vùng cổ Lĩnhnam (嶺南) — tức Quảngtây, Hồnam, Quảngđông, và đảo Hảinam — cùng với miềnbắc Việtnam, từng là Vươngquốc NamViệt (南越 王國). Lưuđày, nói mộtcách khác, khôngphảilà hìnhphạt ngẫunhiên mà là mộtphần thườngtrực của chínhtrị Trunghoa.

(4)^ Nếunhư Việtnam không giànhđược độclập vào thếkỷ X, vẫnlà chưhầu, là tỉnhhạt lệthuộc Trungquốc, thì quanđiểm của các nhàngônngữhọc hiệnđại về tiếngViệt cólẽ đã hoàntoàn giốngnhư cách họ xếp Quảngđông và Phúckiến vào hệ Hán‑Tạng.

(5)^ Điềucầnnhấnmạnh là: tộc Lê (黎族) và ngữchi Lê thuộc họ Tai-Kadai, không thuộc ngữhệ Hán-Tạng theo phânloại ngônngữhọc hiệnhành. Cách phânloại “Tai-Kadai = Hán-Tạng” chỉ xuấthiện trong sáchhọc Trunghoa lỗithời (thếkỷ XX), khôngcònđược cộngđồng ngônngữhọc quốctế chấpnhận.

Tạisao có sựnhầmlẫn này?

  1. Sáchhọc Trunghoa 1950–1980 thường gom các ngônngữ BáchViệt vào một khung HánTạng rộng, dựa trên giảđịnh lịchsử rằng cưdân Tai-Dai có nguồngốc từ vùng Sở–BáchViệt.
  2. Tươngđồng từvựng do tiếpxúc lâuđời giữa Tai-Kadai, Việt, Hán, Mường, Hmong–Miêu khiến nhiều nhànghiêncứu Trunghoa lầmtưởng có quanhệ ditruyền.
  3. Phânloại hànhchính của nhànước Trunghoa đôikhi gộp các dântộc vào những “họ ngônngữ” rộng để tiện quảnlý.

Tuynhiên, theo phânloại ngônngữhọc thếgiới hiệnđại (Benedict, Ostapirat, Norquest, Edmondson, Pittayaporn), ngữhệ Tày‑Kadai — còngọilà Tráng‑Ðông, Kra‑Dai, Tày‑Kadai, hay Daic — là một họ ngônngữ độclập, gồm hơn bảy mươi ngônngữ, phânbố ở ÐôngnamÁ và Hoanam, với các ngônngữ chính như Trángngữ, Lêngữ, Tháingữ, Lào ngữ.

Mọi tươngđồng của tiếng Lê với Hán hoặc Việt đều là tầng giaothoa khuvực, khôngphải cùng gốc.

Li / Hlai = một ngữchi trong Tai-Kadai, không liênquan ditruyền đến HánTạng.

Tai-Kadai = một họ ngônngữ độclập, không thuộc HánTạng.

(6)^ Mọi dẫnchiếu tiếngThái ở dạng từngữ đơn đều trích từ Wiktionary.org.

(7)^ TiếngViệt cay tươngứng với 苦 kǔ (HV khổ), kếthợp với 辛 xīn (HV tân) thành cayđắng 辛苦 qīnkǔ (HV tânkhổ, “giankhổ”). Gốc cay nằm trong tiếngHán Trungcổ 苦 kǔ, với các songhành như 辛酸 qīnsuān (VS chuacay, “vị chua‑cay”).

[ 苦 kǔ, gǔ, hù, kù < MC kʰɔ: < OC *kʰaːʔ, *kʰaːs. Theo Starostin: “đắng”. Cũng dùng cho một từ đồngâm kha:ʔ “rau bồcônganh”, “rauđắng” (苦苣) ‘sow‑thistle’, ‘endive’ (dandelion, Taraxacum mongolicum), or Sonchus oleraceus?). TiếngViệt khó là pháttriển khẩungữ, mang nghĩa “khổ (đắng) > khó”, cũngcó trong tiếngHán. Dạng Hán‑Việt chuẩn là khổ. ]

Trong Quanthoại hiệnđại, “cay nóng” là 辣 là (SV lạt), còn 苦 kǔ (SV khổ) tươngứng với tiếngViệt cay. Trong Háncổ, 辣 là gần với tiếngViệt lạt “nhạt, không mặn”.

[ 辣 là < MC *lat < OC *raːd. Theo Starostin: “đắng, không ngọt” (đời Đường). TiếngViệt nhạt cóthể là vaymượn khẩungữ từ cùng gốc, mặcdù hiện tượng mũihoá chưa chắcchắn. ]

Đốivới 辛 xīn “đắng, cay” (HV tân), tiếngViệt tươngứng là đắng.

[ 辛 xīn < MC sin < OC *siŋ. Theo Starostin, cũng dùng cho một từ đồngâm sing “đắng, cay, đau”. ]

(8)^ Bảngkẽm = tấm kẽm dùng để phơi bản in (printing plate). Trong kỹthuật inấn, ngườithợ khắc, ghi, hoặc phơi ảnh lên một tấm kẽm mỏng. Tấm này mang toànbộ nộidung cần in (chữ, hình, bốcục). Khi đưavào máy, bảngkẽm truyền mực sang blanket rồi sang giấy. Trước thếkỷ XX, bảnin thường được đúc bằng đồng hoặc chì, nấu đi đúc lại vôsố lần. Khi côngnghệ offset pháttriển, kẽm trởthành vậtliệu tiêuchuẩn.

Leave a Reply

Discover more from ziendan.com

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading