Từnguyên Sốđếm

by dchph in collaboration with Copilot

Một gócbàn cũxưa mộcmạc với sách cổ, giấycuộn và dụngcụ viếtlông… được đèndầu chiếusáng.
(creAited by dchph with Jetpack)

Sốđếm cơbản tiếngViệt khôngthể được giảithích chỉ dựatrên liênhệ Mon‑Khmer. Bằngchứng chothấy một phảhệ tầnglớp, trongđó các gốc BáchViệt và Hán‑Tạng giữ vaitrò trungtâm, còn ảnhhưởng Mon‑Khmer chỉlà một phụchất quantrọng thứyếu. Việc táiđánhgiá này nhấnmạnh nhu cầu vượtrakhỏi những tiềnđề NamÁ đã ănsâu và hướngđến một khungsosánh rộnglớnhơn.

Tráilại, sốđếm tiếngViệt chothấy sựtươngứng mạnhmẽ và hệthốnghơn với từnguyên Hán‑Tạng. Nhiều dạngtừ gần với tiếng Háncổ hoặc Hán Trungcổ hơn là Mon‑Khmer. Điều này phảnánh bứctranh từvựng rộnglớn: tiếngViệt chiasẻ các tươngứng thanhđiệu, ngữnghĩa và từcú với Hán‑Tạng, trongkhi các songứng Mon‑Khmer vẫn rờirạc và mongmanh.

Bằngchứng sốđếm vìthế củngcố lậpluận rằng tiếngViệt thuộc khung Hán‑Tạng, chứkhôngphải là một thựcthể trong khối NamÁ.

Rõràng khôngthể chỉ dựavào sựgiốngnhau của hệthống sốđếm để rútra kếtluận chắcchắn về quanhệ ditruyền và kếthừa của một ngônngữ. Hiệntượng vaymượn từvựng cơbản khônghiếm, đặcbiệt trong sốđếm. Tiếng Miến hiệnđại là vídụ về sựphânkỳ, trongkhi các vaymượn Hán trong tiếng Hàn và Nhật, cũngnhư hệthống sốthứtự được dùng rộngrãi trong tiếngViệt, chothấy vaymượn cóthể chekhuất quanhệ ditruyền. Khôngcó nguyêntắc ngônngữ nào buộc chúngta tin điều ngượclại. Nóicáchkhác, ngaycả một bộ sốđếm đồngnguyên từ 1 đến 10 giữa hai ngônngữ cũng không tựthân xáclập quanhệ họhàng.

I) Chọnsai phươngpháp

  • Các chuyêngia Mon‑Khmer trướcđây dựa vào thổngữ và các phụcnguyên dựâm suyđoán.
  • Lỗilầm gồmcó: viếtsai, phânloại sai, và trộnlẫn Hán‑Việt với Hán‑Nôm.
  • Sốđếm minhhoạ rõ các saibước này: các tươngứng Mon‑Khmer là cànhnhánh, khôngphải tuyếntính cănbản thânngọn.

Trong tiếngViệt, các sốđếm từ 1 đến 5 — một, hai, ba, bốn, năm — giống với các dạngtừ trong ngônngữ Mon‑Khmer. Trong tiếngKhmer hiệnđại, chúng xuấthiện như /mùəy/, /pì:(r)/, /bɤy/, /buən/, /pram/. Các dạng Khmer khôngcó thanhđiệu, nhưng sựtươngđồng ngữâm ở 1, 3 và 4 chothấy sựđồngnguyên, và theo phéploạisuy, 2 và 5 thườngđược gộpvào. Sự côngnhận các tươngứng này thường khiến ngườita khôngcòn cốgắng tìmcách liênhệ chúng với sốđếm tiếngHán nữa, vì điềuđó dễ trởthành suydiễn tuỳtiện.

Phântích sosánh sốđếm songứng Hán và Việt — dù sovới các ngônngữ Hán‑Tạng lớn hay chỉ riêng tiếngHán — đều chothấy khókhăn daidẳng. Hai hệthống sốđếm không thểhiện các quyluật biếnâm nhấtquán trên toànbộ dãysố, ngaycả khi chỉ xét các nhómnhỏ như 1–2 hoặc 5–10.

Trườnghợp số 2 đặcbiệt đángchúý. Trong Khmer, nó khácvới tiếngViệt hai, nhưng trong ngônngữhọc lịchsử, khônghiếmkhi các ngônngữ họhàng chiasẻ chỉ hai số đồngnguyên, thườnglà hai số liêntiếp như 1 và 2. Chúng được cholà phátxuất từ kháiniệm “hai bàntay” trong hệnhịphân. Đángchúý là tiếngViệt và các ngônngữ Hán‑Tạng khác cũng thểhiện những tươngứng liêntiếp nhưvậy, mởrộng môhình thành một khung nhịphân và baogồm cả 1–5 và 6–10, ngũphân và thậpphân.

Merritt Ruhlen trong The Origin of Language: Retrospective and Prospective (tr. 6–7) tổngkết các quansát của ông về những từdạng tuỳtiện cho số “2” trong các ngônngữ thếgiới, nhiều dạng bắtđầu bằng /p‑/ hoặc /b‑/:

“Dixon (1980) phụcnguyên dựâm *bula ‘2’ cho ngônngữ tiền‑Úc, và Blake (1988) chothấy số này đượcdùng để hìnhthành đạitừ ngôihai trong nhóm Pama‑Nyungan: *nyuN‑palV ‘you‑2’ và ngôiba sốnhiều *pula ‘they‑2’. Hai ngônngữ Tasmania đã tuyệtchủng cũngcó dạng tươngtự: Đôngnam*boula ‘2’ và Nam *pooalih ‘2’. Trong giảthuyết NamÁ‑Thái, Paul Benedict (1975) chỉra sựgiốngnhau của số 2 trong các họ ngônngữ lớn của ĐôngnamÁ. Benedict phụcnguyên dựâm*ʔ(m)bar ‘2’ cho ngônngữ tiền‑NamÁ (Santali bar, Jeh bal, Khmu’ bār, Mon cổ ʔbar) và *(a)war ‘2’ cho tiền‑Miêu‑Dao. Ông cũng xem các dạng Daic như Makwa ‘twin’ và các dạng Namđảo như Giavan kěmbar ‘twin’ là đồngnguyên với những dạng đã nêutrên. Ở Phichâu, mộttrongnhững chứngcứ mà Edgar Gregersen (1972) nêura để ủnghộ giảthuyết Congo‑Saharan (đềxuất của ông nhằm ghép Niger‑Kordofanian và Nilo‑Saharan thành một họ duynhất) là những dạng chỉ số 2 hầunhư khôngkhácmấy sovới các từdạng chúngta đã thấy. Trong Niger‑Congo có Temne (kë)bari ‘twin’, Nimbari bala ‘2’, Mano pere ‘2’, và Proto‑Bantu \bàdí ‘2’; Nilo‑Saharan có các từdạng như Nubian bar(-si) ‘twin’, Merarit warē ‘2’, và Kunama barā ‘pair’. Ở Âu‑Á, mộttrongnhững nguyênuỷ Nostratic của Illich‑Svitych cóvẻ liênhệ với các dạng đã bàn, nhưng trong những họ này nghĩa đã chuyểndịch từ ‘2’ sang ‘half’, ‘side’, và ‘part’. Cụthể, Illich‑Svitych (1967) nối Proto‑Indo‑European \pol ‘half, side’ (sosánh: Sanskrit (ka-)palam ‘half’, Albanian palë ‘side, part, pair’, Russian pol ‘half’) với Proto‑Uralic \pā‑lä / \pole ‘half’ (so sánh: YurakSamoyed peele ‘half’, Hungarian fele ‘half, one side of two’, Vogul pāäl ‘side, half’, Votyak pal ‘side, half’) và Proto‑Dravidian \pāl ‘part, portion’* (sosánh: Tamil pāl ‘part, portion, share’, Telugu pālu ‘share, portion’, Parji pēla ‘portion’). Saucùng, các dạng đồngnguyên cũng xuấthiện trong các ngônngữ Amerind ở Bắc và Nam Mỹ (sosánh: Wintun palo(-l) ‘2’, Wappo p’ala ‘twins’, Huave apool ‘snap in two’, Colorado palu ‘2’, Sabane paʔlin ‘2’).

Dựatrên các giảđịnh trên, số “2” trong Mon‑Khmer cóthể chiasẻ một căngốc xaxôi với tiếngViệt hai. Hiệntượng tươngtự cũng thấy trong tiếngHán. Chẳnghạn, 分 fēn (HV phân) nghĩa là “phần”, “phân”, “chia”, 半 bàn (HV bán) nghĩalà “mộtnửa”, 掰 bāi (HV bai, HN bẻ) nghĩalà “bẻđôi bằng hai tay”, và 拜 bài (HV bái,HN vái) nghĩa là “chắp hai tay để khấn”.

Dạngtừ /haj/ của tiếngViệt (HV nhị) cóthể bắtnguồn từ dạng Háncổ /nhej/ của 二 èr /ə:/. TiếngHán cungcấp một loạt kháinệm liênquan đến “hai”: “thứhai” 二 èr (HV nhị, HN nhì), “cặp” 雙 shuāng (HV song), “đôi” 對 duì (HV đối), “lứa” 倆 liăng (HV lưỡng, HN lứa), và “lại” (hailần) 再 zài (HV tái, HN hai, lại). Những vídụ này chothấy độmởrộng ngữnghĩa của kháinệm nhịnguyên trong tiếngHán và tiếngViệt.

II) Xếpráp với sốđếm Tâytạng

Đốivới các sốtừ từ 1 đến 10 trong toànbộ họ Hán‑Tạng, chúngta xét một số nguyênuỷ về sốđếm trong danhmục của Shafer như sau:

  • 1 đến 10 [ OB g‑tśig 1, g‑nyis 2, g‑sum 3, b‑źi 4, l‑ńa < \b‑l‑ńa* 5, d‑rug 6, b‑dun 7, b‑rgyad 8, d‑gu 9, b‑tśu 10 ] (Shafer, tr. 21‑23, 29‑33, 37, 41, 56)
  1. ‘một’ [M ʾit, M Bur. ʾatś, Siamese ʾět₃ || **** Note: sosánh sốthứtự tiếngViệt: HV nhất /ɲɐt7/ sovới HN một /mot8/.]
  2. ‘hai’ [M èrnyiː, O Bur. \k‑in‑hnis*, M Bur. hnatś, Luśei hniʾ, Kapwi ka‑ni, Aimol ăn‑ni, Purum ă‑ni, Kom ǐ‑hni, Anal ă‑hni, Śo hniː, Yawdwin, Tśinbok hni, S. Khami ni, Maram hań‑na, Kabui (Si) kă‑hnai, Kabui (Mc) kă‑nai, Khoirao (Mc) hań‑nai, Sopvama ka‑hē, Śongge a‑nai, Siamese yīː¹, Lao nīː || **** Note: HN số thứtự nhì /ɲhej2/ (second); HV nhị /ɲhej6/ sovới HN hai /haj1/ (two); thêmnữa, phươngngữ miềnTrung Việtnam huơ /hwə1/ sovới QT èr /əː4/.]
  3. ‘ba’ [M sānsām, O Bur. \k‑in‑tʿumː*, S. Khami tʿuń, Ukhrul, Khoirao kʿă‑tʿum, Phadang, Kupome, Khunggoi ka‑tʿum, Rengma ke‑śan, Tengima, Kehena se, Kwoireng sam, Chin sām‑, Siamese sām/ || **** Note: sốthứtự: HV tam /tam1/ sovới HN sốđếm ba /ɓa1/ (ss. Hảinam /ta1/, M 仨 ). Ngoàira, biếnthể tiếngViệt /băm‑/ trong hàngchục: “35” = bămnhăm = bămlăm = balăm, ss. Hảinam /ta1tap8lan2/.]
  4. ‘bốn’ [M siː, OB (Tâytạng Cổ) bźi < \bźli, Siamese sīː¹, M Bur. leː, Luśei li || Các phươngngữ Tây Bodish cổ: Sbalti bźi, Burig zbźi (tr. 78); Himalaya Tây‑Trungđông: Dumi bʿyal, Khaling bʿal, Rai bʿalu, Thulung bli (tr. 152) || Shafer: chothấy tiềntố nguyênthủy b‑ còngiữ trong một số phươngngữ: Thulung bli, Tśaurasya pʿi, Dumi bʿyal, Khaling bʿal, Rai bʿalu so với OB bźi < \bźli (tr. 157). Ở Assam Bắc: Taying kă‑prei, Midu ka‑pi giữ tiềntố ka‑ từ Kukish \k‑* bị mất trong các ngônngữ TB khác (tr. 186). Các ngônngữ Assam Bắc khác: Kukish b‑n‑d’liː, Miśing, Abor a‑pi, Yano, C. Nyising a‑pli, E. Nyising a‑pl, Apa Tanang pulyi (tr. 193)… | Baric: Garo bri, Atong bǐ‑ri, Ruga ‑bri, Tipora brui, Bodo broi, Metś bre, Dimasa biri, Mośang băli, Namsangia běli (tr. 441) || *** Note: HN số thứtự HV tứ /tɪ5/ ~ /tɪ1/ sovới HN sốđếm bốn.]
  5. ‘năm’ [M ńo/ < ńa ~ OB lńa < Sino‑Tibetan \p‑l‑ńa, Bahing, Tableng ńa, Burmese naː, Luśei ńa, Dwags liańe, Anal pă‑ńa, Purum, Kohlreng, Kom ră‑ńa, Lamgang pă‑ră‑ńa, Abor pǐ‑la‑ńǒ, Needham p‑l‑ń@, Siamese hāː || Bodish Nam: Lhoskad, Śarpa ńa (tr. 91), Khams lńa (tr. 111), Dwags liańe (tr. 115), Tsangla ńa (tr. 117), Gurung, Murmi, Thaksya ńa (tr. 123)… | Baric: Garo, Awe bri, Abeng biri, Bodo broi, Metś bre, Dimasa biri, Hojai ‑bri, Wanang bri, Atong bǐri, bərəi, Ruga ‑bri (tr. 428) || *** Note: VS số thứtự năm (thứnăm) vs. SV ngũ /ɲou4/ (đệngũ). Biếnthể hậuvị: ‑nhăm, ‑lăm như “25” = hămnhăm = hămlăm = hailăm. Cf. 廿 niàn = HN hăm‑.]
  6. ‘sáu’ [M lìuluk, O Bur. \t‑r1uk, M Bur. kʿ‑rok, Kukish \t‑r2‑uk, Luśei ruk, Mara tśa‑ru, Tlongsai tśa‑ru (=8?), Maram să‑ŕuk, Kwoireng tśă‑ruk, Empeo (S) su‑ruk, Tengima sǔ‑ru, Kehena sě‑r@, Chin luk (tiềnâm r‑ < l‑) (tr. 32)… | Shafer: nếu âmtắc t‑ tiếpxúc trựctiếp với r trong Kukish và tiềnHán, ta sẽcó Luśei ţuk thay vì ruk, và cóthể Hán t’uk thayvì luk (tr. 32). | Karenic: Pwo tśu38, Sinhma sot, Thangthu sʿu (tr. 423) || (Haudricourt) Daic tśr@k, Siamese h@k, Lao, Shan, Tàyđen, Tàytrắng, Nùng hok, Thổ sok, Dioi rok, Sui lyok, Mak, Bê lok (tr. 504) || *** Note: HN sốthứtự sáu (thứsáu) sv. HV lục /luwk8/.]
  7. ‘bảy’ [M tśʿit, Kharao tśă‑ri, Xiêm tśěţ₃ || Bodish Tây: Sbalti bdun, Burig ŕdun (tr. 78) || *Note: HN số thứtự: HV thất /t’ɐt7/ vs. HN thứbảy.]
  8. 8 ‘tám’ [M pat, O Bur. \t‑r1iat*, Luśei rat, M Bur. hratś, Tarao ti‑rit6, Langang tǐ‑ret, Amal tă‑rik, Tlongsai tśa‑ru (=6?), S./N. Khaimi tă‑ya, Hlota ti‑za, Tśungli ti10 || Bodish Tây: Sbalti bgyad, Burig ŕgyad, ‑pgyad, ‑bgyad (tr. 78)… | Baric: Garo, Abeng, Wanang tśet, Atong tśat‑, Ruga ‑tśet, Tipora tśa, Bodo źat, Metś dźat, Dimosa, Hojai dźa, Mośang tă‑tśat, Sangge ta‑tśat, Mulung tʿutʿ, Angwanku tat, Tśang sat (tr. 437‑438) || **Note: HN sốthứtự: HV bát /ɓat7/ sv. HN tám.]
  9. ‘chín’ [M jiǔkǔ/, O Bur. \t‑kua*, M Bur. kuiː, Siamese koː², Luśei kua, Mara tśa‑ki, Urkhrul tśǐ‑ko, Phadang tśǐ‑ku | Baric: Garo sku, Wanang dźu, Atong tśiku, Ruga ‑sku, Tipora tśuku, Bodo sʿko, Metś sku (tr. 441) || *** Note: HN sốthứtự: HV cửu /kɪw3/ vs. VS chín.]
  10. ‘mười’ [M shí 十 || Bodish Tây: Sbalti pʿtśu, Burig śtśu (tr. 78) || **Note: HN sốthứtự: SHV thập /t’ɐp/, HN chục /tśuwk8/.]
  • 20 ‘hăm’ [Baric: Muthun tśa, Angwanku ta, Tśang ha (tr. 438) || **Note: 廿 niàn = HN hăm (HV nhập).]
  • 100 ‘trăm’ ‘hundred’ [OB brgya, M Bur. ‑rya || Bodish khác: Gurung, Thaksya bʿra (tr. 123) || **Ghichú: HN /ʈɐm1/, ss. 一刀 草紙 Yīdāo căo zhǐ: HN mộttrăm tờgiấy.]

Và để bổsung cho việc giảđịnh HN bốn (4) và bảy (7), chúý nhậnxét của Shafer rằng hai số này táchkhỏi cách phátâm Hán và tiếngần đến Karenic:

“Chúngta cóthể còn tìmthấy dấuvết của các tiềntố thuộc âmmôi khác trong các từ Karenic chỉ ‘bốn’ và ‘bảy’, cảhai đều có phụâm ‘w’ chèngiữa, một đặcđiểm không xuấthiện trong các ngônngữ Hán‑Tạng khác. Nhưng trong tiếng Bodish cổ lại có tiềntố b‑ trong cảhai từ này. Vìvậy, ta cóthể chínhđáng đặt câuhỏi liệu phụâm w chèn‑giữa trong các dạng Karenic này có liênhệ nào với tiềntố b‑ trong Bodish cổ hay không.”

“*Từ dạng Bodish cổ bźi ‘bốn’, Dwags pli, Gurung bʿli, vli, v.v., tôi tạmthời táilập từdạng Bodish bźli; và từ các ngônngữ Kukish, dạng táilập Kukish là b‑n‑d’li. Thựctế tôi chỉ cóthể nóirằng tiềntố trong từ này là một phụâm môi, khác với các tiềntố m‑ p‑. Nó cóthể là v‑ hoặc w‑, và dạng Karenic, giảđịnh là vli, đã làmrớt tiềntố này trong Pwo và Bräʾ li, rồi qua quátrình đảovị trởthành lwi trong Sgaw và phầnlớn các ngônngữ Karenic khác.”

“*Một giảthuyết táobạo hơn nhằm giảithích dạng O.B. bdun ‘bảy’ – trong phầnlớn các ngônngữ Tâytạng‑Miến là *s‑Nis, nhưng trong Karenic là *nwi – chorằng dạngtừ gốc của ‘bảy’ cóthể là *sibdunis, và với trọngâm *sibdúnis thì trởthành O.B. *bdun. Cụm sbd khôngthể xuấthiện trong Bodish cổ, và khi một âmvị buộcphải rớt trong Bodish cổ thì dườngnhư âmđầu bị rớt: Hán‑Tạng m‑lt’ei ‘lưỡi’, O.B. ltśe; Hán‑Tạng p‑l‑ŋa, O.B. lŋa. Nhưng khi trọngâm đặtvào *sibdunís, ta cóthể giảđịnh chuỗi pháttriển *sibunís > *siwunís > *sinwis trong Karenic *nwi, và *sibdunís – *sunís > s‑Nis trong phầnlớn các ngônngữ Tâytạng‑Miến. Đảovị thường giữlại những phụâm lẽra sẽ bị rớt, điềunày thấy rấtrõ trong các phươngngữ Bodish, và ta cóthể giảđịnh một sựbảotồn tươngtự trong các dạng Karenic này.”

Mụcđích của chúngta ởđây là, vì chắcchắn sẽ vấp phải tấtcả những khókhăn chưađược giảiquyết liênquan đến các dạngtừ sốđếm Hán‑Tạng có tiềntố /b‑/, /w‑/, /m‑/, v.v. như đã nêutrên, những đồngnguyên sốđếm Hán‑Tạng trong tiếngViệt bị tháchthức bởi sựtươngtự giữa các sốđếm tiếngViệt và Mon‑Khmer, mặcdù sựthật là hệthống sốđếm Mon‑Khmer nhìnchung dựa trên hệngũphân, và trong cả Khmer cổ lẫn Khmer hiệnđại đềucó những từvaymượn từ hệ sốđếm của tiếngXiêm (Thái), cụthể:

  • 10 dɔp (ss. HV thập, HN chục)
  • 20 mphei (ss. HV nhịthập, HN haichục)
  • 30 sa:msɤp (ss. HV tamthập, HN bachục)
  • 40 saesɤp (ss. HV tứthập, HN bốnchục)
  • 50 ha:sɤp (ss. HV ngũthập, HN nămchục)
  • 60 hoksɤp (ss. HV lụcthập, HN sáuchục)
  • 70 cɤtsɤp (ss. HV thấtthập, HN bảychục)
  • 80 paetsɤp (ss. HV bátthập, HN támchục)
  • 90 kausɤp (ss. HV cửuthập, HN chínchục)
  • 100 roy (ss. HV bách, HN trăm)
  • 1000 pean (ss. HV thiên, HN ngàn)
  • 10000 mɤ:n (ss. HV vạn, HN muôn)

Những dạng này rõràng có nguồngốc từ tiếngHán, tức là: Hán > Xiêm > Khmer. Với một hệ sốđếm đứngtrên một chân nhưvậy, ta cóthể tựhỏi vìsao hệthống sốđếm tiếngViệt lại dựatrên hệthậpphân.

Trongkhiđó, đốivới các sốthứtự tiếngViệt vốn dựavào tiếngHán cho các kháiniệm nhất (一 yī ~ HV nhất), nhì (二 èr ~ HV nhị), ba (仨 sā ~ HV tam), (四 sì ~ HV tứ), v.v., và vẫncòn được dùng tíchcực.

Ngoàira, ta cũng cóthể xétđến tấtcả các kháinệm về sốđếm liênquan khác như:

  • chụcshí ‘tens’ [ M 十 shí (HV thập) < MC dʑip < OC ɡjub]
  • mười [ <~ mươi <~ 十 shí ~ mươi {/m‑/ + /‑wj/ <~ /m‑ ~ ‑wk/ <~ mộtchục 一十 yīshí (HV nhấtthập) }. Sosánh môhình hoánđổi âmvị ¶ /ch‑ ~ m‑/: 吵 chăo, miāo, ‘HN chùachiềng’ 寺廟 sìmiào (HV tựmiếu) \ 廟 miào ~ HN chiềng, ss. 朝 zhāo (HV chiêu) || M 一 yī, yí, yì, yāo < MC ʔjit < OC qliɡ | ¶ /y‑ ~ m‑/ ]
  • trămbăi (HV ‘bách’) [ss. 一刀草紙 yīdāo căozhǐ: HN mộttrăm tờgiấy ]
  • ngànqiān (HV ‘thiên’)
  • vạnwàn (HN ‘muôn’, ‘vàn’) [ = 十千 shíqiān (HN mườingàn) ]
  • triệuzhào [ ss. Hán hiệnđại 一百萬 yībǎiwàn (HN mộttrămvạn)]
  • ức, 億 (HV ‘ý’) [ ss. Hán hiệnđại 一億 yīyì = tiếngAnh ‘hundred billion’ ]
  • tỷ (HN mộtngàntỷ, tiếngAnh ‘billion’) [ ss. Hán hiệnđại 十億 shíyì (HN mộtngàntỷ) ],

Cùng với các kháinệm:

  • số 數 shù (HV số)
  • đếm 點 diăn (HV điểm)
  • tính 算 suàn (HV toán)
  • cộng 共 gòng (HV cộng)
  • trừ 除 chú (HV trừ = tiếngAnh ‘subtract’; trong Hán hiệnđại là 減 jiăn, HN giảm, còn 除 chú khi sang tiếngViệt thành chiazhī, tiếngAnh ‘divide’, ss. 分支 fēnzhī: SV phânchi)
  • nhân 乘 chéng (= tiếngAnh ‘multiply’)
  • mộtvài 一切 yīqiè (= tiếngAnh ‘a few’)
  • haiba 再三 zàisān (twice and thrice, again and again’)
  • nămbalượt 三番五次 sānfānwǔcì (= tiếngAnh ‘several times’)

Cùng các kháinệm lịchthời vănhoá,

  • HN Chúanhật 主日 zhǔrì (tiếngAnh = Sunday) [HV Chủnhật; cùng kháinệm với Hán hiệnđại 周日 zhōurì, Quảngđông 禮拜日 lǐbàirì (= HN ‘ngàylễbái’) ]
  • HN thứhai 周二 zhōu’èr (tiếngAnh = Monday, trong tiếngViệt là ngày thứhai sau Chủnhật; trongkhi tiếngHán 周一 zhōuyī mớilà ngày thứhai)
  • HN thứba 周三 zhōusān (tiếngAnh = Tuesday, trong tiếngViệt là ngày thứba sau thứhai; trongkhi tiếngHán 周二 zhōu’èr mớilà ngày thứba)
  • HN thứtư 周四 zhōusì (tiếngAnh = Wednesday, trong tiếngViệt là ngày thứtư sau thứba; trongkhi tiếngHán 周三 zhōusān mớilà ngày thứtư)
  • HN thứnăm 周五 zhōuwǔ (tiếngAnh = Thursday, trong tiếngViệt là ngày thứnăm sau thứtư; trongkhi tiếngHán 周四 zhōusì mớilà ngày thứnăm)
  • HN thứsáu 周六 zhōulìu (tiếngAnh = Friday, trong tiếngViệt là ngày thứsáu sau thứnăm; trongkhi tiếngHán 周五 zhōuwǔ mớilà ngày thứsáu)
  • HN thứbảy 周七 zhōuqī (tiếngAnh = Saturday, trong tiếngViệt là ngày thứbảy sau thứsáu; trongkhi tiếngHán 周六 zhōulìu mớilà ngày thứbảy)

Các tháng âm‑lịch:

  • 一月 yīyuè (‘thángmột’)
  • 二月 èryuè (‘thánghai’)
  • 三月 sānyuè (‘thángba’)
  • 四月 sìyuè (‘thángtư’)
  • thánggiêng 正月 zhēngyuè / 元月 yuányuè
  • ngàyrằmthángtám 八月十五 bāyuèshíwǔ
  • thángchạp 臘月 làyuè
  • bamươithángchạp 臘月三十 làyuèsānshí

Về mặt ngữpháp, cáchdùng sốđếm tiếngViệt khácbiệt rõrệt sovới hệngũphân Mon‑Khmer, quađó chothấy những saibiệt cơbản trong cách tổchức sốđếm. Trong tiếngKhmer, chẳnghạn, khi một sốtừ đóngvaitrò loạitừ hoặc hệsố từvựng, nó thường đứngsau danhtừ được bổnghĩa, trongkhi trong tiếngViệt sốtừ nhấtthiết phải đứngtrước danhtừ. Sựđốinghịch cúpháp này chothấy cáchdùng sốđếm Mon‑Khmer khônghề nằm trên cùng một nềntảng giảđịnh về đồngnguyên của các sốtừ từ 1 đến 5.

Khôngphải chúngta đã thổiphồng ýnghĩa từnguyên của các sốđếm tiếngViệt từ 1 đến 5 như thể chúng xuấtphát từ một kho Mon‑Khmer. Chính các họcgiả thuộc trườngphái NamÁ đã nhấnmạnh điềuđó, nhằm gán trọnglượng ditruyền cho những tươngứng này để lậpluận về một quanhệ Mon‑Khmer–Việt. Tuynhiên, điềuđó không buộc chúngta phải chấpnhận giảthuyết Mon‑Khmer mộtcách máymóc là giống sốđếm là phải giống ngữhệ, nhấtlà khi chưa xétđến những khácbiệt cúpháp trong cách dùng sốđếm giữa tiếngViệt và các ngônngữ Mon‑Khmer.

Nhânđây, cần nhắcnhở rằng hệthống sốđếm tiếngAnh nguyênthuỷ pháttriển quanh mườihai sốđếm, với hai dạng bổsung eleventwelve. Khuynhhướng thậpnhịphân này còn phảnánh trong các đơnvị đolường như mườihai inch bằng một foot, và trong lịch Julius, nơi tên của các tháng thứchín đến thứmườihai — September, October, November, December — vốn cónghĩa là tháng thứbảy, thứtám, thứchín và thứmười.

TiếngPháp, ngượclại, giữ một môthức khác chịu ảnhhưởng từ hệthống sốđếm La‑mã. Từ 11 đến 16, tiếngPháp dùng một chuỗi hợpthể dựa trên hệ mườisáu: onze (11), douze (12), treize (13), quatorze (14), quinze (15), seize (16). Sauđó hệthống chuyển sang dạng phântích: dix‑sept (17), dix‑huit (18), dix‑neuf (19), v.v. Các từdạng này xuấtphát trựctiếp từ Latinh bậccao. Tuyvậy, tiếngPháp — giống tiếngAnh — vẫn dùng septembre, octobre, novembre, décembre để chỉ các tháng tươngứng, mặcdù têngọi của chúng khôngcòn khớpvới vịtrí trong tờ lịch.

Đốivới người nói tiếngViệt, hệthống tựnhiên nhất là hệthậpphân. Khuynhhướng trựcgiác này cũng trùngkhớp và phùhợp với tưduy sốđếm của ngườiHán. Vìvậy, việc tiếpnhận các sốthứtự Hán‑Việt như nhất, nhị, tam, tứ, ngũ, lục, thất, bát, cửu, thập (từ 1st đến 10th) là điều tựnhiên và phổbiến. Các dạng này từ lâu đã cùng tồn tại với hệ sốđếm bảnđịa một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín, mười. Hai hệ này tươngứng thamchiếu lẫnnhau, như trong các cặp nhì ~ nhị, tư ~ tứ, chục ~ thập.

Hiệntượng songhệ này khôngriênggì tiếngViệt. Cùng một khung sốđếm gốc Hán cũngđược tiếpnhận rộngrãi trong tiếng Nhật và Hàn, nơi nó cùng tồntại với hệ sốđếm bảnđịa mộtcách hữuhiệu. TiếngViệt, tươngtự, duytrì cả hai hệsốđếm một cách năngđộng, phải nên dùng hệ nào tuỳtheo ngữcảnh.

Ngượclại, các dântộc Mon‑Khmer pháttriển một hệ đếm căncơ dựatrên năm chữsố, một khungtưduy ănsâu vào ngônngữ và vănhoá của họ. Đốivới họ, hệngũphân là tựnhiên và hợplý hơn bấtkỳ hệ nào khác. Vì thế, khó có khảnăng họ vaymượn thêm một nửa bộ sốđếm cònlại để mởrộng hệthống của mình — và thựctế họ đã không làm nhưvậy.

Tuy nhiên, một hệngũphân nhưthế không phùhợp với cáchdùng trong tiếngViệt. Môthức cộng 5+1, 5+2, v.v., vốn đặctrưng cho cách đếm Khmer từ 6 đến 9, khônghềcó một mảymay tưniệm nào trong tiếngViệt. Nếu người Việtcổ thấy hệngũphân là tựnhiên như người Mon‑Khmer, họ đã khôngcần bổsung sốđếm từ một nguồn bênngoài nàokhác. Vì dĩnhiên là làm nhưvậy sẽ tạora gánh nặng tưduy nhậnthức đángkể, tươngtự như cách chúngta hômnay cảmnhận hệ nhịphân trong tinhọc: hữudụng nhưng phải quyđổi sang thậpphân để hiểu trựcgiác (haylà sosánh hệ thậpnhịphân của ngườiAnh).

Nếu chấpnhận giảthuyết Mon‑Khmer, thì người Việtcổ hẳn đã dùng chung bộ sốđếm từ 1 đến 5. Vì thiếu bộ 6 đến 10, họ buộc phải vaymượn sáu đến mười từ một nguồn khác, nhiều khảnăng là từ tiếng Háncổ, để hoànthiện hệthống. Điềunày kéotheo rằng họ chưa từng dùng các cấutrúc cộng như 5+1, 5+2, 5+3, 5+4 cho các số 6 đến 9, như người Khmer vẫn dùng với bramuoy, brapir, brabei, brabuon.

Ngượclại, nếu giảđịnh một kịchbản ngônngữ trongđó các sốđếm tiếngViệt từ 1 đến 5 đồngnguyên với tiếngHán, thì bộ số từ 6 đến 10 đươngnhiên thuộcvề một hệthậpphân hoànchỉnh ngaytừđầu. Dưới gócnhìn này, hệ thậpphân tiếngViệt hiệnnay chothấyrằng người Việtcổ cóthể đã sởhữu trọnbộ thậpphân, khácvới người Mon‑Khmer vốnchỉ duytrì hệngũphân. Đó là điều khácbiệt.

Khácbiệt căncơ này lýgiải vìsao khó cóthể điềuhoà hai khungtưduy sốđếm khácxa này. Giảđịnh rằng ngườiViệtcổ khởiđầu bằng hệngũphân rồi vaymượn 6 đến 10 để tạora hệthậpphân là điều vừa thiếu thuyếtphục vừa mâuthuẫn với bằngchứng. Vềmặt ngônngữ, hệthống tiếngViệt cóvẻ đã ‘tựnhiênhoá’ hệthống thậpphân ngaytừđầu, khiến quanđiểm Mon‑Khmer trởnên không đứngvững và philý. (1)

Nếu gốc Annam cổ thựcsự thuộc cùng một khối Mon‑Khmer cả về chủngtộc lẫn ngônngữ, thì ngườinói hẳn đã cóthể vậnhành tựnhiên trong một hệngũphân. Ngượclại, hệ này sẽ trởnên philý, đúngnhư khi sosánh với các ngônngữ Mon‑Khmer lâncận. Những nhóm này cólẽ là kếtquả của sự hoàhuyết giữa cưdân Proto‑Vietmuong và các nhóm Mon‑Khmer dicư từ tâynam, thuộc vùng Hạ Lào ngàynay (xem Lacouperie [1887] 1963; Nguyễn Ngọc San 1993). Tuynhiên, vềmặt sốđếm, họ lại dùng cùng hệthậpphân như người Việt (xem Thomas 1966; Luce 1965).

Điềunày khôngthể được giảithích đơnthuần như kếtquả của tiếpxúc ngônngữ giữa người Mon‑Khmer vùng caonguyên và người Kinh vùng đồngbằng, như các họcgiả NamÁ đềxuất. Theo giảthuyết đó, người Mon‑Khmer nguyênthuỷ chỉ dùng năm sốđếm đầu và về sau mởrộng hệthống bằng cách vaymượn bộ 6 đến 10 từ hệthậpphân tiếngViệt. Tuy nhiên, kịchbản này khó xảyra, vì hệ sốđếm Khmer vẫn bámrễ ănsâu vào hệngũphân và tỏra rấtkhó thayđổi trong tưduy của người Khmer, rõràng là nhưvậy.

Dođó, ta trởlại điểm xuấtphát banđầu: hiệnnay, chúngta chưa thể giảithích vấnđề này một cách hoànmỹ vềmặt từnguyên. Ngaycả các họcgiả NamÁ cũng chưa giảithích được vấnđề tươngtự. (2)

Saukhi đã nỗlực đưara các nguyênuỷ Hán‑Tạng vào thảoluận về từvựng cơbản tiếngViệt, trườngphái Hán‑Tạng hiện ở vịthế thuậnlợihơn để tháchthức giảthuyết nguồngốc Mon‑Khmer của tiếngViệt. Các tươngứng sốđếm chỉlà một phần rấtnhỏ của nền tảng ngônngữ và khôngthể lấnát các tươngđồng từnguyên rộnglớn hơn giữa tiếngViệt và Hán‑Tạng. Tuynhiên, khicần, bằngchứng sốđếm vẫn cóthể được dùngđể chỉra các quanhệ âmvị giữa tiếngViệt và Hán‑Tạng, kểcả tiếngHán, như dữliệu của Shafer về nguyênuỷ các số từ 1 đến 10 đãchothấy.

Để mởrộng lậpluận này, mục sauđây tiếnhành dựng một lậpluận sốhọc thôngqua đốichiếu. Như đã nêutrên, hệthống sốđếm chỉ là một thànhphần nhỏ trong mốiliênhệ ngônngữ. Dù nỗlực này có thuyếtphục hay không, nó cũng không làm thayđổi cânbằng tổngthể giữa các yếutố Hán‑Việt và Hán-Nôm một bên với các yếutố Môn‑Khmer thuộc ngữhệ NamÁ bên kia. Ở khíacạnh này, sốđếm chỉ đơnthuần là số: chúng khôngthể đóngvaitrò bằngchứng quyếtđịnh để phânloại tiếngViệt như một ngônngữ có nguồngốc ditruyền NamÁ. Tráilại, việc khảosát những môhình biếnđổi ngữâm bấtquytắc trong sốtừ cóthể cungcấp những chỉdẫn hữuích để liênkết các hìnhthái Việtngữ với các từnguyên thuộc Tạng‑Miến hoặc từnguyên tiếngHán. Nỗlực nhưthế cũng cóthể làm nềntảng cho một khungpháp tươngtự ápdụng cho những tậphợp từnguyên cơbản khác, đặcbiệt những từ tạo chuỗi ngữnghĩa trong cùng một phạmtrù.

Dưới gócđộ âmvịhọc lịchsử, nếu cóthể xácđịnh đủ mẫuhình biếnđổi âmgiữa các từ có quanhệ — thường trên sáu mục trong cùng một phạmtrù từvựng — thì sẽ phátsinh hai khảnăng: hoặc những từnguyên đó có chung nguồngốc, hoặc chúng là từvay. “Nguồngốc” chỉ những từ phátsinh từ cùng một căn, còn “vay” chỉ những trườnghợp tiếpnhận từ, kểcả trong từvựng cơbản. Các trườnghợp nhưthế — dù trừutượng hay cụthể — đều được chứngthực trong mụctừ đốichiếu của Luce (1963) và Shafer (thậpniên 1970), nơi dữliệu chothấy những khảnăng đồngnguyên giữa Hánngữ và các ngônngữ khác thuộc từnguyên Tạng‑Miến.

Trởlại giảthiết Tạng‑Miến, những tươngđồng rất phongphú, như danhmục của Shafer đã chỉra. Điềuđó cho phép đặtra câuhỏi về nguồngốc của các số Việt từ sáu (6) đến mười (10), và tiếpđó xemxétlại từ một (1) đến ba (3). Trong mọi trườnghợp, ta có cơsở để nghĩrằng các sốđếm trong tiếngHán có những liênhệ từvựng đốiứng trong tiếngViệt, những liênhệ cầnđược chúý suýtsaohơn.

Hãy khảosát những mẫuhình này:

  • lìu ‘six’ sáu [ M 六 lìu, lù, líu < MC luwk < OC *rug | FQ 力竹 | Từnguyên: theo Starostin, sosánh rh‑ với Jianyang so8, Shaowu su7. Shafer: Tâytạng cổ drug, Miếntrung kʿrok, Lusei ruk || Ghichú: mẫuhình /l‑ ~ s‑/ phổbiến giữa Hán–Việt, vídụ 力 lì (SV lực) : HN sức, 蓮 lián (HV liên) : HN sen; kếtthúc tròn môi /‑w/ gợi thờiđiểm tươngđối gần (< 1.000 năm). || Xem giảithích dưới và từnguyên Tạng‑Miến trong mụctừ của Shafer trênđây. ]
  • ‘seven’ bảy [ M 七 (柒) qī < MC tsʰit < OC sn̥ʰid | FQ 親吉 || Ghi chú: đa số phươngngữ TrungHoa không còn giữ /‑t/. Xem từnguyên Tạng‑Miến trong thảo‑luận về O.B. bdun ‘bảy’ về đềxuất biếnđổi /q‑(S‑) ~ b‑(P‑)/, một tươngứng phổbiến Việt–Quanthoại: 巨 jù : HV cự, HN bự; 耜 sì : HV cử, HN bừa. (Sosánh 三 sān : HN ba; 四 sì : HN bốn.) Về sự biếnđổi âmcuối /‑t ~ ‑j/ nên /‑k ~ ‑j/, Karlgren (Word Families in Chinese*, 1933: 25–32) xáclập các tươngứng Thượngcổ > Cổđại > Trungcổ > Hiệnđại, từđó đốichiếu sang tiếngViệt: 死 sǐ = HV tử, HN chết; 水 shuǐ = HV thuỷ, HN nước; 尸 shǐ = HV thi /t’ej1/, VS thây; 屎 shǐ = HV thử, HN cức. ]
  • ‘eight’ tám [ M 八 bā < MC pɯæt < OC *pre:d | FQ 博拔 || Từnguyên: theo Shafer, Tâytạng cổ brgyad, Miếntrung hrats, Lusei riat, Sbalti bgyad, Burig rgyad. || Ghichú: /b‑ ~ t‑/ phổbiến Việt–Quanthoại: 便 biàn ~ HV tiện; 彼 bǐ ~ HNđó; 必 bì ~ HV tất; 比如 bìrù ~ HV tỷdụ; 道 dào ~ HN bảo. Phươngngữ Thiểmtây gọi 爸 bā là . ]
  • jǐu ‘nine’ chín [ M 九 jǐu, jīu, qíu (cửu, cưu) < MC kuw < OC *kuʔ || Ghichú: xem từnguyên Tạng‑Miến trong mụctừ Shafer ghitrên. ]
  • shí ‘ten’ mười [ cũng HN chục | M 十 shí < MC dʑip < OC *ɡjub || Ghichú: xem từnguyên Tạng‑Miến trong mụctừ Shafer ghitrên. ]

Hãy khảosát một số mẫuhình tươngứng cho những sốđếm đó:

1. “sáu” theo môhình ¶ { L‑ ~ S‑ } — lớp tươngứng giữa âmlỏng và âmsát, rất phongphú:

  • (wax) ~ HV sáp
  • (tháng 12 âmlịch) ~ HV chạp
  • lán (indigo) ~ HN chàm
  • láng (man) ~ HN chàng [ M 郎 láng, làng < MC laŋ < OC *ra:ŋ ]
  • làng (wave) ~ HN sóng [ M 浪 làng < MC laŋ < OC *ra:ŋ, *ra:ŋs ]
  • lèng (stupefied) ~ HN sửng
  • (force) ~ HN sức
  • (texture) ~ HN sớ
  • (plow) ~ HN xới [ M 犁 lí < MC liej < OC *rəj ]
  • liàng (bright, pretty) ~ HN sáng, xinh [ M 亮 liàng < MC lɨaŋ < OC raŋs | Hainanese /siaŋ/ | cf. 浪 ra:ŋs, 景 kraŋʔ, 爽 sraŋʔ ]
  • luó (clam) ~ HN sò [ M 螺 luó < MC lwa < OC ro:l ]
  • lián (lotus) ~ HN sen [ M 蓮 lián < MC lian, len < OC re:n, renʔ ]
  • (rate) ~ HV suất
  • luó (net fishing) ~ HV chài
  • 鼻梁 bíliáng (bridge of nose) ~ HN sóngmũi
  • 風浪 fēnglàng (stormy waves) ~ HN sónggió
  • 榴槤 líulián (durian) ~ HN sầuriêng [ gốc Malay duri ‘thorn’ ]
  • chóu (silk) ~ HN lụa
  • cóng (bush) ~ HN lùm [ M 叢 cóng < MC tsuŋ < OC tsoŋ | ¶ /c‑ ~ l‑/ ]
  • jǐu (long time) ~ HN lâu
  • jiăn (pick up) ~ HN lượm
  • qián (submerge, furtive) ~ HN lặn [ HN lén, lẫn, lánh | M 潛 qián < MC dziam < OC zlom, zloms | ¶ /q‑ ~ l‑, ŋ‑/ ]
  • shuā (rub) ~ HV loát [ HN chà | 印刷 yìnshuā = ấnloát ]
  • xiāng (village) ~ HV làng
  • xiáng (glide) ~ HN lạng [ HN lượn ]
  • xīn (heart) ~ HN lòng
  • zhǎng (grow) ~ HN lớn •
  • (swamp) ~ HN lầy
  • (select) ~ HN lựa [ M 擇 zé < MC ɖajk < OC ɫhak, rla:g | ¶ /z‑ ~ l‑/ ]

2. “bảy” theo môhình ¶ { Q-(zh-, ch-, c-, s-, x-, j-…) ~ B-(p-, ph-…) } — tươngứng giữa âm tắc‑xát, âm sát và âm môi:

  • • 池 chí (pool) ~ HN bể [ M 池 chí < MC da, ɖjiə̆ < OC l’al, l’a:l ]
  • jīn (river bank) ~ HN bến [ M 津 jīn < MC tsin < OC ʔslin ]
  • (seven) ~ HN bảy
  • sān (three) ~ HN ba
  • sǎo (sister‑in‑law) ~ HN bậu [ M 嫂 sǎo < MC saw < OC saw, suːwʔ ]
  • shài (sun‑dry) ~ HN phơi, sấy [ M 曬 shài < MC ʂai, ʂaɨj < OC srels, sreːls ]
  • shàn (fan) ~ HV phiến
  • shān (to fan) ~ HV phiến
  • shāng (trade) ~ HN buôn [ ¶ /sh‑ ~ b‑/ | 商人 = conbuôn ]
  • shì (divination) ~ HV phệ • 四 (four) ~ HN bốn [ M 四 sì < MC sjɨ < OC slhijs ]
  • (plough) ~ HN bừa [ M 耜 sì < MC zjɨ < OC lhǝʔ ]
  • sōu (large boat) ~ HN bầu [ 艘船 = ghebầu ]
  • 餿 sōu (distasteful) ~ HN bựa
  • xiǎo (little) ~ HN bé [ M 小 xiǎo < MC siaw < OC smewʔ ]
  • zhā (dregs) ~ HN bã • 疤 (scar) ~ HN sẹo [ M 疤 bā < MC pa < OC pra: ]
  • băn (floorboard) ~ HN sàn [ M 板 băn < MC pɑn < OC pra:nʔ ]
  • (compare) ~ HN so
  • bìng (parallel) ~ HN sánh
  • (afraid) ~ HN sợ [ M 怕 pà < MC pʰaɨ < OC pʰraːɡ, pʰraːɡs ]
  • pài (dispatch) ~ HN sai
  • pìng (betroth) ~ HV sính
  • bié (do not) ~ HN chớ
  • chéng (gallop) ~ HV sính, HN phóng
  • chéng (steelyard) ~ HV bình, HN cân
  • jīn (cf. 筆 bǐ) ~ HV tân, HN bến
  • zǒu (run) ~ 跑 păo ~ HN chạy
  • xiāo (sky‑vault) ~ HV tiêu; also báo/bó → HN bầu (bầutrời)

Dạng songtiết:

  • 并肩 bìngjiān ~ HN sánhvai
  • 比方 bǐfāng ~ HN sosánh
  • 比肩 bǐjiān ~ HN sátcánh
  • 並非 bìngfēi ~ HN chẳngphải
  • 傍晚 bàngwǎn ~ HN chạngvạng
  • 分享 fēnxiǎng ~ HN chiasớt
  • 聘禮 pìnglǐ ~ HV sínhlễ
  • 起源 qǐyuán ~ HN bắttnguồn
  • 起頭 qǐtóu ~ HN bắtđầu

**Môhình trunggian { /s‑/ ~ /t‑/ } và { /q‑/ ~ /th‑/ } đóng vaitrò trunggian { t‑(th‑…) ~ b‑(p‑, ph‑) } trong quátrình biếnâm từ tiếng Hán Trungcổ sang tiếngViệt (thếkỷ X), tạora HN bảy từ HV thất. Tươngtự cho ba ~ tam, bốn ~ tứ, bảy ~ thất.

  • béng (do not) ~ HN đừng
  • pèng (collide) ~ HN đụng
  • piáo (intercourse) ~ HN đéo
  • biǎo (whore) ~ HN đĩ
  • bèn (stupid) ~ HN đần
  • (mate) ~ HV thất
  • (must) ~ HV tất [ HN phải ]
  • (compare) ~ HV tỉ [ HN so ]
  • (compare) ~ HV thí
  • pín (channel) ~ HV tần
  • (currency) ~ HV tệ
  • bēi (inferior) ~ HN tệ
  • (vile) ~ HN tệ
  • bēi (mediocre) ~ HV tì
  • (finish) ~ HV tốt
  • bīn (river bank) ~ HV tân
  • bīn (guest) ~ HV tân
  • (hair) ~ HN tóc ~ HV phát, bị
  • dào (tell) ~ HN bảo
  • tàng (burnt) ~ HN bỏng
  • tán (discuss) ~ HN bàn
  • tóu (put in) ~ HN bỏ

Dạng songtiết:

  • 劍柄 jiànbǐng (sword‑hilt) ~ HN #thanhgươm
  • 奔波 bènbō (busy oneself) ~ HN tấttả [ HV bônba ]
  • 圈套 quāntào (trap) ~ HN cạmbẫy
  • 突然 tùrán (suddenly) ~ HN bỗngdưng

Kiểuloại tươngtự nhưthế vẫncòn điều nghivấn, đặcbiệt khi xemxét hai trườnghợp ba (3) và bốn (4). Cóvẻ như khôngthể thiếtlập mốiquanhệ rànhmạch giữa sốđếm Hán và Việt, dù cóthể tìmthấy những tươngđồng trong các ngônngữ Tạng‑Miến khác. (Xem giảithích của Shafer về số bốn trong bànluận của ông về dạng Hán-Tạng Bod cổ bźi.) Chúngta cũng đã đặtra giảthiết về nguồngốc của bảy, vì nó khôngcó dấuhiệu xuấtphát từ một hệ thậpphân. Nếu bảy khôngthuộc nguồngốc NamÁ Môn‑Khmer, thì những số khác như babốn, và cóthể cả phầncònlại, cũng cóthể xuấtphát từ những cănngữ khác.

Chỉ có một bằngchứng tạmthời liênkết ba của tiếngViệt với tam (HV) 三 sān là tươngứng giữa ba /ba1/ và dạng Hảinam /ta1/, một dấuvết nhỏ nhưng gợiý, còn lưugiữ trong tầngngữ sâu. Mẫuhình âm { B(p)- ~ T(th)- } (tức { S‑ ~ B‑ }) là một đặctrưng quantrọng trong quátrình rútgọn 41 phụâm đầu Trungcổ Hán thành 20 phụâm đầu Hán‑Việt vào thếkỷ X (Nguyễn Ngọc San, 1993). Nếu /sān/ của Hán và /ba1/ của Việt thựcsự đồngnguyên, ba cóthể hìnhthành từ sựmấtmất cuối ‑m và chuyểnđổi /s‑/ (hoặc /t‑/) sang /b‑/, hoặc cóthể phátsinh từ một dạng BáchViệt cổ, như thấy trong các phươngngữ Mânnam như Hảinam. Nếu /ta1/ của Hảinam đượcxemlà đồngnguyên khảthi của ba /ba1/ (sosánh Quanthoại 仨 ), thì những phươngngữ khác của Hán cũng cóthể chothấy mẫuhình tươngtự. Vídụ: 山 shān ~ Hảinam /twa1/ sovới HV /san1/ ~ Hán-Nôm /non1/ > /nui5/ (núi), và cóthể đồi /doj2/ (đồi), minhhoạ hai mẫuhình chính: /sh‑ ~ n‑/ và /n‑ ~ d‑/, kèmtheo chuyểnđổi /‑n ~ ‑i/.

Những mẫuhình biếnâm như /tam1/ > /ta1/ > /ba1/ rất đadạng, giốngnhư trườnghợp biết. Từ biết /bjet7/ đồngnguyên với /bat7/ trong các phươngngữ Mânnam như Hảinam, Hạmôn, Phúckiến (明白 míngbai, míngbái \ Nh @ 明 míng ~ ‘rõ’, ‘rành’ | ¶ /m‑ ~ r‑/, @ 白 bǎi ~ ‘biết’, ‘mạch’) và từđó tươngứng với /taj1/ 知 zhī (HV tri /ʈej1/ → HN hay /hej1/ như trong haybiết ‘nhậnbiết’).

Nếu đólà trườnghợp của ba, thì nhiều khảnăng dạng này đã trảiqua một quátrình nghiênglệch, trongđó âmcuối trònmôi /‑wm/ được chuyển lêntrước và biếnthành âm môi, dẫnđến /bw‑/ và /ɓ‑/ trong các giaiđoạn pháttriển nộibộ của tiếngViệt (sosánh MC sam < som, Hán Thái-Thượngcổ (proto-Chinese) /sawm/, Tạng gsum, gsum‑po, ‘thứba’). Trong phươngngữ Quảngnam Việtnam, tam đọc /towm1/ và ba đọc /bwa1/. Hiệntượng chuyển trònmôi từ âmcuối sang âmđầu không hiếm, như Baxter và Bodman (1980) đã ghinhận. Nếu lậpluận này đúng, ba phải rất cổ, còn trước cả sựhìnhthành của NamViệt.

Sựchuyểnđổi từ âmmôi Hán sang âmrăng Việt đãđược nhiều họcgiả nghiêncứu, như Maspero, Karlgren (1939), Arisaka Hideyo, Paul Nagel, Pulleyblank (1984), Nguyễn Ngọc San (1993), Nguyễn Tài Cẩn (2000). Pulleyblank tómtắt: âm /t‑/ của tiếngViệt phátsinh từ chuỗi biếnđổi { /s‑/ < /ts‑/ < /psi‑/ < /pci‑/ }, cứnhưlà như từ /ts‑/. Forrest (1958) chorằng đólà kếtquả của âm Hán Thượngcổ (Ancient Chinese) /pj‑/, /bj‑/ và quátrình ngạchoá trướckhi những từ có s‑ đầu được vaymượn vào tiếngViệt. Từđó, chiều ngược /s‑/ > /p‑/ cũng cóthể được suyra.

Nếu trườnghợp bảyba có ýnghĩa nhưthế, thì 四 (bốn), HV tứ [tɨj] ~ HN bốn, hẳn cũng trảiqua một quátrình tươngtự. (Xem giảithích của Shafer về số bốn trong bànluận về dạng Hán-Tạng Bod cổ bźi.)

  1. Nếu trườnghợp ba, bốn, bảy đúng, thì tám cũng phải phùhợp với môhình tươngứng { /b‑/ ~ /t‑/ }.
  2. Môhình { j‑ (z‑, q‑) ~ ch‑ } tự nó đã xácnhận trườnghợp: 九 jǐu ~ chín. Mẫuhình tươngứng rất dễ thấy: 煎 jiān ~ chiên; 走 zǒu ~ chạy; 足 ~ chân; 焦 jiāo ~ cháy; 緊 jǐn ~ chặc; 正 zhèng ~ chính, v.v.
  3. Môhình { S(h)‑ (x‑, q‑, z‑) ~ m‑ } không hiếm nếu xem xét OC */s‑/, /sh‑/ dẫnđến MC /m‑/ từ thời TâyHán. W. South Coblin (1982: 126–127) ghi:
  • sjwet ~ 滅 mjiät 杪, 眇 mjiäu: ~ 小 sjiäu:
    • 小 xiǎo ~ 尛 mó

Trong Quanthoại hiệnđại, môhình { S(h)‑ (x‑, q‑, z‑) ~ m‑ } vẫn cóthể thấy:

  • cái ~ HN may [ HV tài | M 裁 cái < MC dzəj < OC zlɯː, zlɯːs ]
  • qìng ~ HN mừng [ M 慶 qìng < MC kʰiajŋ < OC kʰraŋ ]
  • shī ~ HN mất [ HV thất | M 失 shī < MC ɕit < OC hlig ]
  • xián ~ HN mặn [ M 鹹 xián < MC ɦəɨm < OC ɡrɯːm | phươngngữ: xan12, han12, ham12… ]
  • xiě ~ HN máu [ HV huyết, HN tiết | M 血 xiě < MC xwiet < OC swit ]
  • xiāo ~ HN muối [ HV tiêu | M 硝 xiāo < MC siaw < OC sew ]
  • zuǐ ~ HN môi [ HN mỏ | M 嘴 zuǐ < MC tswiə̆ < OC ʔseʔ ]
  • qiáng ~ HN mạnh
  • shèng ~ HN mứa [ HN thừachứa | M 剩 shèng < MC ʑiŋ < OC ɦljɯŋs ]
  • xīn ~ HN mới
  • qǐng ~ HN mời [ M 請 qǐng < MC tsʰiajŋ < OC zleŋ, shleŋʔ ]
  • ~ HN sờ [ HN , | M 摸 mō < MC muo < OC *ma:, maːɡ ]
  • míng ~ HN sáng [ M 明 míng < MC maiŋ < OC mraŋ ]
  • màn ~ HN chậm [ M 慢 màn < MC maɨn < OC mroːns ]
  • miào ~ HV miếu [ cf. 朝 cháo ~ HN chầu ]

Để đặtlại trong bốicảnh, trong trườnghợp “mười”, shí 十 cóthể khôngphải là mười, nhưng chắcchắn là từnguyên của chục trong tiếngViệt, như được xácthực qua phươngngữ Quảngđông /ʃʌp8/.

Mọi giảđịnh về mốiliênhệ sốđếm Hán–Việt dĩnhiên vẫn chỉ là giảthiết, và thường bị phảnbiện bởi sự hiệndiện của các từnguyên Môn‑Khmer. Mụctiêu ởđây chỉ là cungcấp cho các chuyêngia Môn‑Khmer một gócnhìn bổsung, vượtrangoài phạmvi sosánh quenthuộc giữa sốđếm Việt và Môn‑Khmer từ 1 đến 5. Độcgiả nên giữ tâmthái rộngmở, vì còn nhiều khảnăng tồntại. Nếu các số Việt sáu đến chín, hoặc thậmchí chục, cóthể được chứngminh là phùhợp với các mẫuhình biếnâm liênquan đến Hán, thì câuhỏi tựnhiên đặtra: năm số đầutiên có thựcsự xuấtphát từ Môn‑Khmer hay không.

III) Hệquả

  • Sốđếm Việt củngcố mẫuhình từvựng rộnghơn: những tươngứng cóhệthống thuộc ngữchi Tạng‑Miến.
  • Các tươngđồng Môn‑Khmer vẫn rời rạc, làm suy yếu lậpluận về mốiquanhệ NamÁ trựctiếp.
  • Bằngchứng đặt tiếngViệt vữngvàng trong một liêntục Tạng‑Miến.

A. Biếnđổi ngữâm

Vềmặt từnguyên, từ càng cơbản thì càng có khảnăng đã trảiqua biếnđổi ngữâm mạnhmẽ theo thờigian, đếnmức khôngcòn nhậnra được và khôngđểlại dấuvết lịchsử rõràng. Trong mộtsố trườnghợp, ngaycả từvựng cơbản cũng bị thaythế hoàntoàn bởi các lớp vaymượn muộn hơn, như nhiều từ gốc Hán chỉ bộphận cơthể trong tiếngViệt (xem Paul K. Benedict, Austro‑Thai Language and Culture with a Glossary of Roots, 1975). Nóicáchkhác, hìnhthức nào càng giốngnhau thì khảnăng vaymượn càngcao, như đã thấy trong vôsố từnguyên Hán‑Việt và Hán-Nôm khi sosánh với các từnguyên Tạng‑Miến khác, kểcả trong các tiếng thuộc ngữchi Thái.

Cáchnhìn này tháchthức giảđịnh phi‑hànlâm rằng từ cơbản ổnđịnh hơn các tầng từvựng cao hơn. Các từnguyên Tạng‑Miến của Shafer, như trìnhbày trong bài này, cho thấy điều ngượclại: ngay cả từ cơbản cũng cóthể biếnđổi mạnh. Đặcbiệt, những từ phức và đaâm rất dễ bị biếnđổi và chịu ảnhhưởng của biếnthể phươngngữ khi được vaymượn vào ngônngữ tiếpnhận, vídụ:

  • “cùichỏ” (胳膊)肘子 (gēbó)zhǒuzi (khuỷutay)
  • “bảvai” 臂膊 bèibó (bảvai)
  • “màngtang” 太陽穴 tàiyángxué (thái­dương)
  • “mỏác” 胸骨 xiōnggǔ (xương­ức)(sternum),
  • “chânmày” 眉梢 méishāo (eyebrow),
  • “đầugối” 膝蓋 xīgài (knee),
  • “mắtcá” 腳踝 jiăohuái (ankle) [ HV ‘cướckhoả’ | M 腳 jiăo, jué < MC kɨak < OC *kaɡ || M 踝 (髁) huái, huà (hoạ, coả, hoã, khoã, hoả, khoả) < MC ɦwaɨ < OC *ɡroːlʔ || cf. 踝骨 huáigǔ: HN ‘mắtcá’ (ankle bone) ] , etc.

Ngoạitrừ duynhất thuộc về nhóm từvựng cơbản, thường là những âm đơngiản, đơnâm: ba 爸 bā, 媽 mā, mắt 目 mù, xơi 食 shí, uống 飲 yǐn, đất 土 tǔ. Những hìnhthức này có xuhướng giữ ổnđịnh hơn, dù không phải ngônngữ nào cũng có cùng cách phátâm. Quan sát này không mâuthuẫn với nguyêntắc pháttriển thanhđiệu: các cụm phụâm đầu–cuối không thanhđiệu banđầu đã tiếnhoá thành hệthống thanhđiệu với phụâm đầu đơngiản, như thấy ngàynay, phùhợp với thuyết hìnhthành thanhđiệu của Haudricourt.

Cóthể lýgiải rằng nhiều ngônngữ Tạng‑Miến — Hán, Miến, Thái — banđầu dùng chung một lớp từ cơbản, rồi phânnhánh theo thờigian hàng thiênniênkỷ. Điềunày phùhợp với thựctế rằng ngônngữ sống luôn biếnđổi, từ thôsơ đến tinhvi. Đặcbiệt, sựchuyểndịch từ cụm phụâm khôngthanhđiệu sang hệthống thanhđiệu, như trong tiếngHán thượngcổ đơnâm, là một vídụ điểnhình. Hiệntượng tươngtự cũng thấy trong Ấn‑Âu, nơi biếnđổi ngữâm và ngữnghĩa làm mờdần mốiliênhệ từnguyên. Vídụ: tên các tháng 9–12 trong tiếng Anh — September (“tháng bảy”), October (“tám”), November (“chín”), December (“mười”) — không còn khớp nghĩa số. Tiếng Pháp cũng vậy, và các cặp như route ~ road, merci ~ mercy cho thấy sựphânkỳ tươngtự.

Chắcchắn là sẽcó ýkiến chorằng các giảđịnh từnguyên cho sáu, bảy, tám, chín, mười chưa thậtsự thuyếtphục. Trướckhi xemxét các mẫuhình lặplại giữa Hán và Việt như { S‑ ~ B‑ } trong bảy, ba, bốn, ta chuyểnsang khảosát mộthai. Danhsách ngắn này, như các vídụ trước, khônghề hàmý baoquát.

  • một (một): HV nhất [ Ghichú: sosánh mốt trong hămmốt; M 一 yī < MC ʔjit < OC qliɡ. Theo Nguyễn Ngọc San, các phụâm đầu MC /l‑/, /m‑/, /n‑/, /nh‑/, /ng‑/ khi vào Hán‑Việt đều thành thanhngã hoặc nặng, trừ trườnghợp “nhất”, vốn giảđịnh là “nhật”, dođó thành “một”. ]
  • yì 溢: HN mứa (tràn)
  • yì 蟻: HN mối (mối)
  • yún 雲: HN mây
  • yǔ 雨: HN mưa
  • yăo 舀: HN môi ~ muỗng ~ múc
  • yóu 魷: HN mực
  • yăn 眼 ~ 目 mù: HN mắt
  • yāo 邀: HN mời ~ vời
  • yán 鹽: HN muối [ HV diêm ]

và chiều ngượclại:

  • giây: 秒 miăo
  • dân: 民 mín
  • diện: 面 miàn
  • diệu: 妙 miào
  • di: 彌
  • danh: 名 míng
  • diệuvợi: 渺茫 miăománg
  • haièr: HV nhị [ HN nhì trong thứnhì; M 二 èr < MC ȵiɪ < OC njis. Phươngngữ Quảngnam đọc huơ /hwə1/. ]
  • năm: HV ngũ [ HN nhăm, dăm, lăm; M 五 wǔ < MC ŋuo < OC ŋaːʔ. ]
    • wèi: HN nể
    • wèi: HN nếm
    • : HN nằm, ngủ
    • : HN nắm
    • guó: HV quốc, HN nước
    • guō: HV qua, HN nồi
    • huà: HN nói
    • : HN ép
    • : HN nội
    • : HV ngữ, HN nói

B. Cũng cókhảnăng sựtỵhoá của nguyênâm Hán‑Việt cóthể dẫnđến các từdạng sốđếm trong tiếngViệt

Sựhìnhthành các sốđếm tiếngViệt cóvẻ đã tiếnhóa muộn, vào giaiđoạn từ tiếng Háncổ đến Hán trungcổ, khoảng thếkỷ III đến VII. Chúng cóthể đã địnhhình qua quátrình tỵhoá nguyênâm trong tiếngViệt cổ, một đặctính vẫncòn thấy trong các phươngngữ Bắc‑Trung trước khi cưdân vượt qua vĩtuyến 16 và tiến xuống phươngNam địnhcư tại các vùng đất Chămpa cũ từ thếkỷ XIII. Phươngngữ Huế hiệnnay vẫn giữ bốn thanh ở thanhđiệu quãngthấp và lượcbỏ bốn thanhđệu ở quãngcao xưacũ, một mẫuhình cóthể phảnánh đườngnét thanhđiệu của tiếngViệt cổ.

  • nhất → /jãt/ → /mât/ → một
  • nhị → /nhej/ → /hẽj/ → hai
  • tam → /tã/ → /ta/ → ba
  • tứ → /psɨĩ/ → /bữj/ → bốn
  • ngũ → /ngâu/ → /nẫw/ → năm
  • lục → /lũkw/ → /sũkw/ → sáu
  • thất → /tất/ → /bẫt/ → bảy
  • bát → /ɓãt/ → /tãt/ → tám
  • cửu → /kjɨũ/ → /k’jữw/ → chín
  • thập → /chẫp/ → /mập/ → mười

***/~/ = âm mũi hoá.

Hiệntượng này cóthể được giảithích bởi sựviệc người Kinh, sống tại đồngbằng và các trungtâm đôthị, buộc phải giaodịch với quanlại nhàHán trong các hoạtđộng traođổi tiềntệ ítnhất từ năm 111 TCN đến 939 SCN. Vìthế, sốđếm hẳn là một trong những lớp từvựng sớmnhất được địnhhình trong tiếng Annam cổ.

Vềmặt phátâm, cóthể kiểmchứng giảthuyết bằng cách phátâm Hán‑Việt nhất, thập với phụâm đầu tỵhoá /m‑/. Tươngtự với giảđịnh nghịchđảo, với Hán‑Việt nhị /nhei6/, lượcbỏ tỵâm /n‑/ khỏi /nh‑/ và giữ /h‑/. Tiếptục với Hán‑Việt tam, tứ, thất bằng phụâm đầu /b‑/ (sosánh Hảinam /ta1/, /tej3/, /sit5/), Hán‑Việt lục bằng /s‑/ (sosánh Quanthoại lìu), và ngũ (sosánh QuảngĐông /ɱ4/) bằng /n‑/ (/nh‑/, /l‑/). Với bát, dùng /t‑/, và với cửu, dùng /ch‑/. Tấtcả các từdạng này đều trảiqua các chukỳ tỵhoá và phi‑tỵhoá. “Đi một vòng rồi trởlại”, và đó củng cóthể là lýdo hìnhthành các chữsố Việt từ 6 đến 10 — một mẫuhình khôngthấy trong Khmer.

Dùsao, các cáchđọc Hán‑Việt của sốđếm đã thấmsâu trong cách dùng phổthông, khôngchỉ trong thứtự mà còn trong vôsố thànhngữ và quánngữ.

Bảng 2 – Thànhngữ hàmchứa sốđếm Hán‑Việt đốichiếu

Hán-NômMeaningTươngứng Hánngữ
nhấtnghệtinh nhấtthânvinh“one specialized skill brings lifelong honor”一技之長 yījìzhīcháng
nhịthậptứhiếu“twenty-four filial exemplars”二十四孝 èr shí sì xiào
bấtquátam“never more than thrice”不過三 bùguòsān
tứđỗtường“four addictive pleasures”四大嗜好 sìdàshìhào
mâmngũquả“tray of five auspicious fruits”五果盤 wǔ guǒ pán
lụcsúctranhcông“six domestic beasts vying for merit”六畜爭功 lìu chù zhēng gōng
thấttìnhlụcdục“seven emotions and six desires”七情六欲 qīqínglìuyù
thấtđiênbátđảo“seven mad, eight scattered (utter chaos)”七顛八倒 qīdiānbādǎo
chốncửutrùng“nine-layered forbidden city”九重城 jǐuchóngchéng
thậpmỹthậptoàn“tenfold beauty and perfection”十全十美 shíquánshíměi
tứhải giai huynhđệ“everybody in every corner of the world is brother”四海皆兄弟 sìhǎijiēxiōngdì
vangdanhbốnbể“famous all over the world”名揚四海 míngyángsìhǎi
bađầusáutay“three heads and six arms” (extraordinary ability)三頭六臂 sāntóulìubì
tamđạiđồngđường“three generations under one roof”三代同堂 sāndàitóngtáng
báchchiếnbáchthắng“a hundred battles, a hundred victories”百戰百勝 bǎizhànbǎishèng
tìnhthiênthu“love spanning a thousand autumns”情延千秋 qíngyánqiānqīu
vạnsựkhởđầunan“ten-thousand endeavors begin with hardship”萬事開頭難 wànshìkāitóunán
chíntriệuchínchínchín… đoáhoahồng“9,999,999 roses”九百萬 九十九萬 九千 九百 九十九 朵 玫瑰 jǐu bǎi jǐu shí jǐu wàn jǐu qiān jjǐu bǎi jǐu shí jjǐu duǒ méi guī
hàngtỷtỷngười“billions of people on Earth”數十億人 shùshíyìrén
mộtphầnứcgiây“one trillionth of a second”一兆分之一秒 yīzhào fēn zhī yī miǎo

Những thànhngữ này, khi dịch từngchữ sang Hán, ngườiHoa đều cóthể hiểuđược, ngaycả khi chúng không trựctiếp vaymượn từ thànhngữ Hán hay những kháiniệm đó chỉ tồntại trong vănhoá Việtnam. Trong tiếngViệt ta cóthể tìmra vôsố vídụ khác, vì các vídụ trên chỉđược chọn ngẫunhiên. Điểm cốtlõi là: sốđếm Hán‑Việt tuônra tựnhiên như bảnnăng thóiquen. Sốđếm thuầnViệt, tuy khác hìnhthức, cũng mang cùng bảnchất: cảhai đều ănsâu trong tiềmthức ngônngữ của ngườiViệt.

Tuyvậy, điểmyếu của giảthuyết về nguồngốc sốđếm Việt nằm ở sựgiốngnhau giữa một, năm với các từdạng Môn‑Khmer — hay không? Khókhăn này sẽ biếnmất nếu chứngminh được rằng năm số Môn‑Khmer đầutiên chỉlà mộtphần của sốđếm thuộc hệthậpphân trong tiếngViệt.

Nhưng ai cóthể khẳngđịnh rằng vài từnguyên giốngnhau đủ để chứngminh mốiquanhệ ditruyền giữa các ngônngữ xa nhau? Chiều vaymượn không nhấtthiết là từ Môn‑Khmer sang Việt; chiều ngượclại cũng cóthể. Cũng cần nhớrằng tổtiên ngườiViệt hiệnđại chưa vượt vĩtuyến 16 trước thếkỷ XIII, và tộcngười Môn‑Khmer cũng cóthể là hậuduệ của các bộlạc BáchViệt cổ.

Hơnnữa, một từnguyên có ngữâm quá giống lại càng đáng nghingờ hơnlà một từnguyên xa.

Trong trườnghợp giảđịnh của sốđếm Việt, kể cả tám (8) và mười (10), các giảđịnh cho 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 9 như phântích ởtrên khôngthể bị bácbỏ hoàntoàn, dù mức độ khảtín còn bỏngỏ. Và dù tranhluận về hệ ngũphân hay thậpphân còn tiếptục, lýthuyết vẫncó giátrị. Mỗi giảthiết đềucó ưuđiểm khi sosánh với Môn‑Khmer, trừ phần suyđoán của Benedict về từnguyên sốđếm Namđảo-Thái (Austro‑Thai) (1975: 29–30). Những gì trìnhbày ởđây chỉlà mộtphần nàođó, gợimở cho việc tìmkiếm thêm các từnguyên Hán‑Nôm khác.

Đặt vấnđề trong bốicảnh: sự tươngứng giữa sốđếm Việt và Khmer chỉ từ 1 đến 5. Từ sáu trở đi, Việt phùhợp với Hán 六 lìu và tiếptục chiasẻ các số caohơn, kểcả trong thànhngữ. Quanđiểm chorằng một nền vănhoá mạnh ápđặt sốđếm lên nền vănhoá yếuhơn không đứngvững, vì chính Vươngquốc Khmer từng là cườngquốc trongvùng từ 802 đến 1432. Sựtrùngkhớp 1–5 giữa Khmer và Việt cóthể chỉlà tàndư của một mốiquanhệ tiền‑lịchsử, nếucó, trướckhi người Kinh tiếnxuống NamViệt. Đồngthời, các diễngiải tỏra hợplý khi giảđịnh rằng các sốđếm Việt từ 6 trở lên là vaymượn Hán, dunhập vào tiếng Annam cổ trong thời Bắcthuộc.

Dùsao, không gì thayđổi được sựthật rằng 90–95% từvựng tiếngViệt là Hán‑Việt. Đólà điểm trọngtâm của nghiêncứu này.

Kếtluận

Sốđếm cơbản, lâunay đượcxemlà đặcđiểm của ditruyền và thừakế, lại chothấy sựthiếuhụt của hệngũphân trong phạmtrù sốđếm Môn‑Khmer. Dođó sốđếm Việt tỏra phùhợphơn với từnguyên Tạng‑Miến, củngcố lậpluận rằng tiếngViệt khôngphải là một thựcthể NamÁ, mà thuộc một tiếntrình thànhhình ngữngôn liêntục đa‑ngữchi baogồm cả Tạng-Miến thuộc ngữhệ Hán-Tạng.

Sáchthamkhảo

Alves, Mark J. 2024. “An Updated Overview of the Austroasiatic Components of Vietnamese.” Languages 9(12).

Benedict, Paul K. 1972. Sino‑Tibetan: A Conspectus. Cambridge University Press.

Campbell, Lyle. 2013. Historical Linguistics: An Introduction. Edinburgh University Press.

Chen, Shu‑Fen. 2003. “Vowel Length in Middle Chinese Based on Buddhist Sanskrit Transliterations.” Language and Linguistics 4(1): 29–45.

Haspelmath, Martin. 2005. “Comparative Linguistics and the Problem of Spurious Similarities.” Linguistic Typology 9(1).

Haudricourt, André‑Georges. 1954a. “L’origine des tons en vietnamien.” Journal Asiatique 242: 69–82.

Haudricourt, André‑Georges. 1954b. “Problèmes de phonétique diachronique: la nasalisation vocalique en vietnamien.” Bulletin de la Société de Linguistique de Paris 49.

Maspero, Henri. 1912. Études sur la phonétique historique de la langue annamite. Les initiales. Paris: Imprimerie Nationale.

Matisoff, James A. 1991. “The Numeral System of Proto‑Tibeto‑Burman.” Linguistics of the Tibeto‑Burman Area 14(2).

Matisoff, James A. 2003. Handbook of Proto‑Tibeto‑Burman. University of California Press.

Mei, Tsu‑lin. 1970. “Tones and Prosody in Middle Chinese and the Origin of the Rising Tone.” Harvard Journal of Asiatic Studies 30(1): 86–110.

Pulleyblank, Edwin G. 1984. Middle Chinese: A Study in Historical Phonology. Vancouver: University of British Columbia Press.

Sa, Quoc Hoang. 2025. “Study on the Understanding and Use of Sino‑Vietnamese Words: Perspectives from Secondary School Students in Ho Chi Minh City.” Spring Journal of Arts, Humanities and Social Sciences 4(5).

Sagart, Laurent. 1995. “The Roots of Old Chinese Numerals.” Cahiers de Linguistique Asie Orientale 24(2).

Shafer, Robert. 1966–1974. Introduction to Sino‑Tibetan. Wiesbaden: Otto Harrassowitz.

Sidwell, Paul. 2015. “Austroasiatic Dataset for Phylogenetic Analysis: 2015 Version.” Mon–Khmer Studies 44. Mahidol University / SIL International.

Thomas, David D. 1960. “Basic Vocabulary in Some Mon–Khmer Languages.” Mon–Khmer Studies.

Thurgood, Graham. 2002. “Vietnamese Numerals and Tonogenesis.” California State University, Chico.

CƯỚCCHÚ


(1)^ Một vídụ khác là Đạoluật Chuyểnđổi Hệđolường (Metric Conversion Act), được Quốchội Hoakỳ thôngqua năm 1975 nhằm thaythế hệthống đolường của Anh. Thếnhưng, ngay cả sau mốc thời gian 2015 dựkiến cho việc ápdụng hoàntoàn, nỗlực này dườngnhư đã tanbiến vào hưkhông. Điểm cần nhấnmạnh ởđây mang tínhẩndụ: conngười, ở một ýnghĩa thừakế nàođó, họ được “sinhra” với hệthống sốđếm đãđược mãhoá sẵn trong bảnthể. Mộtkhi đã ănsâu, hệthống ấy trởthành bảnnăng thứhai, khó cóthể thayđổi bằng ýchí chủđộng.

(2) ^NgườiViệt, khi đếm trong hệ thậpphân, thường cảmnhận các chữsố theo quanhệ cặpđôi, nhưthể tìmkiếm sựcânbằng ở tầng nhậnthức sâuhơn. Chẳnghạn, với cặp 雙 shuāng (HV ‘song’) và đôi 對 duì (HV ‘đối’), ta có các cáchnói như cócặp 有雙 yǒushuāng, songđôi 雙對 shuāngduì (HN ‘cóđôi’). Tươngtự, lưỡng 兩 liǎng (HN ‘lứa’) xuất hiện trong biếnthể lứađôi 咱倆 záliǎng. Các tổhợp mởrộng logic này: đôimươi (對 duì + 十 shí = 20), đôitám (對 duì + 八 bā = 16). Kháinệm trọnvẹn thểhiện qua chẵn 整 zhěng và sốchẵn 整數 zhěngshù.

Vượtkhỏi cấutrúc cặpđôi, mộtsố chữsố mang ýnghĩa “cáttường”, phảnánh cùng tưduy với truyềnthống Hán: số 6 mangýnghĩa là lộc 祿 lù sovới ‘lục’, 8 phát 發 fā sv. ‘bát’, 9 cửu 久 jiǔ sv. ‘cữu’, 10 thập 十 shí (HN chục) ‘trọnvẹn’, như trong thậptoàn 十全 shíquán, thậpmỹ 十美 shíměi.

Tráilại, số 4 bị xem là khôngmay vì gần âm với tửchết (死 sǐ). Toànbộ hệthống biểutượng vănhoá này đốinghịch rõrệt với hệngũphân pram của Môn‑Khmer, vốn phảnánh một địnhhướng nhậnthức khác.

Để thamchiếu lại, các dạng số Khmer hiệnđại từ 6 đến 9 và các tổhợp đếm tiếptheo chothấy sựkhácbiệt này:

  • 6: pram‑mùəy (năm + một)
  • 7: pram‑pì:(r) (năm + hai)
  • 8: pram‑bɤy (năm + ba)
  • 9: pram‑buən (năm + bốn)
  • 18: dɔp‑pram‑bɤy (mười + năm + ba)
  • 25: mphɯy‑pram (hai mươi + năm)
  • 56: ha:sɤp‑pram‑mùəy (năm mươi + năm + một)

và một số biếnthể khác hoàntoàn không liênquan đến các từdạng trong tiếngViệt, kể cả Khmer trungđại hay cổ.

Leave a Reply

Discover more from ziendan.com

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading