Đúnglà Một Âmmưu Làmsẵn

by dchph in collaboration with Copilot

Một tấm địađồ cổphong với chitiết phongphú môtả vùng miềnBắc, Sông Hồng, đất NamViệt, và Vịnh Bắcbộ. (CreAited by dchph with Jetpack)
Giảthuyết NamÁ–Môn-Khmer bị phêphán vì tính cứngnhắc phươngpháp và thiếucăncứ lịchsử. Các nhàlýthuyết Tâyphương thường ápđặt khung Ấn-Âu lên những ngônngữ ĐôngnamÁ mà khôngcó trìnhđộ thôngthạo tiếngViệt hay tiếngHán. Việc lýthuyết này phụthuộc vào các bảngtừ cơbản và những phép táidựng giảthuyết đã dẫnđến lốilậpluận vòngvo và phânloại sai. Từnguyên tiếngViệt, khi được khảosát bằng phươngpháp sosánh và phântích songtiết, chothấy mốiliênhệ chặtchẽ hơn với tầng Hán-Việt ảnhhưởng rộnglớn hơnnhiều sovới Môn-Khmer. Các vídụ gồm mẹ, mợ, mái, gàmẹ, gàmái, và cậumợ chẳnghạn, tấtcả đều cóthể truynguyên về một dạngcổ của từ mẹ (母 mǔ, HV mẫu) trong tiếngHán.
I) Đọcsai tiếngViệt: Ngônngữhọc Tâyphương và cáibẫy NamÁ
Tácgiả từlâu đã đặtnghivấn rằng giảthuyết NamÁ–Môn-Khmer được hìnhthành là do những người khôngcó trìnhđộ thôngthạo cả tiếngViệt lẫn tiếngHán, cũngnhư không nắmđược bốicảnh lịchsử của các cộngđồng ngônngữ tươngứng. Các lýthuyếtgia Tâyphương mới vàocuộc nầy, đặcbiệt trong thờikỳ hậu Cáchmạng Côngnghiệp, thường tìmkiếm những lốiđitắt qua phươngpháphọc – đặt toànbộ giảđịnh vào khung NamÁ mà họ đã dựnglên. Khi làm nhưvậy, họ thaotúng dữliệu để tạora những môhình phụtrợ nhằm gạtbỏ các lýthuyết trướcđó, bấtchấp sựviệc thiếu căncứ tưliệu lịchsử.
Những nỗlực này dựa nặng vào uytín của các quyước hànlâm Tâyphương, mặcdù sựhiểubiết về ngônngữ và lịchsử Trunghoa vẫn còn hếtsức hạnchế đốivới giới họcthuật Tâyphương chođếntận thếkỷ mườibảy. (Knud Lunbæk, 1986).
Sựsuyđoán của tácgiả bắtnguồn từ tínhcứngnhắc dễthấy của dữliệu lỗithời, các dạng trìnhbày thiếu linhhoạt, những lỗichínhtả thườngxuyên, sựtổngquanhoá những mẫutừ nhỏ, và ưa lặplại các từ mẫu, chúng thiếu tính tinhvi của ngônngữ vốncó trong từvựng của tiếngnói mà họ nghiêncứu.
Bảng 1 – Thếnào mới đượcxemlà bằngchứng?
| Phươngpháp | Thídụ | Mứcđộ tincậy |
|---|---|---|
| Táidựng phụcnguyên | \ba* (gốc Môn‑Khmer giảđịnh) | Thấp – gỉảthuyết |
| Từđồngnguyên có tưliệu | mẹ, mái, mợ với đốichiếu Háncổ | Cao – xácthực |
| Tiếntrình biếnđổi thanhđiệu | mẹ ↔ OC *mɯʔ | Trungbình – cần bốicảnh lịchsử |
| Từvựng dângian | gàmẹ, gàmái, cậumợ | Cao – vănhóa bámrễ |
Khi ngônngữ biếnđổi theo thờigian, những chuyểndịch ngữnghĩa thường làmmờ các mốiliênhệ nguyênthuỷ. Vấnđề này gợilại phépẩndụ quenthuộc về thế tiếnthoáilưỡngnan kiểu “congà hay quảtrứng, cáinào có trước?”, mặcdù trong trườnghợp nầy, câuhỏi khôngphải là thứnào cótrước, mà là dạngnào xuấthiện trước: gà, mái, trống hay cồ. Chẳnghạn, 口 kǒu với nghĩa “mồm” cótrước 吻 wěn, vốn từng cũng chỉ “mồm”, nhưng về sau chuyểndịch thành “hôn”, tươngứng với tiếngViệt “hôn” hay “hun” trong trườngnghĩa nầy. Trong tiếng Háncổ, ngườita đồng chấpnhận rằng 土 tǔ (HN “đất”) cótrước 地 dì (HV “địa”), và 口 kǒu (HV khẩu, HN “cửa, lỗmở”) cótrước 吻 wěn (HV hôn, HN “mồm”, “miệng”). Chúng là những tiềnđề mà bấtkỳ chuyêngia Hán-Tạng nào củng cóthể xácđịnh dứtkhoát rằng các từ tiếngViệt tươngứng – “đất” sovới 土 tǔ, “cửa” sovới 口 kǒu, hay “mồm” sovới 吻 wěn – cáinào xuấthiện trước phải rõràng trướcđã trong lịchsử pháttriển riêng của chúng rồi mới chọn bướcđi tiếptheo.
Nếu ngaycả các họcgiả Hán-Tạng nếumà cũng khôngthể xáclập dứtkhoát hướng chuyểnhoá diễntiến của những khuônmẫu thayđổi biếnâm ngônngữ thenchốt, thì những khẳngđịnh rờirạc của các lýthuyếtgia NamÁ về tính “nguyênthuỷ” lại càng trởnên mongmanh. Điềuấy nêubật một nguyêntắc rộnghơn: mọi thuyết về quanhệ ditruyền ngônngữ đều chỉ cógiátrị tạmthời, luôn mởngỏ cho sựđiềuchỉnh khi tưliệu mới xuấthiện. Giảthuyết NamÁ rấtlà bị hạnchế bởi sự thiếuvắng tưliệu lịchsử để chứngthực. Nó phụthuộc nặng vào các dạng phụcnguyên và những tươngứng từvựng chỉbằng giảthiết, vìthế lýthuyết NamÁ này cầnđược tiếpcận bằng sựthậntrọng thayvì chấpnhận vôđiềukiện.
II) Thuyếtâmmưu Môn‑Khmer: vượtquá giớihạn đã hơn một thếkỷ
Hãy tạm dừngchân ởđây và dùng một phépẩndụ để hìnhdung bứctranh phânloại ngônngữ rộnghơn. Hãy tưởngtượng thuyết Môn‑Khmer như một mẻ cá đầutiên mới đánhbắt được bỏ vào một cái rổ lớn hơn, trongđó còncó các loài NamÁ, BáchViệt, Tháicổ và Hán-Tạng. Trongsốấy, các loài Hán-Tạng và Thái-Việtcổ được lướibắt với sốlượng lớnhơnnhiều sovới các loài cá khác, cóđủ các tưliệu Háncổ lịchsử như chữ tượnghình khắc trên giápcốtvăn – mairùa dùng để bóitoán – và minhvăn khắc trên đỉnhđồng ghilại từng mẻ cá được lướibắt. Những tưliệu này thuộc đúng thờigian mà ta đang khảosát, vẫn kháchơn với tính huyềnảo trừutượng của các bàitụng bằng tiếng Pali hay Phạn, vốn lơlửng không bámvào bấtkỳ nềntảng lịchsử cụthể nào. Đángchúý, các họcgiả Tâytạng đã ghichép rấtkỹ về những truyềnthống ấy.
Theo quanđiểm của tácgiả, cùngvới các ngônngữ Bodic (Tạngcổ), những hìnhthức ngônngữ sớmnhất gồm Taic (Tháicổ), rồi đến Daic (Tày-Nùng) và sựphânnhánh Yue (BáchViệt). Mỗi nhánh tạora những dòng pháttriển đứng nganghàng với ngữhệ Hán-Tạng, là ngữtộc vốn sinhra các ngữchi thuộc Hán. Chúng cóthể được xếp songhành với cả Tạng và Yue.
Trong diễnngôn hiệnđại, giảthuyết NamÁ cố gộp toànbộ phổhệ này, tự đặtmình thành một đốitrọng với khung Hán-Tạng, đặcbiệt khi bànvề phânđoạn Vietic (tiếngViệt cổđại). Trongkhi Tháicổ sinhra Yue, và dạngthức mà ta ngàynay gọilà Hán‑Việt, và nếu ta baogồm ngaycả các ngônngữ gọilà NamÁ chịem, thì cáchhiểu Tâyphương hiệnđại lại diễngiải dòngdõi ấy theo một hìnhthức khác, táchkhỏi thuyết Yue (BáchViệt). Têngọi Yue (越 /Jyet/), được chép bằng nhiều chữ đồngâm trong sửthư Trunghoa, phảnánh sự phứctạp lịchsử ấy.
Khi khảosát dòng didân từ Hoanam xuống bánđảo Đôngdương, thuyết Hán-Tạng đưara một giảithích từnguyên thuyếtphục với hơn 400 từ cơbản chung giữa tiếngViệt và tiếngHán, như đã được ghichép trong cuộc khảosát vào một nghiêncứu chuyênđề khác của tácgiả. Tuynhiên, đitheo hướng Hán-Tạng đòihỏi phải xửlý một kho tưliệu Hán cổ rộnglớn, nhiều phần viếtbằng vănthể cổ và vănngôn, mà nghiêncứu này đã chủđộng tiếpcận.
Điềunày khôngphải là chuyện “lấy cá lớn bỏ cá nhỏ”. Ta khôngthể phủnhận sựhiệndiện của những đồngnguyên NamÁ Môn‑Khmer thiếtyếu, dù hiếmhoi nhưng có tínhnềntảng, vẫn xuấthiện trong các vùng ngônngữ lâncận, như hệthống sốđếm từ một đến năm chẳnghạn. Giảthiết NamÁ khởiđầu bằngviệc giảđịnh các liênhệ với ngônngữ Munda ở bờbiển Ấnđộ, rồi những người khởixướng mởrộng phạmvi sang phía đông và thuđược một mẻ cá nhỏ gồm các từnguyên liênquan đến Munda (xem Nhậndiện Sựkhácbiệt giữa Từvựng tiếngViệt và Môn‑Khmer).
Tổngkết lại và để chuẩnbị cho phần tiếptheo, dù là NamÁ, Tháicổ hay Hán, cóthể nói mộtcách hợplý rằng các thựcthể Yue đã xuấthiện trước, rồi từđó các nhánh khác lầnlượt hìnhthành.
Bảng 2 – Chuyệntranhcãi hay ‘Âmmưu NamÁ’? Một trườnghợp phủnhận thựcthể BáchViệt (Yue)
Nếunhư thuyết NamÁ được xâydựng trên giảđịnh rằng các nhóm bảnđịa Môn‑Khmer – chứ khôngphải cưdân Daic (Tày-Nùng) – là những sắcdân cưtrú sớmnhất tại lưuvực Sông Hồng, thì từđó sẽ kéotheo kếtluận rằng vùng này đóngvai trò như chiếc nôi Đôngdương cho các pháttriển vănhóa và ngônngữ vềsau. Theo cáchnhìn ấy, các cộngđồng NamÁ đã hiệndiện trướckhi những nhóm didân Yue‑Daic (BáchViệt-Tày) đặtchân tới, và sựxuấthiện muộn vềsau của Yue‑Daic chỉ là một giảđịnh sai. Giảđịnh này mâuthuẫn với một phổrộng có tưliệu lịchsử và khảocổ minhchứng.
Các lýthuyếtgia phươngtây thường phớtlờ sựđónggóp của thựcthể BáchViệt, dựnglên những khungphânloại mới mà khônghề tiếpcận tưliệu sẵncó. Khi làm nhưvậy, họ đã bỏqua hàng thếkỷ tưliệu thànhvăn, kểcả những nguồn đã gây khókhăn cho giới họcthuật Trunghoa từ thếkỷ mườibảy.
Thuyết này còn chorằng những nhóm táiđịnhcư vềsau đã hoàtrộn với các cộngđồng bảnđịa – được nhậndiện là NamÁ dựatrên giảđịnh Môn‑Khmer – vốnđã lanrộng khắp ĐôngnamÁ.
Những đợtsóng Yue‑Daic muộnmàng hơn từ vùng tâynam, kể cả Hạ-Lào, đã đổvề, rồi tiếptheo là các nhóm Hán-BáchViệt từ Hoanam trànxuống. Chính trong giaiđoạn này, cấutrúc ngônngữ mà ta nay gọilà họ NamÁ bắtđầu hìnhthành, rồi lanrộng xuống các vùng nam và tây của bánđảo Đôngdương.
Các từnguyên Hán‑Tạng của lớp từcơbản tiếngViệt phầnlớn bị phớtlờ khi các lýthuyếtgia NamÁ củngcố đồngthuận về nguồngốc tiếngViệt. Họ cho rằng tiếngViệt được nói mộtcách thuầnnhất trong cộngđồng và phátxuất từ một tậphợp đồngnguyên có nềntảng Môn‑Khmer. Những từnguyên này được họ trìnhbày như bằngchứng dứtkhoát và đángtin về ảnhhưởng NamÁ trong việc địnhhình diệnmạo ngônngữ tiếngViệt. Làmnhưvậy, nghĩalà chỉ đơnthuần dựa vào phươngpháphọc hìnhthức, họ tránhđược phải họchỏi thêm tiếngHán cổđại gaigốc!
Giảthiết NamÁ, trênthựctế, cóthể đãđược sửdụng như những mảnhvá bổsung vềsau để lấpđầy mọi khehở mà các yếutố Hánngữ vẫncòn ẩngiấu và chưađược nhậnra giữa những cụm ngônngữ rảirác liênlụcđịa trong khoảng thời gian chừng 6.000–10.000 năm trước (một ướctính tươngtự cũng cóthể đạtđược với tỉlệ tốithiểu các từcăn cơbản theo phéptính ‘lịchđại-ngônngữ’ – glottochronology). Việc nhìnthấy các yếutố Ấnđộ trong tiếng Khmer và Chăm — ở dạng các từgốc tiếng Phạn hay Pali cổ — là điều dễhiểu, vì hai cộngđồng này từng chịu ảnhhưởng mạnh của Phậtgiáo và Ấnđộgiáo; nhưng những yếutố ấy lại tỏra xalạ trong tiếngViệt, ngoạitrừ vài âmthức quenthuộc trong các câu kinhPhật như “MôPhật”, dạng rútgọn của “Nammô AdiđàPhật” (“Namo Amitabha”), vốn mang sắcthái bảnđịahoá rấtmạnh.
Nhữnggì ta quansát được ngàynay như hiệntrạng phânloại ngônngữ tiếngViệt là kếtquả của một hànhtrình dài các giảthuyết cạnhtranh. Chúng hoặc nhằm (1) phủđịnh các lýthuyết hiện đãcó về nguồngốc NamÁ Môn-Khmer hay Tạng-Miến từ các lập trường đối nghịch — chẳng hạn, các cơquan chínhthức của Trungquốc xếp tiếng Quảngd8ông, một ngônngữ BáchViệt, vào ngữhệ Tạng-Miến dựatrên hệthống từcăn Hánngữ của nó—hoặc (2) xâydựng những khung lýthuyết mới trên cùng nềntảng giảđịnh, tậndụng các phươngpháp hiệnđại. Một vídụ là giảthuyết ‘Nam-Thái’ của Benedict (1975), vốn dựatrên những tiềnđề tươngtự mô hình NamÁ Môn-Khmer.
Để đáplại các thuyết trước đó, những người theo NamÁ đưara quanđiểm rằng cưdân bảnđịa — vềsau được gán nhãn Môn-Khmer — mớilà những cưdân nguyênthuỷ của vùng châuthổ Sông Hồng, chứ khôngphải những nhóm táiđịnhcư Việt-Tày. Theo mô hình này, các đợt dicư tiếptheo trong thời Bắcthuộc đã đưa đến những người nói tiếng Tai-Kadai (Tày-Nùng) từ vùng Hạ-Lào ngàynay và các nhóm hợpchủng Hán–Việt từ Hoanam. Những nhóm đến saunày hoàtrộn với cưdân bảnđịa, tạothành các cộngđồng dâncư-ngônngữ mới rồi dần lantoả khắp vùng ĐôngnamÁ.
Từ lớpnền Môn-Khmer đó, ngữhệ NamÁ của nó đượccholà đã hìnhthành và mởrộng lên phíabắc và phíatây trên bánđảo Đôngdương. Người Môn-Khmer đượcxemnhư đã truyềntải các lớp từvựng cơbản cho cưdân địaphương, kểcả những nhóm nói các dạng Việtcổ (Vietic) như ngườiMường. Ngaycả khi các từđồngnguyên giữa tiếngViệt và tiếng Khmer hiệnđại được nhậndiện, các họcgiả NamÁ vẫn tiếptục khẳngđịnh rằng tiếngViệt có gốc Môn-Khmer (xem Nguyễn Ngọc San, 1993).
Tuy nhiên, các nghiêncứu ditruyềnhọc do các viện DNA tại ViệtNam thựchiện lại làm phứctạp thêm bứctranh này. Các kếtquả gầnđây chothấy người Việt, Thái, Tày, Dao, H’Mông, Môn, Khmer và cưdân Hoanam chiasẻ nhiều ấnchỉ ditruyền tươngđồng, gợiý chothấy một nềntảng dânngôn đanxen hơnnhiều sovới những nhậnthức trướcđây.
Vềmặt xãhội và họcthuật, nhiều người có xuhướng đitheo quanđiểm đang thịnhhành, nhấtlà khi chúng được củngcố bởi các thiếtchế chínhthống đồsộ. Với người mới bướcvào lĩnhvực này, việc chấpnhận phânloại NamÁ Môn-Khmer cho tiếngViệt thường dễdàng hơn, vì nó đã trởthành mộttrongnhững thuyết chiếmưuthế trong phânloại ngônngữ học ditruyền. Thếnhưng, vềmặt ngônngữ, chính các ngônngữ NamÁ được giảđịnh đó, như đã nêura, lại pháttriển từ một nguồn gốc Tháicổ–BáchViệt (Taic–Yue) chung, vốn cũng sinhra các ngônngữ BáchViệt tại Hoanam. Dòng Thái–Việt cổ này cóthể kéodài đến cả Tai-Kadai (Tày-Nùng), thậmchí đến các ngữchi Namđảo và Polynesia, tấtcả đềuđược xemlà các phânchi của ngữhệ Tháicổ rộnglớn.
Trong quátrình xâydựng giả thuyết Môn-Khmer, các họcgiả NamÁ đã ápdụng phươngpháp Ấn-Âu vào tiếngViệt mà không thựcsự đặt nó vào bốicảnh lịchsử–vănhoá của chính nó. Như thấy trong Les Langues du Monde của A. Meillet và Marcel Cohen (1952), nỗlực đặt Môn-Khmer làm họ ngônngữ nềntảng không đòihỏi sựamhiểu sâusắc về truyềnthống ngônngữ Việt hay Hán. Để minhhọa sự ápđặt phươngpháp này, hãy xét một tìnhhuống giảđịnh trong rừng Amazon sauđây.
Hãy tưởngtượng các nhàngônngữ phươngTây điđến khảosát hai bộ tộc Amazon xaxôi rừngrú nhằm xácđịnh quanhệ các ngônngữ của họ. Ápdụng cùng lối tưduy từng đượcdùng để táiđịnh khung nguồngốc tiếngViệt, họ tiếpcận nhiệmvụ với ítnhiều tâmthế của thựcdân thếkỷ XIX. Khi pháthiện người ở làng B có vài từ cơbản giống với làng A — vốn đãđược khảosát từ trước — họ tiếnhành phânloại mà không xétđến bốicảnh lịchsử của nhómdân vùng này. Thayvì tìmhiểu các mốiliênhệ vănhoá hay huyếtthống sâuxa, họ chọn lốitắt vềmặt họcthuật: họ tạora một nhãn gọi là “Gốc A” và xếp cả hai ngônngữ vào danhxưng họ mới đặtra đó, giảđịnh rằng chính các bộtộc khôngbiếtgì về nguồngốc ngônngữ của mình, và nhãn ápđặt từ bênngoài sẽ trởthành điều được chấpnhận. Bằngcáchđó, họ loạibỏ cộngđồng họcthuật bảnđịa khỏi tiếntrình phânloại và ápđặt một khung lýthuyết được hìnhthành từ giảđịnh bênngoài hơnlà thựctế sốngđộng.
Cáchlàm này phảnchiếu phươngpháp của các họcgiả và giáosĩ phươngTây ở Annam thếkỷ XVIII. Đốidiện với sựphứctạp của chữ Nôm dựatrên Hán tự, họ bỏqua Hánngữ hoàntoàn và tạora một hệ chữ Latinh cho tiếngViệt. Hệthống này, kèmtheo ngữpháp riêng, được thiết kế cho đạibộphận dânchúng mùchữ và phụcvụ mụctiêu truyềngiáo. Họ tinrằng mình đã giảiquyết được một vấnđề nghìnnăm mà giới nhosĩ Annam khônglàmđược — khác với người Triềutiên và Nhậtbản, những dântộc đã sángtạo thànhcông hệthống kýhiệu ngữâm bổtrợ cho Hántự. Thựcchất, tưduy ngônngữ–vănhoá Việtnam đãlâu bị địnhhình trong khuônkhổ cứng của truyềnthống Hánhọc, vốn baotrùm mọi phươngdiện vănhoá.
Cần nhớrằng những nỗlực Latinhhoá tươngtự tại Trungquốc cuốicùng đều thấtbại. Các giáosĩ phươngTây vấpphải sựphảnkháng mạnhmẽ, cộngthêm tỉlệ mùchữ cao và các chuẩnmực vănhoá đã ănsâu. Sựthấtbại đó chothấy giớihạn của sựcanthiệp phươngTây vào các hệthống ngônngữ có nềntảng sâudày. Ngượclại, việc Latinhhoá tiếngViệt thànhcông thậtsự là nhờ sựhậuthuẫn của chínhquyền thựcdân Pháp, vốnđã thểchếhoá hệ chữ mới gọilà Quốcngữ.
Trong trườnghợp Annam, hệthống chữ Quốcngữ được ápđặt thànhcông, vượtqua cả sựphứctạp của chữ Nôm và Hán vốncó khiến đạichúng mùchữ. Tuynhiên, đó khôngphảilà một tiếnhoá ngônngữ tựnhiên; đó là một lốitắt mang tínhthuộcđịa. Trớtrêu thay, kếtquả Latinhhoá thànhtựu tại Việtnam lại mang tínhbiếnđổi sâurộng hơncả Trungquốc, dù nước này có lịchsử tiếpxúc với giáosĩ phươngTây lâuhơn.
Phânloại NamÁ Môn-Khmer, trongkhiđó, xuấthiện như một cấutrúc kỹthuật vào đầu thếkỷ trước. Các họcgiả phươngTây, phầnlớn không thạo Hánngữ, đã đặtra thuậtngữ này với dụngý chiếnlược. “Austro-” đượcdùng đểchỉ “phíanam”, còn “Asiatic” nhằm gợi phạmvi lụcđịa. Nhờvậy, họ cóthể dựngnên một ngữhệ ngônngữ đượccholà bắtnguồn từ vùng nam châuÁ, baogồm cả Hoanam, táchbiệt khỏi phươngbắc.
Bằngcáchđó, họ tạora một giảthuyết baotrùm gầnnhư mọi ngônngữ ở ĐôngnamÁ và Hoanam, việndẫn các gốctừ chung, thậmchí chorằng tiếngHán vaymượn từ các nguồn này. Trong tiếntrình ấy, họ nétránh vaitrò lịchsử của ảnhhưởng Hánngữ và thậmchí gạtbỏ các thuậtngữ tiền Hán như “Sino-” hay “Sinitic” như những nhãn mang độngcơ chínhtrị, nhấtlà trong phânloại tiếng Quảngđông và Phúckiến vào họ Tạng-Miến.
Chiếnlược này, giốngnhư trườnghợp giảđịnh về các ngônngữ bộtộc Amazon, phảnánh một môthức rộnghơn trong lýthuyết ngônngữ phươngTây: ưutiên sự tiệnlợi và gọngàng kháiniệm hơnlà chiềusâu lịchsử và đặcthù vănhoá.
Trong thếgiới thực, các lýthuyết ngônngữ — cũngnhư chính các ngônngữ — luôn biếnđổi. Tính bấtđịnh của chúng phảnánh sựnăngđộng của cộngđồng ngônngữ và các côngcụ nghiêncứu đang tiếnhoá. Chẳnghạn, tiếng Choang và các ngônngữ Tày-Nùng từng được xếp trựctiếp vào họ Tạng-Miến như các phươngngữ Hán khác, trướckhi được chuyểnsang họ Tai-Kadai. Sựtáiphânloại này chothấy tínhtạmthời của phânloại ngônngữ, nhấtlà khi sovới sựổnđịnh tươngđối của các ngành khoahọc tựnhiên.
Giảthuyết NamÁ cũngvậy, vẫnchưa ngãngũ. Chođếnkhi mọi vấnđề nềntảng được giảiquyết, nó phải đượcxem như một môhình làmviệc, chứ khôngphải một lờigiải cuốicùng. Điềunày tráingược với khung Ấn-Âu, vốn đã đạtđược đồngthuận rộngrãi và đểlại một disản côngcụ phântích vữngchắc dùng để truynguyên các ngônngữ như Pali, Phạn, Hylạp, Latinh, Germanic, Baltic và Gaulish.
III) Điềuchỉnh các luậnđiểm NamÁ: địnhdanh vịtrí và sơđồ lồngghép
Trong trườnghợp nghiêncứu Hán‑Việt của chúngta, mụctiêu banđầu là táiphânloại tiếngViệt vào đúng phânchi ngữhệ của nó, như chính lịchsử và dòngdõi ngônngữ của nó gợiý. Để đạtđược điềunày, đồngthuận họcthuật cần thừanhận sựtồntại của một họ ngônngữ BáchViệt cổ, một họ cóthể kiểmchứng qua sửliệu. Dạng ngữâm cổ phụcnguyên là “Jyet” hoặc “Bjyet”, được nhậnbiết trong thuậtngữ Quanthoại hiệnđại là “Yue”, xuấthiện trong các nguồn cổ như tựđiển Nhĩnhã (爾雅), vốn đượcdùng trong giaotiếp ngoạigiao thời Xuânthu. Điềunày càng được củngcố bởi tínhliêntục của các phươngngữ Yue‑Hán lớn — Quảngđông, Phúckiến và Ngô (thídụ, tiếng Thượnghải hay Ônchâu) — mà các đặcđiểm ngônngữ của chúng nâng các phươngngữ Việtic cổ lên cùng một nguồngốc BáchViệt.
Vềmặt lịchsử, tiếng Choang và các ngônngữ Daic, nay được xếpvào ngữhệ Tai‑Kadai (còn gọilà Krai‑Dai) tứclà Tày-Nùng, từng được các họcgiả phươngTây gộpvào khung Tạng‑Miến. Cơchế họcthuật nhànước Trungquốc về sau táiphânloại chúng thành các ngữchi riêng, nhưng vẫn đặt dưới chiếc ô Tạng‑Miến rộnghơn. Cùng một mụcđích đó, việc chúngta việndẫn QuảngĐông, Phúckiến và Ngô vào trong quytrình truytầm từnguyên ởđây là một nỗlực có chủđích nhằm biệnminh cho việc táixếp tiếngViệt vào cùng phânchi ngônngữ, phùhợp với các ngônngữ được giới họcthuật TrungQuốc chínhthức thừanhận là thuộc nhánh Hánngữ.
Trong cuộctranhđấu hiệnđại về chânlý ngônngữ, bộmáy thôngtin của Trungquốc tíchcực biênsoạn và phảnbiênsoạn nộidung kỹthuậtsố trên các nềntảng như Wikipedia, Youtube, và cả Facebook —dù những mạngxãhội này khôngthể truycậpđược tại Hoalục — vượtra ngoài phạmvi kiểmsoát nộiđịa, địnhhình nhậnthức côngchúng quốctế bằng các tườngthuật được biêntập cẩntrọng. Các nhà ngônngữ lịchsử cũng phải thừanhận lựclượng Hánhoá liêntục đã phủ các siêutầng Hánngữ lên các lớp hạtầng BáchViệt chodù những yếutố bảnđịa vẫncòn nằm dưới bềmặt, thídụ như các phươngngữ phươngnam mà điểnhình là tiếng Quảng, Tiều, nghĩalà họ xếp chúng vào ngữhệ Hán-Tạng mặcdù tínhchất của những ngônngữ là hoàntoàn bị Hánhoá.
Đây khôngphải là một quákhứ xaxôi hay giảđịnh. Bằngchứng từ các vănbản cổ, kểcả Nhĩnhã, xácnhận rằng các yếutố ngônngữ BáchViệt cótrước nhiều dạng Háncổ, những dạng vềsau trởthành nềntảng của các phươngngữ Hán (xem De Lacouperie, 1965). Những yếu tố này giữ vịtrí trungtâm trongviệc tìmhiểu tiếntrình hìnhthành cảnhquan ngônngữ của khuvực.
Để điềuhoà căngthẳng giữa môhình Tạng‑Miến và NamÁ, khung BáchViệt‑Hán (Yue-Han) của chúngta ápdụng cùng các phươngpháp họcthuật khác mà các họcgiả NamÁ phươngTây từng sửdụng. Thayvì lặplại các môhình Tạng‑Miến cũ, chúngta xáclập BáchViệt như một lớpnền, tíchhợp các từcăn Tạng‑Miến xuất hiện trong nhiều phươngngữ khácnhau, kểcả những dạng bị bỏqua như Quanthoại Đôngbắc muộnmàng. Các biếnđổi ngữa6n và chuyểnnghĩa như từ thídụ 順路 shùnlù (=HN thuậnlối) so với 順道 shùndào (=HN thuậnđường), đều cónghĩa “tiệnđường”, minhhoạ các độngthái từvựng tinhvi làm cơsở cho phântích này.
Sựsonghành của phươngpháp này chophép đàosâuhơn vào từnguyên tiếngViệt, sửdụng chính các cơchế và côngcụ mà các họcgiả NamÁ đã ápdụng cho các ngônngữ Môn‑Khmer. Thídụ nhiều từ Háncổ có nguồngốc Tạng‑Miến vẫncòn tiềmnăng được bảotồn trong vănbản cổ và các lớp trầmtích khảocổ, tồntại đãlâu trướckhi thuyết NamÁ Môn‑Khmer xuấthiện, chothấy sựtiếpxúc Việt‑Khmer xảyra vào thời Trungđại.
Một sựthật lịchsử là ngườiViệt dicư xuống các vùngđất từng do người Chăm cưtrú — thuộc họ Namđảo Malayo‑Polynesia — chỉ bắtđầu táiđịnhcư sau thếkỷ XVII. Sựtiếpxúc của họ với người nói Môn‑Khmer chỉ kéodài dưới 380 năm, một khoảng thờigian rấtngắn trong thangđo ngônngữ. TiếngViệt Trungđại khôngphải là ngônngữ bảnđịa của các vùng này; nó đitheo những đợt didân muộnhơn, ngượcdòng Mêkông vào các khuvực như hồ Tonle Sap ở Campuchia. Sosánh mà nói, các luậnđiểm NamÁ giốngvới những tuyênbố vănhoá của mộtsố nhàkhảocổ ViệtNam khi gán các hiệnvật của vănhoá Sahuỳnh và Óc-Eo cho tổtiên ngườiViệt — những tuyênbố thường bị phêphán vì độ suyđoán quámức — phảnánh một xuhướng rộnghơn muốn gắn căntính dân ộc vào disản vậtchất và ngônngữ, bấtchấp tính tinhvi của lịchsử.
Thậtlà máymóc và nhạtnhẽo khi chỉ tríchdẫn và táitríchdẫn cùng một bộ từcăn NamÁ cũkỹ từ họcgiả này sang họcgiả khác, những từcăn mà nguồngốc của chúng được cungcấp bởi “các nhàngônngữ mùavụ của một khoáhè nàođó”. Những người thựcra không thựcsự biếtrõ các ngônngữ Môn‑Khmer đang được khảosát, và họ chủyếu dựavào các bảndịch do thổdân hoặc thôngdịchviên cungcấp — những bảndịch ngẫunhiên, không dựa trên trithức từnguyênhọc, thayvì các từđồngnguyên chânchính được xáclập bằng quytắc và côngthức ngônngữhọc. Nóicáchkhác, những người hướngdẫn địaphương vốn khôngphảilà những người có lợiích liênquan nên họ cólẽ không ýthứcđược tầmquantrọng của côngviệc mà vềsau để lại dấuấn lớn trong hồsơ ngônngữ lịchsử tiếngViệt.
Nhiều luậnđiểm ngônngữ trong phe NamÁ, đặcbiệt liênquan đến từnguyên tiếngViệt, dựatrên một tậphợp nhỏhẹp các từđồngnguyên cơbản giữa tiếngViệt và các ngônngữ Môn‑Khmer. Những bảng từvựng này, được tríchdẫn lặplại từ giữa thậpniên 1960, thường được trìnhbày như có cơsở phươngpháp, dù phạmvi rất hạnchế. Cụthể là họ khôngnên xâydựng một lýthuyết ngônngữ chắcbẳm chỉ bằngcách lặplại vài vídụ quenthuộc như sốđếm một đến năm, tên cácloài quả hoặc thựcvật địaphương, hay những mụctừ có tầnsuất thấp thuộc các thổngữ Môn‑Khmer vùngmiền.
Thúvị thay, những người mới vào ngành vẫn tiếptục lốimòn này, dùng các bảng mụctừ cũ làm bànđạp cho các diễngiải mới nhưng vẫn bị ràngbuộc bởi cùng một tiềnđề. Kếtquả là một phươngpháp nói lanhquanh: các bảngtừ được thuthập trong những chuyến điềndã ngắnhạn, được tàitrợ trong thời Chiếntranh ViệtNam ở vùng caonguyên, được táidùng và nângtầm mà khôngcó sự thẩmđịnh phêphán. Nhiều nhàngônngữ thamgia, cùngvới các hướngdẫn viên Môn‑Khmer, bánmùchữ trong chính các ngônngữ được khảosát. Vìvậy, vốntừ được tríchdẫn — nếu có giátrị — cólẽ chỉ phảnánh các dạng cổ hoặc vaymượn, mà tínhtoànvẹn ngữâm đã bị bàomòn từlâu.
Để vượtqua vấnđề disản này của sựphatrộn ngônngữ và các sailệch gầnđây, điều thiếtyếu là khuyếnkhích một thếhệ họcgiả mới, được đàotạo bàibản, thamgia vào ngônngữ học lịchsử Hán‑Việt. Điều này đòihỏi trướchết phải tháobỏ sựphânloại sai tiếngViệt như một ngônngữ NamÁ Môn‑Khmer. Bảnthân thuyết này có từ đầu thếkỷ XX và tồntại chủyếu nhờ quántính thểchế. Các nhànghiêncứu trẻ, bị ảnhhưởng bởi các thầycô gắnbó với khung NamÁ, thường mặcđịnh quayvề môhình Môn‑Khmer vì sự quenthuộc và tiệnlợi họcthuật banđầu.
IV) Phủnhận BáchViệt: viếtlại câuchuyện Sông Hồng
Hơn nữa, họ vẫn tiếptục dựadẫm vào những dữliệu lỗithời từ các chuyến điềndã banđầu — những côngtrình tuy có tínhtiênphong nhưng lại đầyrẫy khiếmkhuyết về phươngpháp. Nếu ta tạmgáclại sự cayđắng và mỉamai đôikhi đikèm các tranhluận lýthuyết, và nếu khôngcó những lợiích cốhữu cảntrở việc thẩmđịnh phêphán, thì ngaycả những nghiêncứu saisót trong quákhứ cũng cóthể trởthành những bậcthềm hữuích dẫnđến các độtphá có ýnghĩa.
Bảng 3 – Tínhliêntục của dòng BáchViệt
| Vùng | Phươngngữ tiêubiểu | Đặctrưng chung | Hướng lantruyền |
|---|---|---|---|
| Vùnglõi | QuảngĐông, PhúcKiến, TriềuChâu, Hẹ | Thanhđiệu, đaâmtiết, tầngnghĩa chồnglớp | Khởinguồn từ Lĩnhnam |
| Vùngven | Việtnam, Choang (Nùng), Bìnhthoại (Thổngữ Quảngtây gần tiếngQuảng) | Hộinhập bộphận với các đặctrưng BáchViệt | Mởrộng về phía châuthổ Sông Hồng |
Khi chúngta chuẩnbị táikhởiđộng một phươngpháp Tạng‑Miến theo hướng thuậttoánhọc để khảosát từnguyên tiếngViệt, điềuquantrọng là khẳngđịnh rằng vẫncòn rấtnhiều khônggian cho sự tựdo diễngiải trong cảhai lậptrường. Dù nghiêngvề hướng điềndã NamÁ hay đặt niềmtin vào các hướngdẫnviên Môn‑Khmer, thì nănglực ngônngữ phảiđược đặt lên hàngđầu. Lýtưởngnhất là những hướngdẫnviên này phảilà người Khmer bảnngữ được đàotạo chínhquy, thôngthạo cả tiếngViệt lẫn một ngônngữ Môn‑Khmer. Tốthơnnữa là những người từng có kinhnghiệm cộngtác, quenthuộc với nhiều phươngngữ Môn‑Khmer khácnhau, đồngthời có trìnhđộ vữngvàng về tiếngHán — đặcbiệt là tiếngHán cổ.
Tiêuchuẩn saucùng này trởnên thenchốt khi sosánh các bảng từ Môn‑Khmer với những dạng Háncổ cóthể đọcđược mộtcách xácthực, vốnđã tồntại trong tiếngViệt suốt hàngnghìn năm. Chẳnghạn, hệ canchi mườihai congiáp mà người Khmer cũngcó. Thuậtngữ tiếngViệt “nămMèo” tươngứng với 卯年 Mǎonián, rõràng chỉ “NămMèo”, chứ không phải “NămThỏ” như cáchdịch máymóc từ tiếngHán. Những vídụ nhưvậy nhấnmạnh nhucầu về sựnghiêmtúc của ngành ngữnguyênhọc và việc đốichiếu chặtchẽ với các nguồn Hánvăn cổ.
Từnguyên học? Hãy nghĩ nhưthếnày: biết láixe khôngcónghĩalà hiểuđược cơchế vậnhành của độngcơ. Tươngtự, quenthuộc với tiếngAnh hay tiếngPháp khôngđủđể phátbiểu mộtcáchcóthẩmquyền về tiếnhoá cấutrúc của các ngônngữ ấy. Trong lĩnhvực từnguyên Hán‑Việt, một phântích có ýnghĩa đòihỏi nhànghiêncứu phải thôngthạo ítnhất hai ngônngữ đang được khảosát. Khảnăng sửdụng ngônngữ ở bềmặt là khôngđủ; sựsochiếu nghiêmtúc đòihỏi trìnhđộ ngônngữ sâu ở cảhai hệthống.
Những chuyêngia NamÁ Môn‑Khmer đầutiên biênsoạn các bảng từ đồngnguyên Việt–Môn‑Khmer thường thiếu cả độnhạy ngônngữ lẫn trìnhđộ chuyênsâu trong chính các ngônngữ họ khảosát. Việc thôngthạo các ngônngữ sống này — lýtưởng ở mức cậnkề bảnngữ — không chỉlà điều mongmuốn mà cònlà điều tấtyếu. Hơncả dịchthuật, điều cầnthiết là một “cảmgiác ngônngữ” chuyênsâu, một trựcgiác chophép nhậnra các cộnghưởng ngữnghĩa và ngữâm tinhvi mà chỉ những nhà ngônngữ lịchsử được huấnluyện mới có thể nhậnbiết.
“Cảmgiác ngônngữ” này đặcbiệt “bùngnổ” khi khảosát hàngnghìn từ đồngnguyên Hán‑Việt chỉ hiệndiện đốivới những người có trựcgiác ngônngữ sắcbén. Những “từ bùngnổ” này, khi hiệndiện trong tiếngViệt, khônghềcó môhình tươngứng trong các ngônngữ Môn‑Khmer. Chỉ một nhà ngônngữ lịchsử có nănglực mới cóthể lầntheo tiếnhoá ngữâm để làmrõ tầngnghĩa, thídụ, của 母 mǔ (HV mẫu, HN mẹ, mái, mợ), đáng chúý là “mợ” với nghĩa “mẹ” đã mởrộng ngữnghĩa đểchỉ cả “cậumợ” và thậmchí “chamẹ” trong mộtsố phươngngữ miềnBắc — trong các tổhợp như 繼母 jìmǔ (HV kếmẫu, HN “mẹkế”), 母雞 mǔjī (HV mẫukê, HN “gàmái”), 舅母 jìumǔ (HV cựumẫu, “(cậu)mợ”) — từđó sinh ra các biếnthể tiếngViệt như “mẹghẻ”/“mẹkế”, “gàmẹ”/“gàmái”, “cậumợ” và dạng rútgọn “mợ”.
Mỗi dạng tiếngViệt này đều cóthể truyvết về các dạng Háncổ, Hán Trungcổ, Hán hiệnđại hoặc các phươngngữ vùngmiền, hélộ một disản ngônngữ–vănhoá đatầng. Khôngcó ngônngữ Môn‑Khmer nào thểhiện độ tinhvi ngữnghĩa và độ cắmrễ vănhoá sâuxa đếnnhưvậy. Sựphânbiệt giữa mẫu, mẹ, mợ và mái phảnánh một sựtươngtác phứchợp giữa ngữâm, ngữnghĩa thânthuộc và truyềnthống vănhoá — một đặctrưng mang đậmtính ngữngôn Hán.
Hơnnữa, nhiều từ cơbản hiện được tríchdẫn nhưlà từđồngnguyên Môn‑Khmer–Việt cóthể khôngcòn đángtincậy. Dựatrên các pháthiện Tạng‑Miến mới sẽđược trìnhbày trong một nghiêncứu khác, mộtsố mụctừ từng đượccholà NamÁ nay lại chỉvề các gốcgác sâuhơn trong từnguyên Tạng‑Miến. Sựtáiđánhgiá này mởra nhucầu xemxét lại rộnghơn về phânloại tiếngViệt và các quanhệ lịchsử của nó. (Shafer, 1966 – 1974. See Vietnamese Parallels with the Sino-Tibetan Languages)
V) Từnguyên rờirạc chắpvá: xemxét lại các luậnđiểm Môn‑Khmer
Tácgiả cóthể tiếptục bànluận vôtận về từnguyên tiếngViệt trong quanhệ với tiếngHán, triểnkhai các tiếntrình pháttriển từvựng qua Háncổ và các phươngngữ của nó. Khôngphải vì ông là một nhà ngônngữ lịchsử được đàotạo chínhquy, cũng không vì ông tựnhận thôngthạo tiếng Khmer hay tiếng Háncổ. Thếnhưng, khi Henri Maspero (Les Langues du Monde, 1952, tr. 582–83) khẳngđịnh rằng các ngônngữ Môn‑Khmer tạo thành lớp hạtầng của tiếngViệt và rằng ngữpháp tiếngViệt phảnánh cấutrúc Thái và Môn‑Khmer, tácgiả lập tức nhậnra điểmyếu của mệnhđề ấy, và hiểuđược điều đã dẫn Maspero đến kếtluận đó: sự thiếuvắng một sựtiếpxúc sâusắc với thựctại ngônngữ Môn‑Khmer.
Với sự thôngthạo tiếngViệt và tiếngHán ở mức bảnngữ, cùng nềntảng họcthuật về ngônngữ lịchsử của cảhai, tácgiả nhậnthấy những điều mà nhiều chuyêngia Môn‑Khmer — kểcả những người có trìnhđộ tươngđương — đã bỏqua. Mộtmặt, họ cóthể phântích các yếutố riênglẻ và đềxuất các từđồngnguyên Môn‑Khmer cho các từ tiếngViệt. Mặtkhác, họ không nói tiếngViệt và tiếngHán bằng một “cảmgiác ngônngữ”, thứ trựcgiác mà những người bảnngữ có cănbản songngữ sởhữu, chophép họ nhậndiện từnguyên mộtcách chínhxác và thâmsâu.
Cụthể trong lĩnhvực ngônngữ lịchsử liênquan đến từnguyên Hán‑Việt, nhiều từ Hán‑Việt truyvề một từcăn duynhất nhưng lại sinhra nhiều biếnthể Hán khácnhau. Chúng cóthể xuấthiện dưới các dạng phânhoá, thídụ “quả” (fruit) là 果 guǒ sovới 菓 guǒ hoặc 顆 kē của “quảtim” của “contim” 顆心 kēxīn, hay “đậu” (bean) là 豆 dòu so với 荳 dòu với đậutrái 水痘 shuǐdòu (‘chicken box’), với các dạnggốc đôikhi được táidụng để tạonghĩa mới. Về mặt âmtiết, các mảnhvỡ ngữâm tiếnhoá qua nhiều lớptầng, và chỉ biết một hay hai tầng của một từcăn là khôngđủ — vì cùng một kháiniệm cóthể hiệndiện qua nhiều dạng ngữâm khácnhau. Như độcgiả sẽ thấy ở phần sau, nhiều từ Hán và Việt đã tiếnhoá qua ba hoặc nhiềuhơn ba tầng từnguyên, kể cả hiệntượng “doublets”, tức những từ cùng gốc nhưng phânkỳ về hìnhthức và ngữnghĩa.
Chẳnghạn, 會 huì (SV hội) cóthể sinhra các dạng VS như “hiểu”, “họp”, “hụi”, mang các nghĩa tươngđương với tiếngAnh “understand”, “meeting”, “trust fund”. Tươngtự, 川 chuān, 水 shuǐ và 江 jiāng cóthể đồnggốc với dạng Việtic cổ */krong/ hoặc HN “sông”, với các dẫnxuất tiếptheo: 川 chuān cho “suối” (stream) tiếnhoá thành 泉 quán (creek); 水 shuǐ cho “nước” (water) dẫn đến 江 jiāng cho “sông” (river), cùnggốcvới 長江 Chángjiāng (sông Trườnggiang), haylà 幼稚 yòuzhì cókhảnăng chora (1) ấutrĩ, (2) thơdại, (3) dạikhờ, (4) khờdại, (5) ngâyngô, (6) ngâythơ, (7) thơngây, (8) thơấu, (9) ấuthơ, (10) đứanhỏ, (11) đứatrẻ, (12) trẻnhỏ, v.v. và v.v.
Trong những vídụ này, khôngphải ngẫunhiên mà nhiều chuyêngia NamÁ Môn‑Khmer không nhậnra sựhìnhthành của các từ ghépkép đaâmtiết (polysyllabic doublets) phátxuất từ các biếnthể Hán. Các từcăn Môn‑Khmer mà họ tríchdẫn thường được táidụng từ các nguồn thứcấp, với nhiều thuậtngữ tiếngViệt bị viếtsai hoặc gánnhãn sai — kểcả trong các ấnphẩm họcthuật — những lỗi khôngthể xemlà sơsuất đánhmáy. Dù đónggóp của họ cho ngành Việtngữ học là đángghinhận, các thiếuvắng này khiến côngtrình của họ khônghoànchỉnh, thậmchí đôikhi thiênlệch về phươngpháp.
Việc tiếngViệt có các từ tươngứng trong Môn‑Khmer và Thái khôngcónghĩa rằng chúng có nguồngốc Môn‑Khmer hay là Thái. Những dạng này cóthể phảnánh các gốc ngônngữ tiềnsử (proto‑roots) từng thấm vào Háncổ. Không cần quytrách, nhưng khi xemxét các từ cơbản mà Henri Maspero liệtkê (sđd. 1952, tr. 582–83), ta thấy các từ Việt được xếpvào gốc Môn‑Khmer hoặc Thái: “sông”, “rú”, “chim”, “lúa”, “áo” dưới Môn‑Khmer; “gà”, “vịt”, “gạo” dưới Thái. Thếnhiên, các đốiứng Hán — 江 jiāng, 野 yě, 禽 qín, 來 lái, 襖 ào, 雞 jī, 鴄 pī, 稻 dào — cùng các “doublets” như 水 shuǐ, 粗 cū, 隹 zhuī, 衣 yī, 鷄 jī, 鶩 wù, 穀 gǔ — hélộ một từnguyên Hán sâu và đadạng hơnnhiều.
Thử xét 江 jiāng, vốn chỉ “sông” trong các vùng Hoanam, như 湄江 Méijiāng (Mêkông, nay là 湄公河 Méigōnghé) và 長江 Chángjiāng (Trườnggiang), đều bắtnguồn từ 三江源 Sānjiāngyuán (HV Tamgiangnguyên, HN “nguồn ba sông“) trên đỉnh caonguyên Thanh‑Tạng. Chúng không bắtnguồn từ hồ Tonle Sap của Campuchia, nơi “Tonle” nghĩalà “sông” , “hồ” , trongkhi /‑krong/ lại cónghĩalà “thànhphố”, không phải “sông”. Thúvị thay, tên “Sông Hồng” của Việtnam được dịchsang Hánvăn là 紅河 Hónghé (SV Hồnghà), chứkhôngphải 紅江 Hóngjiāng (SV Hồnggiang), dù mộtsố ngườiViệt vẫn nói “Sông Hồnghà”, tức 紅河江 Hónghéjiāng — phảnánh đúng môhình ghépkép của 湄公河 Méigōnghé.
Trong mọitrườnghợp, thuậtngữ “NamÁ” như một họ ngônngữ đã được các nhàngônngữhọc phươngTây đặtra nhằm tìm một lốitắt họcthuật để phânloại tiếngViệt mà khôngphải việndẫn đến tiếngHán. Đứngtrước thựctế ngườiViệt sinhsống giữa cộngđồng Khmer ở phươngNam, họ đã bỏqua ảnhhưởng Hánngữ từ phươngBắc. Vào đầu thếkỷ XX, bị choángngợp bởi sốlượng lớn các từcăn Tạng‑Miến trong tiếngViệt, họ lúngtúng trongviệc gáncho tiếngViệt một vịtrí phânloại thíchđáng — giống như tìnhtrạng chưa ngãngũ của các ngônngữ ĐôngÁ cho đến tận thếkỷ XVII (xem Lunbæk, Knud. 1986. T.S. Bayer (1694–1738), Pioneer Sinologist).
Tómlại, ta cóthể giảđịnhrằng những ngườitiênphong của lýthuyết NamÁ đã đặtra một thuậtngữ mới để chephủ chiếc ôdù phânloại mà họ đang cầm. Ngaytừđầu, họ cóthể đã bỏqua hoặc không nhậnthứcđược độ sâurộng ngônngữ của các ngữchi Việtic (Việtcổ), Daic (Tày-Nùng), Mon (Môn-Khmer) và các ngônngữ khác được sửdụng tại Việtnam, Tháilan, Lào và vùng Hoanam Trungquốc— trong số nhiều ngônngữ đó, dưới khung Tạng‑Miến, vốn đã được gộpvào nhóm “ngônngữ BáchViệt”. Kháiniệm này vềsau được mởrộng để baogồm cả họ Taic (Tháicổ), tức Daic‑Kadai (Tày-Nùng) và các ngônngữ BáchViệt khác như tiếngViệt, Choang (Nùng), Quảngđông, Phúckiến và Ngô.
Vềmặt lịchsử, thuậtngữ “Việt” từng được ghi bằng nhiều chữ Hán khácnhau như 粵, 戉, 越, 鉞 — thường liênquan đến cácloại vũkhí hình rìu và các bộtộc sửdụng chúng, như được chép trong các sửthư Hánvăn cổ. Thuậtngữ “Taic” (Tháicổ) là một bổsung tuỳứng muộn hơn, dùng để baogồm ngônngữ cổ của nướcSở, vốn đượcxemlà tổtiên của các ngônngữ Daic‑Kadai và các ngônngữ chịem BáchViệt của chúng, cóthể baogồm cả Choang (hay Nùng trong tiếngViệt) — tổtiên của tiếng Quảngđông từ rất lâu trướckhi bị Hánhoá (De Lacouperie, sđd. 1867 [1965]).
Cóthể giảđịnhrằng khung BáchViệt cổ đã bị tráotrộn lại để tạothành một bộ bài lýthuyết mới — về au đượcgọilà họ ngônngữ NamÁ, baogồm phânchi Môn‑Khmer. Trong bốicảnh thiếuvắng chuyênmôn Hánngữhọc Đôngphương, việc phânloại tiếngViệt vào nhóm NamÁ Môn‑Khmer cólẽ được khởixướng bởi một thếhệ mới gồm các nhàngônngữ phươngTây muốn tạo dấuấn trong ngành ngônngữ lịchsử, giữalúc các phươngpháp mới trong ngành nhânvănhọc đang trỗidậy. Các nhàngônngữ, dĩnhiên, cóquyền đặttên cho một “họ ngônngữ mới” theoý họ, nhấtlà vào đầu thếkỷ XX. Và thếlà những người khởixướng thuyết NamÁ đã rađi với thuậtngữ “Austro‑Asiatic” (AA), không bị tháchthức, và đã mởcho mình — cũngnhư những người đếnsau — một lốitắt tiệnlợi trong một lĩnhvực mà, cóthểnói, vốn đã tồntại dưới một têngọi khác.
Để phábỏ ngộnhậnrằng các từ cơbản tiếngViệt có nguồngốc NamÁ Môn‑Khmer, tácgiả đặtra thuậtngữ họcthuật “Hán‑Việt” (HV) nhằm trả tiếngViệt về đúng vịtrí của nó trong khung phânloại Tạng‑Miến, vì “NamÁ” là một thuậtngữ saiđịnhdanh.
Trong việc phânloại từnguyên tiếngViệt, tácgiả đềxuất thuậtngữ “Hán‑Việt” để nhấnmạnh vaitrò của phânchi Hán‑Việt (Sinitic‑Yue) trong việc hìnhthành tiếngViệt hiệnđại. Nóicáchkhác, các thựcthể ngônngữ Việtic (Việtcổ) hìnhthành sau sự táchnhánh của họ Việt‑Mường được hiểu đúngnhất như các lớptầng siêuđẳng Hán phủ lêntrên lớp hạtầng BáchViệt. Cóthể chính tầngsiêuđẳng Hán này cũnglà một hỗnhợp của các yếutố BáchViệt, cóthể ứngdụng để giảithích độsâu của các từnguyên Hán‑Việt như 江 jiāng → HN “sông”, 椰 yé → HN “dừa”, 糖 táng → HV “đường”, vốn đượcxemlà các từ BáchViệt bảnđịa trong khung ngônngữ lịchsử này.
Để làmrõ các nhầmlẫn thuậtngữ, tácgiả ưa dùng “Hánngữ” (Sinitic) hơn “tiếngHán” (Chinese), vì “Hánngữ” chỉ một hỗnhợp ditruyền của các yếu tố Taic‑Yue (Tháicổ-Việt) và cóthể có cả tiếngTạng cổ, chứ khôngphải các “yếutố ngoạilai đã tuyệtchủng” như Jerry Norman (1988) đềcập. Các từ Hán‑Việt, vềsau bị gọitắt là “từ Hán”, phảnánh sựchephủ lịchsử của Trungquốc đốivới Việtnam. Bêncạnhđó, Việtic — vềmặt lýthuyết là một biếnthể tiền‑ViệtMường trong một dảitrục liêntục kéodài từ “BáchViệt” trong sửliệu Háncổ đến giaiđoạn hìnhthành Annam sơkỳ — lại đãtừng được xếpvào họ Tạng‑Miến.
Thuậtngữ “Hán–BáchViệt” (Sinitic‑Yue) được đưavào để điềuchỉnh sựmởrộng quámức của chiếc-ô “Hánngữ” thuầntuý. Sựđiềuchỉnh này giúp tránh các mơhồ vốncó trong cáchgọi NamÁ–Môn‑Khmer. Chẳnghạn, “Hánngữ” thường bị dùng sai để loạitrừ BáchViệt, trongkhi nhãn NamÁ được đặtra để baogồm các ngônngữ được giảđịnh là phátxuất từ vùng phíanam Trungquốc. Khung này mặcđịnh gán một quanhệ ditruyền ĐôngnamÁ, khiến khócóchỗ cho các diễngiải khác, nhấtlà khi các hiệnvật khảocổ được gáncho tácgiả người Môn‑Khmer. Tuynhiên, điềunày không giảithíchđược nguồngốc BáchViệt của các từ Hán‑Việt như “cún” (puppy) và “lợn” (piglet), tươngứng với 犬 quǎn (HV khuyển) và 腞 dùn (HV đốn).
Các lýthuyếtgia NamÁ Môn‑Khmer đã đàotạo thànhcông nhiều thếhệ nghiêncứu Việtnam học dựatrên phươngpháp tâyhọc có gốc Ấn‑Âu. Thayvì tiếptục “làmviệc như cũ”, đã đến lúc khámphá một hướng tiếpcận mới cho lýthuyết BáchViệt và Tạng‑Miến, như được phácthảo trong khảo cứu này.
Cần nhấnmạnh rằng thuyết NamÁ Môn‑Khmer, dù đãcó vịthế vào cơchế chínhthức, nó vẫn chỉlà một giảthiết. Nó là một khung mở, cóthể bị phảnbác hợplý khi côngcuộc nghiêncứu Hán‑Việt tiếptục tiếntriển thànhcông. Lýthuyết này vẫn đang tiếptục biếnđổi, thậmchí ngàycàng rờixa với sựgiảiquyết, khi các họcgiả mới chỉra những nhầmlẫn như việc trộnlẫn từ Hán‑Việt với từ Hán‑BáchViệt (Sintic-Yue) và từđó rútra các kếtluận sai. Phươngpháp tâyhọc, dù logic và cóhệthống, khôngphảilà khôngcósaisót. Trong ngônngữ lịchsử, khôngcó mệnhđề tuyệtđối. Quantrọng hơn, lýthuyếtgia NamÁ thiếusót sửliệu để chứngminh các tuyênbố của họ và vẫnchưa giảithíchđược độ phứchợp của từnguyên Hán‑Việt trong tiếngViệt. Bài này nhằm lấpđầy khoảngtrống đó, điềuchỉnh các môhình cũ dựatrên các bằngchứng Tạng‑Miến mớiđược nhậndiện trong lớp từvựng cơbản tiếngViệt.
VI) Sự lantruyền về phíatây: Ferlus và giảthuyết Annam
Trườngphái Tạng‑Miến, với khotàng tri thức tíchluỹ qua nhiều thậpniên, vẫn tiếptục cungcấp giátrị về từnguyên, lịchsử và lýthuyết, chẳnghạn như việc nhậndiện các từđồngnguyên Tạng‑Miến, phụcnguyên các dạngcổ, lýthuyếthoá các cụm phụâm và tamnguyênâm trong Háncổ, cùng các giảthuyết về quátrình hìnhthành thanhđiệu. Những nềntảng này mởđường cho một khungnền Hán‑Việt vữngchắc.
Đốivới các từ cơbản Môn‑Khmer vốn được côngnhận từlâu, tácgiả đềxuất một sựtáiđánhgiá. Lấythídụ từ “lá”:
- Dòng Môn‑Khmer: < ha < hala < pa (Chamic)
- Dòng Hán: < 葉 M yè, dié, shè, xiè < MC jiap, ɕiap < OC *leb, *hljeb
- Dòng NamÁ: < Proto‑AA *la, Proto‑Katuic *la, Proto‑Bahnaric *la, Khmer sla:, Proto‑Vietic laʔ, Proto‑Monic la:ʔ, Proto‑Palaungic laʔ, Proto‑Khmu laʔ, Proto‑Viet‑Muong laʔ…
Khảocứu này trìnhbày các bằngchứng mớiđược khơilại, với hơn 400 từnguyên cơbản, chỉrõ nguồngốc Tạng‑Miến dựatrên danhmục từnguyên Tạng‑Miến lâuđời nhưng ítđược sửdụng của Shafer. (Shafer, 1966-1974. Refer to Vietnamese Parallels with the Sino-Tibetan Languages)
Chúngta trởlại vấnđề lớp từvựnglõi Hán‑Việt, vốn xáclập mốiliênhệ từnguyên giữa tiếngViệt, tiếngHán và các ngônngữ BáchViệt, tấtcả hợpthành nềntảng của tiếngViệt hiệnđại. Sựliêntục lịchsử của chúng, như ghi trong sửliệu Hán, có niênđại dưới 3.000 năm. Các họcgiả Háncổ, trong phạmvi trithức của họ, đã nhậnbiết những tươngđồng từnguyên này trong dảitrục ngônngữ BáchViệt, được giảđịnh là tiền‑Daic, tiền‑Vietic, tiền‑QuảngĐông, tiền‑Phúckiến, v.v., với nhiều biếnthể từvựng được ghilại trong Khanghi Tựđiển (康熙字典), hélộ nguồngốc của chúng từlâu trướckhi các môhình phươngTây như thuyết NamÁ xuấthiện.
Khi các lýthuyếtgia NamÁ đềxuất giảthiết Môn‑Khmer cho tiếngViệt, họ đã gạtbỏ hệ phânloại vốn đặt tiếngViệt cùngvới các phươngngữ Hán như Quảngđông và Phúckiến trong ngữhệ Tạng‑Miến — một hệthống pháttriển độclập, không chịu ảnhhưởng của các cơchế ngônngữ nhànước. Bằngcách đặtra thuậtngữ “ngữchi Môn‑Khmer” (MK) và nhúng nó vào “ngữhệ NamÁ” (Austro-Asiatic), các nhàngônngữ phươngTây đã vôhìnhtrung gạt các họcgiả Trungquốc khỏi khảnăng tiếptục pháttriển các lýthuyết lấy tiếngHán làm trungtâmđiểm, mặcdù sửliệu Háncổ có chứađầy bằngchứng. Như Lunbæk (1986) ghinhận, đây dườngnhư là một lốitắt nhằm nétránh độphứctạp của Hánngữhọc, vốn đòihỏi một quátrình họcthuật côngphu.
Sựdịchchuyển lýthuyết này cũng làmmờ đi vaitrò của các ngônngữ BáchViệt cổ trong việc hìnhthành từvựng Hán, giốngnhư cách các ngônngữ Môn‑Khmer lánggiềng ảnhhưởng đến tiếng “Annam”. Nhiều dạng BáchViệt này bị chônvùi trong kinhđiển Hán và được ghilại trong Khanghi Tựđiển, thídụ 簍 lóu chora “rỗ”, cóthể là một dạng từ đồngnguyên của 籮 luó, hoặclà thídụ 帔 pèi và 襣 bì cho “váy”.
Các vậnthư Háncổ, do các họcgiả bảnđịa biênsoạn, hầunhư khôngđược chúý trong giới ngônngữ phươngTây chođến đầu thếkỷ XX, khi Haudricourt, Karlgren, Forest và Maspéro bắtđầu nghiêncứu ngônngữ lịchsử Hán. Những người tiênphong này có nhậnra vaitrò của tiếng Annam trong việc bảotồn các đặctrưng ngữâm Háncổ. Thựctế, các giátrị ngữâm Hán‑Việt đã gópphần quantrọng trongviệc phụcnguyên Háncổ, songhành với các tiếntrình tiếnhoá của Quảngđông và Phúckiến. Khi được xemxét qua lăngkính từnguyên Hán‑Việt, các đặctrưng này chỉrõ nguồngốc tiếngViệt. (Wang Li 王力, 1948.)
Như đã đềcập, một lýdo khiến các lýthuyếtgia NamÁ chọn xâydựng một khungnền mới là vì sựtiệnlợi của việc “bắtđầu lại từđầu”, thayvì thừanhận hệthống lýthuyết BáchViệt đã tồntại từ xaxưa. Xarời thếgiới Hánngữhọc lịchsử, dù cốý hay vôý, họ đã bỏqua các ghichép trongđó ngônngữ BáchViệt được nhậndiện rõràng. Bấtchấp các tươngđồng Môn‑Khmer, tiếngViệt, Quảngđông và Phúckiến không thể phủnhận có chung một tổtiên BáchViệt ở vùng Hoanam Trungquốc.
Các yếutố của ngônngữ BáchViệt cổ từng được sửdụng khắp Hoanam cũngđược nhúngvào các phươngngữ Hán lớn khác, kể cả Quanthoại phươngBắc và Ngô phươngNam. Thếnhiên, tiếngViệt hiệnđại— dù mang đậmtính Hánngữ, chỉ thiếu văntự vuông — lại bị phânloại vào nhóm NamÁ Môn‑Khmer, một sự táiphânloại không xoábỏ được vịtrí Tạng‑Miến vốn đãđược ápdụng cho các phươngngữ chịem của nó tại Hoanam.
Hơnnữa, có những từđồngnguyên khôngthể phủnhận trong nhiều từnguyên Tạng‑Miến. Khảocứu này sẽ tiếptục làmrõ các gốcgác đó bằngcách khảosát các từ cơbản tiếngViệt phùhợp với từnguyên Tạng‑Miến. Để rútngắn quátrình, một số quyước ngônngữ được giảđịnh là quenthuộc với độcgiả, chẳnghạn các quy tắc biếnâm tiêuchuẩn: 蒜 suàn (HV toán) ~ HN “tỏi”, 鮮 xiān (HV tiên) ~ HN “tươi”, 團圓 tuányuán (HV đoànviên) ~ HN “sumvầy”, mà khôngcần phải giảithích thêm gì về các điềukiện biếnâm như [s‑, x‑ ~ t‑], [‑n ~ ‑i], [t‑ ~ s‑], [y‑ ~ v‑], v.v.
Độcgiả sẽ thấy rằng cùng một lýlẽ được dùng để chứngminh từnguyên giữa tiếngViệt và NamÁ cũng ápdụng được cho các từnguyên Tạng‑Miến. Giátrị của các mốiliênhệ này là tươngđương. Nghĩalà, nếu mộtsố từ tiếngViệt được chấpnhận là đồngnguyên với Môn‑Khmer, thì cùng nguyênlý ấy cũng ápdụng cho các đốiứng Tạng‑Miến — tuỳthuộc vào khung lýthuyết nào đượcchọn trước.
Thựctế, tầnsố và mứcđộ đồngnguyên là đángkinhngạc. Như sẽ được trìnhbày trong Vietnamese Parallels with the Sino-Tibetan Languages, hơn 400 mục từlõi đãđược xáclập, mỗi mục được gắnchặt bằng bằngchứng từvựng cơbản. Các từnguyên này baogồm các phạmtrù ngữnghĩa thiếtyếu — bộphận cơthể, quanhệ thânthuộc, yếutố thiênnhiên, sốđếm, độngtừ cơbản — lanrộng khôngchỉ trong các ngônngữ Hoanam và ĐôngNamÁ, mà còn vươnđến ĐôngÁ. Sựphânbố này gợiý một disản ngônngữ liêntục sâuhơn, vượtkhỏi các ranhgiới phânloại hiệnđại.
Nếu tiêuchuẩn duynhất để xếplọai một ngônngữ vào họ Tạng‑Miến là sựhiệndiện của các từnguyên tươngtự, mà khôngxétđến các đặctrưng ngônngữ rộnghơn, thì chỉ riêng lớp từvựng Hán‑Việt cũng đủ để xếplọai tiếngViệt vào họ Tạng‑Miến. Các đặctrưng Hánhoá nộitại của tiếngViệt, cả về cấutrúc lẫn ngữnghĩa, phảnánh rõ các ngônngữ chịem như Quảngđông và Phúckiến. Cùng một logic ấy, lậpluận NamÁ rằng tiếngViệt có quanhệ songhành với Môn‑Khmer dựatrên một số từ cơbản cũng chỉ dựatrên một tiềnđề giảnlược tươngtự. Quansát này nhắclại một luậnđiểm nêura trướcđây: phânloại lýthuyết thường phụthuộc vào khung banđầu hơnlà bằngchứng ngônngữ toàndiện.
Vềmặt nhânloại học, ngoài môhình thanhđiệu của Haudricourt, phe NamÁ vẫn chưa đưara sửliệu môtả cách các yếu tố Khmer cóthể tiếnhoá thành dạng tiếngViệt theo khung lýthuyết của họ. Về mặt vănhoá, các chuyêngia NamÁ có xuhướng táchrời Môn‑Khmer khỏi tiếntrình hộitụ vănhoá Annam, một tiếntrình thấmđẫm Nho‑Lão‑Phật — những truyềnthống đặctrưng của các ngônngữ ảnhhưởng Hán và hoàntoàn vắngbóng trong môitrường Môn‑Khmer.
Sửliệu lịchsử cho biết tiếntrình hìnhthành quốcgia Annam bắtđầu tiếpxúc với vươngquốc Champa — một quốcgia Ấnhoá nhưng vềsau theo Hồigiáo — từ thời ĐôngHán, như ghilại trong sửthư Hán. Champa, nằm ở phíanam biêngiới Annam, chiếmgiữ vùng lãnhthổ từng thuộc về tiềnquốcgia Lâmấp (Linyi 林邑, khoảng 197–750 SCN). Vươngquốc Champa tồntại từ thếkỷ VIII đến đầu thếkỷ XVIII, đóngvaitrò như một vùngđệm niênđại giữa Annam ở phíanam và các chínhthể Khmer ở phíanam — cả trước lẫn saukhi Annam trởthành một quốcgia độclập vào năm 939.
Trong một nghiêncứu có tínhdấumốc, Michel Ferlus (2012) đềxuất rằng tiếng Annam cóthể đã lantruyền về phíatây — từ vùng đôngbắc Annam hướngxuống các khuvực tâynam và thậmchí sangtận Ấnđộ. Sự lantruyền này, theo ông, giảithích sựhiệndiện của các từvaymượn nguồngốc Annam trong các ngônngữ Môn‑Khmer và Munda, cókhảnăng được truyềntải qua các hànhlang thươngmại hoạtđộng mạnh giữa thếkỷ III và VIII.
Bảng 4 – Giảthuyết lantruyền phíatây của Ferlus
| Thờikỳ | Vùng khởinguồn | Hànhlang thươngmại | Dấutích ngônngữ học | Hàmý vănhoá học |
|---|---|---|---|---|
| Thếkỷ III–VIII SCN | Đôngbắc Annam | Sông Hồng → Ấnđộ | Annam → Môn‑Khmer → Munda | Từ vaymượn ănsâu vào các từvựng NamÁ |
| Tríchdẫn | — | — | “Annam cóthể đã lantruyền về phíatây…” – Ferlus (2012) | Gócnhìn liênngành về sựlantruyền ngônngữ |
Giảthuyết của Ferlus nhấnmạnh sứcmạnh của cáchtiếpcận liênngành, đặcbiệt là phântích lịchsử, một yếutố thiếusót cóýnghĩa trong khung NamÁ Môn‑Khmer. (1)
Để làmrõ vấnđề, dù ngườita có tánthành thuyết NamÁ hay không, thì việc các ngônngữ tiền‑Việtic thờicổ có nguồngốc từ BáchViệt hay từ ngữhệ NamÁ Môn‑Khmer theo giảđịnh của các nhàngônngữ được đàotạo theo môhình phươngTây (2) cũng khôngphải là điểmmấuchốt. Điều thựcsự quantrọng là tổngthể hữucơ của tiếngViệt như một ngônngữ sống — một chỉnhthể hữucơ trongđó mọi thànhtố vậnhành như một hệthống thốngnhất. Để nắmbắt điểm này, cóthể sosánh với tiếngAnh. Về mặt lịchsử, tiếngAnh hấpthu các yếutố ngoạilai với độmở đángkinhngạc, chồnglớp chúng lên một lõibảnđịa khá khiêmtốn. Khi khảosát tiếngAnh hiệnđại, ta không táchriêng các thànhtố Anglo‑Saxon, Welsh, Scots, Gothic hay Germanic khỏi các ảnhhưởng Norman, Romance hay Greek. Thayvào đó, ta nhìn tiếngAnh như một thựcthể ngônngữ thốngnhất — được địnhhình bởi toànbộ yếutố bảnđịa lẫn ngoạilai.
Tươngtự, tiếngViệt phải được nhìn bằng một lăngkính toàndiện như vậy. Sựthật ngônngữ của nó không bị giớihạn trong bấtkỳ một dòng tổtiên đơnnhất nào, mà được hélộ qua cách toànbộ hệthống tựhiệndiện trong dạngthức hiệnđại: một ngônngữ động, đadạng, được địnhhình bởi nhiều thếkỷ hộitụ vănhoá và từvựng.
Khi phântích đặctrưng của một ngônngữ sống, ta cũng phải xétđến thànhphần chủngtộc của cộngđồng nó, trongđó nhiều nhóm không nói các ngônngữ bảnđịa của vùng họ cưtrú. Tại Việtnam, bảnđồ hình chữ S dài 3.260 kilômét được hìnhthành từngbước trong hơn hai thiênniênkỷ. Khối ngườiKinh đasố xuấthiện qua quátrình hônphối với các cộngđồng địaphương như Chăm, Mon, Khmer, Hoa (đặcbiệt là Triềuchâu), v.v., nhưng không tiếpnhận các ngônngữ của những vùngđất được sápnhập. Điều này thểhiện rõ trong quan‑hệ Việt–Khmer: dù gốc Khmer từng ápđặt lên cưdân Annam cổ, tiếngViệt vẫn giữ bảnsắc riêng. TiếngViệt chưa baogiờ là một ngônngữ “thuầnkhiết”; về từnguyên, nó là một ngônngữ lai Hán.
Trên thếgiới, có nhiều trườnghợp ngônngữ creole hoặc ngônngữ ngoạilai trởthành tiếngmẹđẻ. Tiếng Haiti‑Pháp của hậuduệ nôlệ Amazon, hay tiếngAnh của người Jamaica, Bahamas và các cộngđồng phi‑Caribbean khác, đềulà vídụ chothấy mốiliênhệ ngônngữ không nhấtthiết trùngvới mốiliênhệ ditruyền. Tươngtự, dù tiếngViệt có hấpthu các từ cơbản Môn‑Khmer qua tiếpxúc với các nhóm cưdân địaphương — Thái trắng và đen, Tày, Nùng, Chàm Môn, Khmer — thì tiếng Khmer hiệnđại của người Campuchia khôngcó quanhệ ngônngữ với tiếng Annam cổ trước thếkỷ X. Ngônngữ bảnđịa được nói bởi Hai Bà Trưng và những người cùng thời trong các cuộc khởinghĩa chống Hán cách nay 2.000 năm chắcchắn khácxa tiếngViệt hiệnđại ở Hà nội. Dođó, nềntảng chủngtộc‑ngônngữ của tiếngViệt đãbị thayđổi từ tiềnsử, và đónggóp Môn‑Khmer chỉ giớihạn ở các từ vaymượn.
Về bảnchất laighép, tiếngViệt là một ngônngữ tổhợp được xâydựng trên môhình ngữâm {(C)+V+(C)}. Nó kếthợp một lõi BáchViệt với các lớptầng siêuđẳng Hán vềsau, vốn cóthể chứa các hạtầng Taic cổ — tổtiên của các ngônngữ Hoanam và các vùng lâncận, kểcả ngônngữ từng được cưdân nướcSở sửdụng. Trong hơn 800 năm qua, sau khi Annam sápnhập các quốcgia lánggiềng, tiếngViệt cũng hấpthu từvựng Chàm và Môn‑Khmer, nhưng các lớp này chỉ đónggóp mộtphầnnhỏ trong kho từvựng từnguyên. Nhiều từ trongsốđó là từ cơbản, điều mà các chuyêngia NamÁ thường nhấnmạnh khi xâydựng giảthuyết Môn‑Khmer.
Thựctế, các nỗlực của phe NamÁ nhằm gán tiếngViệt vào ngữhệ Môn‑Khmer chủyếu dựatrên việc liệtkê các từ cơbản đồngnguyên. Tuynhiên, cáchtiếpcận này chỉ là điềukiện cần, chứ chưa đủ.
Việc nhóm các ngônngữ chỉ dựatrên từvựng cơbản sẽ bỏqua các yếutố cấutrúc và lịchsử sâuhơn. Cùnglắm, các ngônngữ đó chỉ cóthể được xemnhư những họhàngxa từ tiềnsử, được địnhhình bởi tiếpxúc sớm qua thươngmại và traođổi.
VII) Sự hộitụ Hán‑Việt: từnguyên, thanhđiệu và chiềusâu lịchsử
Trong hơn hai thiênniênkỷ qua, các thànhtố Hánngữ đã hoànhập vào tiếngViệt với một chuỗi liêntục được ghilại rõràng trong sửliệu. Dođó, việc phânloại ngônngữ khôngthể chỉ dựatrên từvựng cơbản, mà phải xétđến các đặctrưng riêngcó của từng từ — “DNA ngữâm” của nó, hệthống thanhđiệu, âmtiết, và cấutrúc hìnhthái‑cúpháp. Những đặctrưng này đặcthù đếnmức rấtít yếutố NamÁ cóthể tươngứng với tiếngViệt trên toànbộ các phươngdiện ấy. Ngaycả nhiều ngônngữ Tạng‑Miến cũng không chiasẻ các đặctrưng này với tiếngViệt — thídụ Tạngngữ so với Hánngữ — chứchưanóiđến NamÁ Môn‑Khmer, vì hiểnnhiên ngônngữ luôn biếnđổi.
Vềmặt thuậtngữ, “Hán‑BáchViệt” (Sinitic‑Yue) dựatrên kháiniệm lịchsử “Việt” (越) được ghilại trong sửthư Hán. Thuậtngữ “Việt” theo cáchviết hiệnđại được tránh dùng ởđây vì cóthể là một địnhdanh sailầm và gây mơhồ ngữâm, mặcdù nó gần với các dạngcổ như /bjet/, /wjat/ hay /jyet/, như trong Quảngđông 粵 /jyut6/. “BáchViệt”, cũng như “Hánngữ”, được dùng vì tính chínhxác họcthuật, đạidiện cho toànbộ hậuduệ của các cộngđồng Việtcổ. Cáchgọi này giúp phábỏ lậpluận cho rằng tiếngViệt và tiếngHán chỉ chiasẻ các đặctrưng như thanhđiệu hay âmtiết do “tiềncận địalý”. Thựctế, “BáchViệt” từlâu đã đượcdùng để phânloại các phươngngữ Hán phươngNam có chung nguồngốc.
Với giảđịnh rằng “Hán‑BáchViệt” là một thựcthể ngônngữ hợplý, khảocứu này chứngminh rằng tiếngViệt, vềmặt cấutrúc và chứcnăng, tươngđương với một phươngngữ Hán. Từnguyên, hệthống thanhđiệu, ngữâm, âmtiết, các gốc từvựng, hậutố hìnhthái, các chỉdấu ngữpháp, loạitừ, trợtừ và giớitừ côngcụ của tiếngViệt đều phùhợp với quiphạm Hánngữ.
Ngoàira, các gốctừ hình‑âm tiếngViệt cókhảnăng tự pháisinh ra các từvựng bảnđịa phongphú, thídụ 訂婚 dìnghūn ~ “đámhỏi”, 嫁娶證 jiàqǔzhèng ~ “giấygiáthú”, v.v. Các đặctrưng này cóthể tráođổi với Quảngđông và Phúckiến, và tấtcả hợpthành một chỉnhthể. Tạmthời, tiếngViệt cóthể được xếpvào nhóm phươngngữ Hán phươngNam trong họ Tạng‑Miến, trướckhi đivào chitiết luậnlý.
Với nhậnthức này, tácgiả đềxuất một phânnhánh ngônngữ riêng: nhánh Hán‑BáchViệt (Han-Yue), như đã phácthảo ở một nghiêncứu khác. Nhánh này nằm trong ngữhệ Hán (Sinitic) và nganghàng với các ngônngữ gốc BáchViệt khác như Quảngđông và Phúckiến, vốn cóthể được xếplọai đồngthời vào cả Hánngữ lẫn BáchViệt.
Vềmặt giảđịnh, kháiniệm này cóthể mởrộng để baogồm cả gốc ngônngữ của các cộngđồng bảnđịa hậuduệ của Việt 越 (hay 粵), được ghilại trong sửliệu Háncổ là BáchViệt (百越) hay Namman (南蠻). Các hậuduệ này baogồm ngườiChoang (壯族, HV Trángtộc, hay Nùng trong tiếngViệt), nhóm thiểusố lớnnhất tại Hoanam ngàynay, cùng người Thái ở BắcViệt, Lào và Tháilan. Thànhphần chủngtộc này được Benedict (1975) xếploại đặttên là “Nam‑Thái” (Austro‑Thai), càng củngcố tínhliêntục của dảitrục Hán‑BáchViệt.
Đốivới thuậtngữ “ngữhệ NamÁ”, để lýthuyết NamÁ Môn‑Khmer giữđược giátrị trong khung sosánh này, nó phảiđược đặtvào bốicảnh lịchsử cóthể dungnạp cả hai mạch truyện — của họ và của chúngta. Toànbộ gócnhìn “Nam‑Á”, một disản của thếkỷ trước, đã gópphần hìnhthành quanđiểm rằng cưdân Việtcổ cóthể xuấtphát từ một quầnthể tổtiên chung ở ĐôngnamÁ hoặc thậmchí ở nambáncầu.
Tuynhiên, các phát hiện khảocổ gầnđây đã làm phứctạphoá bứctranh nhânchủng. Hàicốt người có niênđại hơn 40.000 năm — cổ hơn nhiều sovới các mẫu 10.000 năm ở Nam Indonesia — đãđược pháthiện chỉ cách Bắckinh ngàynay 50 kilômét vềphía tâynam. Điểm phânbố phươngBắc này gợiý khảnăng rằng các quầnthể Áchâu sớmnhất cóthể xuấtphát từ miền Bắc (3), từđó mởra một mốiliênkết tiềntiếp với cáigọilà “tiền‑Thái” (proto-Tai) và các quanhệ Taic liênquan đến sựxuấthiện của các nhóm tiền‑Tạng dumục đếntừ hànhlang tâynam.
Thuậtngữ Taic (baogồm tiền‑Daic và tiền‑BáchViệt) chỉ thànhphần chủngtộc bảnđịa từng cưtrú tại vùng phươngNam của Trungquốc hiệnđại và cóthể đã phânnhánh thành nhiều tộcnhóm khácnhau. Nếu cộngđồng BáchViệt (百越, “Bách tộc Việt”) được ghilại trong sửliệu Háncổ thựcsự là “Bod” như Terrien De Lacouperie giảđịnh (The Languages of China Before the Chinese, 1887), thì họ cóthể baogồm tổtiên của người Choang và các nhóm Daic (泰族) ngày nay. (Xem Tiếngnói Thuở Hoalục Chưa Nở Hoa)
Các nhóm này cũng có liênhệ với nhiều cộngđồng bảnđịa khác trên toàn vùng Hoanam, chiếm một khônggian rộnglớn phíanam dòng Trườnggiang từ thời tiềnsử. Tươngtự như thuyết NamÁ, giảthiết này chủyếu dựatrên phépsosánh và suydiễn từ sửliệu. Vùng phíanam hạlưu Trườnggiang baogồm tỉnh Anhuy và Hàbắc, mởrộng sang Giangtô — nơi nói phươngngữ Ngô — và xuốngdưới qua Hồnam và Quảngtây, cuốicùng đến vùng châuthổ Sông Hồng ở BắcViệt.

Hình 1 – Bảnđồ các quốcgia cổđại tại Trungquốc
Nguồn: Nhiều nguồn tưliệu côngcộng trên liênmạng
x X x

Hình 2 – Bảnđồ Đếquốc Tần của Trunghoa thời cổđại
Nguồn: https://en.wikipedia.org/wiki/Qin_Dynasty
Chođếnnay, ngườita vẫnchưa đưa “cộngđồng ngườingoạilai huyềnbí tại nước Bathục (巴蜀, SV Bathục) thuộc Tứxuyên cổđại” vào khung chủngtộc rộnghơn. Tuyvậy, các cuộc khảocổ đã pháthiện nhiều hiệnvật chothấy những cộngđồng nay đã tuyệtchủng này từng sởhữu một nền vănminh pháttriển rấtcao trong thời tiềnsử. Đángtiếclà vẫn chưacó bằngchứng dứtkhoát nào liênkết cưdân Bathục ở vùng tâynam Tứxuyên với các tộcnhóm khác trên toàn vùng Hoanam, kểcả các quầnthể tiền‑Tháicổ được giảđịnh.
Mặcdù cưdân nướcSở khôngthể được đồngnhất trựctiếp với cưdân Bathục hay các nhóm tiền‑Tạng, sửliệu Hán chobiết dân nướcSở là một cộngđồng hỗnhợp chủngtộc, baogồm các yếutố Tháicổ — tổtiên của cả hai nhánh Tày-Nùng và BáchViệt. Các nhóm tiền‑Thái này đã gópphần hìnhthành cưdân Tần‑Hán vào khoảng thếkỷ II TCN. Dòng tiền‑Tháicổ cũnglà nềntảng tổtiên của cưdân nói ngônngữ Tháicổ tại nướcSở (楚) và của các cộngđồng BáchViệt thuộc Chu (周), Ngô (吳) và Việt (越). Các nhóm này về au hoànhập với cưdân bảnđịa của nướcTần 秦國 (778–207 TCN), hìnhthành nềntảng dântộc‑vănhoá của cộngđồng mà vềsau họ trởthành “ngườiHán”. (4)
Nóicáchkhác, về mặt dântộchọc, các nhóm tiền‑Tháicổ đã phânnhánh thành nhiều dòng nhỏ ngaytừ thời tiềnsử, tiếnhoá thành các tộcnhóm riêngbiệt trướckhi bị nướcTần xâmchiếm. Thựctế, mỗi dòngtộc mới nổilên vềsau caiquản một trong bảy quốcgia BáchViệt, như được ghilại trong sửliệu Trungquốc kéodài ítnhất hai thiênniên trước khi Tần Thỉ-Hoàng (秦始皇) thốngnhất Đếquốc Tần và tiếptheo là mởđầu cho triềuđại nhàHán.
Sau khi Tần toànthắng và củngcố quyềnlực, cưdân của sáu nước khác ở vùng đông Trungquốc — gồm Sở (楚), Triệu (趙), Tề (齊), Tấn (晉), Yên (燕) và Hàn (韓), vốn từnglà chưhầu của ĐôngChu (403–221 TCN) — đều bị sápnhập vào thểchế nhàTần. Các cộngđồng này, vốnlà hậuduệ trựctiếp của “tiền‑Hán” {XYZ} từng dicư từ hànhlang tâynam, đã hìnhthành nềntảng nhânkhẩu của nướcTần 秦國 (221–206 TCN). Họ vềsau hoànhập với cưdân gốc Tháicổ của nướcSở để làm tiềnđề kiếnlập triềuđại nhàHán (漢朝, 206 TCN–220 SCN).

Hình 3 – Bảnđồ các quốcgia BáchViệt cổ lịchsử
Nguồn: Nhiều nguồn tưliệu côngcộng trên liênmạng
x X x

Hình 4 – Bảnđồ nước NamViệt ở phíanam Trungquốc
Source: Modified map from http://en.wikipedia.org
Tiếntrình ngườiHán từ Hoalục dicư xuống Việtnam đã diễnra theo cùng một quyluật lặplại đốivới cả cưdân bảnđịa mang đặcđiểm sinhtrắc {2YMK} lẫn các nhóm didân {4Y6Z8H} từng sinhsống hoặc đã địnhcư lâuđời tại vùng BắcViệt quanh vùng châuthổ Sông Hồng trướckhi bộbinh của Đếquốc Hán — vốn cũng baogồm cưdân BáchViệt từ các quốcgia đã từng nằm dưới chiếc ôdù nhàTần trong giaiđoạn trước — tiếnxuống xâmchiếm miềnBắc cổđại của ngườiViệtcổ bảnxứ. Đồngthời, các nhóm didân bị chiếntranh tànphá cũng theochân họ, và tấtcả những didân mới này hoànhập với cưdân sởtại, hìnhthành nên cộngđồng dâncư của Annam cổđại.
Nóicáchkhác, toànthể cưdân của nướcTần — được giảđịnh sinhtrắc là “người Hoa sơkỳ” {X2Y3Z4H} — đã hoàtan trong “nồi nấuchủngtộc” của đếquốc thốngnhất đầutiên, hoàlẫn với cưdân của sáu nước bị chinhphục để hìnhthành cộngđồng mà vềsau đượcgọilà “ngườiHán” {X4Y6Z8H}, một địnhdanh vềsau được phươngTây dùng đểchỉ “Trungquốc”. Thựcthể mới được củngcố này trởthành “các quốcgia thốngnhất của Trunghoa” (中華 ) sau sựtrỗidậy của nhàHán, triềuđại trịvì 406 năm và đặt nềntảng cho toànbộ các triềuđại vềsau.
Trong quátrình bànhtrướng lãnhthổ của Trungquốc, nhiều nhóm BáchViệt bảnđịa — đáng chúý nhất là Tày, Nùng, Đồng, Dao và Miêu (gọi là Mèo ở Việtnam và Hmong ở Lào) — đã khángcự áplực Hánhoá và rútvào các vùngnúi côlập. Qua thờigian, hậuduệ của những nhóm khôngchịu hợptác với chínhquyền Hán bị dầndần đẩylùi, dịchchuyển xuống phíanam khỏi vùng Hoanam vào Giaochỉ (交趾 Jiaozhi; vềsau đổithành 交州 Jiaozhou hay Giaochâu, tức vùngđất đượcbiếtđến trong lịchsử là Annam 安南). Những nhóm didân này vềsau hoànhập với các đợt didân hỗnhợp chủngtộc từ phươngBắc trànxuống.
Khiđến biênviễn, các đạoquân và đoàn didân Hán — vốn banđầu chỉlà “kháchtrú” — thường bịbuộc phải địnhcư vĩnhviễn để thihành “quốcsách” của đếquốc Trunghoa, vốn vẫncòn được ápdụng muộn đến tận năm 787 dưới thời nhàĐường (Bo Yang, Tưtrị Thônggiám, Q.56, tr.83). Những người địnhcư mới này tấtyếu kếthôn với cưdân sởtại {2YMK}, hoặc vì thiếu phụnữ Hán, hoặc hoànhập với các đợt didân Hán hỗnhợp {X4Y6Z8H} từ cả Hoabắc (華北 Huabei) lẫn Hoanam (華南 Huanan), những người theochân các chiếndịch quânsự tiếnvào quận biênthuỳ Annam.
Từ sựhộitụ này đã xuấthiện cộngđồng “Kinh” {4Y6Z8HMK}, tức ngườiViệt, đượcgọi trong tiếngHán hiệnđại là tộc ‘Jing’ (京). Môhình dicư và hộinhập này tiếptục kéodài suốt hai thiênniênkỷ, và còn tiếpdiễn đến hiệnnay với hơn một triệu didân Hoa kểtừ năm 1995. Chẳnghạn, các khuphố Hoa mới đã mọclên quanh các khucôngnghiệp trên khắp Việtnam trong hơn ba thậpniên qua. Hậuduệ của những nhóm địnhcư này sinhsôi qua nhiều thếhệ, dần trởthành một phần của dânsố quốcgia và hợpthành bộphận lớn của cộngđồng Kinh hiệnđại.
Bảng sauđây được thiếtkế nhằm dungnạp ngữhệ NamÁ mà không làm suygiảm vịthế nổibật của các nhànước BáchViệt (thídụ: Sở, Ngô, Việt, LạcViệt, ÂuViệt, ĐôngViệt…) cùng các phươngngữ BáchViệt của họ, đặt nganghàng với các thựcthể trướcđây.
Bảng 5 – Phácthảo các phươngngữ trongvùng tại Hoanam Trungquốc
- 1.0 Ngônngữ Tháicổ (Taic Languages)
- 1.1 Ngữhệ NamÁ (Austroasiatic Linguistic Family)
- 1.1.1 Ngônngữ Môn‑Khmer (Mon‑Khmer Languages)
- 1.2 Ngônngữ BáchViệt (Yue Languages)
- 1.2.1 TiếngNùng (Zhuang Language)
- 1.2.2 TiếngTày (Daic Language)
- 1.2.3 Ngônngữ Miêu (Miao Languages)
- 1.2.4 Tiếng Mạonam (Maonan Language)
- 1.2.5 Tiếng Việt‑Mường (VietMuong Languages)
- 1.2.5.1 Phươngngữ Mường (Muong Dialects)
- 1.2.5.2 Tiếng Việtcổ (Vietic Language)
- 1.2.6 Tiền‑Quảngđông (Proto‑Cantonese / NamViệt)
- 1.2.7 Tiền‑Phúckiến (Proto‑Fukienese / MânViệt)
- 1.2.8 … v.v.
- 1.3 Ngônngữ Tiền‑Hán (Proto‑Sinitic Languages)
- 1.4 Ngônngữ Hán‑BáchViệt (Sinitic‑Yue Languages)
- 1.4.1 Annam cổ (Ancient Annamese)
- 1.4.2 Hán‑Việt (Sinitic‑Vietnamese)
- 1.4.3 TiếngViệt (Vietnamese)
- 1.4.4 … v.v.
- 2.0 Ngữhệ Tạng‑Miến (Sino‑Tibetan Linguistic Family)
- 2.1 Háncổ sơkỳ (Archaic Chinese)
- 2.1.1 Háncổ (Old Chinese)
- 2.2 Háncổ trungđại (Ancient Chinese)
- 2.2.1 Phươngngữ Hán (Phúckiến, Ngô, v.v.)
- 2.3 Hán Trungcổ sơkỳ (Early Middle Chinese)
- 2.4 Hán Trungcổ (Middle Chinese)
- 2.4.1 Phươngngữ Quảngđông (Cantonese Dialects)
- 2.4.2 Hán‑Việt (Sino‑Vietnamese)
- 2.4.3 … v.v.
- 2.5 Quanthoại sơkỳ (Early Mandarin)
- 2.6 Quanthoại (Mandarin)
- 2.6.1 Quanthoại Tâybắc (Northwestern Mandarin)
- 2.6.2 tiếng Phổthông (Putonghua)
- 2.6.3 Quanthoại Đôngbắc (Northeastern Mandarin)
- 2.6.4 Quanthoại Tâynam (Southwestern Mandarin)
- 2.6.5 … v.v.
- 2.7 Quảngđông (Cantonese)
- 2.7.1 Phươngngữ Quảngchâu (Guangzhou Dialect)
- 2.7.2 Phươngngữ Tháisơn (Taishan Dialect)
- 2.8 Phúckiến (Fukienese / Minnan)
- 2.8.1 Phươngngữ Hạmôn (Xiamen Dialect)
- 2.8.2 Phươngngữ Hảinam (Hainanese Dialect)
- 2.8.3 Phươngngữ Triềuchâu (Chaozhou Dialect)
- 2.9 Phươngngữ Ngô (Wu Dialects)
- 2.9.1 Phươngngữ Ônchâu (Wenzhou Dialect)
- 2.9.2 Phươngngữ Thượnghải (Shanghainese Dialect)
- 2.10 … v.v.
Trong những điềukiện địnhvị nhưvậy, các ngônngữ thuộc “ngữhệ NamÁ” {1.1} (một giátrị nhânchủnghọc dùngđể xếphạng có tínhbiểutrưng) đãđược hìnhthành từ các ngônngữ Tháicổ {1.0} cáchnay khoảng 6.000 năm, lâulâu trướckhi Nhà TâyChu (西周) xuấthiện. Nóicáchkhác, tấtcả đều đã phátxuất từ một dạng ngônngữ tiền‑Tháicổ {1.0} được giảđịnh là ngônngữ của “cộngđồng Tháicổ bảnđịa rộnglớn”, rồi tiếphoá thành các dạng ngônngữ BáchViệt {1.2}, baogồm các ngônngữ hiệnnay của người Nùng, Tày, Miêu, Mạonam, Việt‑Mường, v.v. {1.2.1, 1.2.2, 1.2.3, v.v.}, trongkhi các nhánh khác phânkỳ thành những ngônngữ Môn‑Khmer khác nhau, tứclà những ngônngữ hiệnnay được gomvào “ngữhệ NamÁ” {1.1.1, 1.1.2, 1.1.3, v.v.}.
Dướithời các vươngtriều Chu, các yếutố Tháicổ {1.0} cũng đã lenlỏi, đanxen, chenlồng và hoànhập vào Háncổ sơkỳ (Archaic Chinese, ArC) {2.1} và Háncổ (Old Chinese, OC) {2.1.1}, kểcả Háncổ trungđại (Ancient Chinese, AC) {2.2} của đờiHậu-Hán, kểtừ khi nó táchkhỏi tuyến Tạng‑Miến {2.0} và tiếnhoá độclập (xem Brodrick 1942, Norman 1988, Wiens 1967, FitzGerald 1972). (sosánh: cụm Tạng–Hán đốilập với cụm Môn‑Khmer và Việt‑Mường) Các biếnthể của dạng OC sơkỳ {2.1.1, 2.1.2, 2.1.3, v.v.} vềsau được binhlính và didân “Hán” mangxuống phươngNam đến vùng Annam (“Tonkin”) và dầndần hoànhập với ngônngữ Việtic {1.2.5.2} saukhi Việtic táchkhỏi nhóm Việt‑Mường.
Vềmặt biểutrưng, theo nghĩarộng, mộtmặt, các ngônngữ NamÁ {1.1} cóthể đứng cùng vịthế với các đặctính trùnglắp hoặc thậmchí đồngnhất với ngônngữ BáchViệt {1.2}, vốn nằm dưới tầng Tháicổ {1.0} trướckhi ngônngữ BáchViệt lịchđại {1.2} xuấthiện. Hàmý của kháiniệm “BáchViệt” lịchđại là nó không baogồm tiếngViệt như một ngônngữ có quanhệ ditruyền trựctiếp với phânnhánh Môn‑Khmer — điều mà thuyết NamÁ chủtrương {1.1}. Dođó, kháiniệm “NamÁ” bị cuốnhút vào một “liênhợp” với “ngônngữ BáchViệt”. Cái gọi là “ngữhệ NamÁ” được các nhàlýthuyết của nó giảđịnh như một dạng tổtiên của ngônngữ Môn‑Khmer, vốnđược cholà đã sinhra tiền‑Việt‑Mường và vềsau là tiếngViệt, theo cáchgọi của các nhàngônngữhọc hiệnđại. Nóicáchkhác, tấtcả đều là hậuduệ của một “ngữhệ NamÁ tổtiên rộnglớn”, và tiếngViệt được cholà xuấtphát trựctiếp từ nhánh Môn‑Khmer. Đólà một nhậnđịnh sailệch.

Hình 5 – Bảnđồ các cuộc dicư lịchsử BáchViệt thời cổđại
Nguồn: Nhiều nguồn tưliệu côngcộng trên liênmạng
Theo nghĩarộng, nếu ta khởiđầu từ tiềnđề rằng tiếngViệt có nguồngốc từ họ Tháicổ, thì cùng một khung phântích ấy sẽđược mởrộng mộtcách hợplý sang các nhóm ngônngữ khác như Nùng, Tày, Miêu, v.v. {1.2.1, 1.2.2, 1.2.3…}. Trong cáchnhìn này, cóthể giảđịnh rằng phânnhánh Việt‑Mường đã táchkhỏi dòngchảy BáchViệt vài thếkỷ trướckia, tạothành ngônngữ Việtic, điều được chứngthực qua các tàntích ngônngữ Mường còn lưulại trong tiếng Annam cổ. Giảđịnh ấy sẽ đặt nhóm Việt‑Mường vào dưới chiếc ôdù ngữhệ NamÁ {1.1}, nganghàng với các ngônngữ con của Môn‑Khmer {1.1.1, 1.1.2, 1.1.3, v.v.}, kểcả tiếngViệt. Cách sắpxếp này giúp lýgiải sựhiệndiện của các từ cơbản Môn‑Khmer thường được tríchdẫn, đồngthời vẫn giữđược tínhliêntục từnguyên của các dạng BáchViệt tổtiên {1.2} trong dòngchính ngônngữ Tháicổ {1.0}.
Cáchtiếpcận này càng có cơsở khi ta nhậnthấy rằng việc xácđịnh các điểm tươngđồng giữa tiếngViệt và các ngônngữ Daic‑Kadai (Tày-Nùng) dễdàng hơnnhiều sovới việcsosánh với các ngônngữ Munda ở Ấnđộ (xem Henri Maspero, “Les Langues Mounda”, Les Langues du Monde, 1952, tr. 624–25).
Đốivới tính đồngnguyên của từvựng cơbản giữa tiếngViệt và các ngônngữ Môn‑Khmer, các kếtnối từnguyên ấy khôngphùhợp với các môhình đồngbộ Hánngữ đang được khảosát ởđây. Về mặt tiếnhóa, bấtkỳ dấuvết từvựng Hán nào tìmthấy trong các ngônngữ Môn‑Khmer — nếucó — đều khámuộn, cólẽ chỉ xuấthiện trongvòng 300 đến 800 năm trởlạiđây, và nhiều khảnăng được truyềntải qua các tuyến thươngmại điqua ngã BắcViệt. Theo Ferlus (bảndịch từ tiếngAnh):
“Trong giaiđoạn thếkỷ III–VIII, một tuyến thươngmại đườngbộ cổ đã nối BắcViệt với Vịnh Tháilan. Sựluânchuyển của thươngnhân và lữkhách dọc tuyến này đã đểlại các ảnhhưởng vănhóa và ngônngữ của Trunghoa và Annam cổđại (dướisự đôhộ của Hán) qua vùng Khmer. (1) Một ố từ Hán — ít nhưng có ýnghĩa lớn — đã được Khmer vaymượn, rồi chuyểnsang tiếngThái; (2) Tên các congiáp trong hệ thậpnhịchi của tiếng Việtcổ đã được Khmer vaymượn và còn dùng đếnnay; và (3) Đốilập âmtiết /Căng ~ Lỏng/ của Hán Trungcổ đãđược chuyểntải, với nhiều hiệuứng khácnhau, sang Việtic, rồi sang Katuic và Pearic.” (Michel Ferlus, Linguistic evidence of the trans-peninsular trade route from North Vietnam to the Gulf of Thailand (3rd–8th centuries), 2012.)
Những từ vaymượn từ Mường và Việt trong bốicảnh hiệnđại cóthể đã lenlỏi vào bảng từvựng Môn‑Khmer như được tríchdẫn trong Mon-Khmer and Vietnamese Basic Words về từnguyên Môn‑Khmer.
Đốivới tiếngViệt và quátrình hìnhthành sớmsủa của nó, bốicảnh lịchsử khởidầu bằng việc thấtbại trong các cuộc khángchiến chống nhàHán xâmlăng. Các nghĩaquân đã theochân các nhóm Mường bảnđịa chống Hán rútvào vùng núi và các khuvực hẻolánh phíanam. Các ngônngữ Việt‑Mường bảnđịa cổ, vốn đượcnói bởi cưdân BáchViệt từ Hoanam đến châuthổ Sông Hồng ở Bắc Annam, vềsau phânnhánh thành tiền‑Việtcổ và tiền‑Mường.
Giảđịnh này giúp lýgiải vìsao tiếng Mường dườngnhư chứa nhiều từ gần với Môn‑Khmer hơn sovới tiếngViệt, ngoài phần từvựng chung với tiếngViệt. Không có mâuthuẫn nào trong quanhệ tamgiác này nếu ta xét hiệntượng tươngtự giữa Hán và Tạng: tuy có quanhệ ditruyền, nhưng chúng là hai ngônngữ khácbiệt, đặcbiệt ở từvựng cơbản và cấutrúc ngữpháp.
Trongkhiđó, ngônngữ giaotiếp của những nhóm cưdân cònlại ở vùng đồngbằng và duyênhải, vốn hợptác với chínhquyền Hán, đã trảiqua một quátrình hoàtrộn với các dạng Háncổ đang tiếnhóa. Các dạng Hán này vốn đã chứa lớp từvựng Tháicổ‑BáchViệt, thừahưởng từ ngônngữ nước Sở và vềsau từ nước NamViệt, như đã trìnhbày. Sự hoàtrộn này càng được củngcố bởi các đợt địnhcư của ngườiHán và các lànsóng didân từ Hoanam xuống Annam saukhi vùng này bị sápnhập vào Đếquốc Hán năm 111 TCN.
Gợiý cho luậnán tiếnsĩ ngônngữhọc tươnglai của bạn: Liệu tiếngViệt cóthể là kếtquả của một quátrình “giảnngữhoá” (pidginization – haylà tiếngbồi) của một dạng khẩungữ Hán bắtđầu từ thời Hán?
Và vào thờiđiểm ấy, ngônngữ Việtic cổ đã hấpthu một lớp lớn từvựng Háncổ, đặcbiệt từ khẩungữ Quanthoại, và cólẽ đã bắtđầu địnhhình saukhi táchkhỏi nhóm Việt‑Mường. Nóicáchkhác, dưới Đếquốc Hán, tiếngViệt pháttriển quanh một lõi Hánngữ. Các yếutố Háncổ được người Việtcổ tiếpthu và táitạo như nguyênliệu để tạotừ mới trong ngônngữ Việtic đang hìnhthành, được dùng bởi cả cưdân Annam bảnđịa lẫn ngườiHán táiđịnhcư.
Các quanlại và binhlính Hán đóng ở Annam dần bị đồnghoá qua hônnhân với phụnữ bảnđịa. Qua nhiều thếkỷ Hánhoá liêntục, họ cũng tiếpthu phongtục sởtại. Giaiđoạn hoàtrộn vănhóa kéodài này được phảnánh qua sựhiệndiện của các từnguyên Háncổ trong tiếngViệt, củngcố luậnđiểm về mứcđộ hộinhập từvựng sâuđậm. Thídụ: vuquy (于歸 yúguī), goábụa (寡婦 guǎfù), trờinắng (太陽 tàiyáng), trăngrằm (月圓 yuèyuán), cửasổ (窗戶 chuānghù), xecộ (車子 chēzǐ), v.v. Những từ này được dùng rộngrãi trong khẩungữ dângian, nuôidưỡng sựhìnhthành của Annam cổ. Mứcđộ phổbiến và chiềusâu ngữnghĩa của chúng chothấy tínhđồngnguyên giữa Háncổ và Việt vượtxa — cả về sốlượng lẫn mứcđộ hộinhập — sovới bấtkỳ ngônngữ Môn‑Khmer nào.
Bảng 7 – Sự hộitụ Hán‑Việt
| Tầng | Loại đặctính | Cặptừ thídụ | Ghichú |
|---|---|---|---|
| Âmvị | Tươngđồng thanhđiệu | nạ, má, mạ, mẹ, mợ, mụ | Chung đườngbiểudiễn thanhđiệu và lõi âmtiết |
| Ngữnghĩa | Từ chỉquan‑hệ thânthuộc | mợ, mái, trống, cồ, gàmẹ, cậumợ | Tầng ngữnghĩa chồnglớp giữa các phươngngữ BáchViệt |
| Từvựng | Bộphận cơthể, độngtừ cơbản | trốc, đầu, mắt, chân, ăn, nói, ngủ | Đồngnguyên với Quảngđông và Phúckiến |
| Vănhóa | Khẩungữ và thànhngữ dânian | gàmẹ, gàmái, gàtrống, gàcồ (trong các tổhợp thânthuộc) | Ănlẫn trong truyềndân gian và ngônngữ sinhoạt |
Tiếng Annam mới hìnhthành mang những đặctính độcđáo riêng, được địnhhình bởi thóiquen lờinói trong cộngđồng bảnngữ, đặcbiệt là môthức cóthể gọilà “ngữpháp BáchViệt”, tiêubiểu qua cấutrúc cúpháp {modified (ngữ) + modifier (bổngữ)}. Môthức này songhành với ngữpháp của tiếng Nùng, Tày và các ngônngữ Tày-Nùng khác, và đốilập với các môhình cúpháp của ngônngữ Munda hay Môn‑Khmer (xem Henri Maspero, Les Langues du Monde, 1952).
Lớp ngônngữ Việtcổ tiếptục được làmgiàu và táicấutrúc bởi hậuduệ của các lànsóng didân BáchViệt‑Hán hỗnhợp chủngtộc, những người đến Annam qua nhiều đợt khácnhau, như sửliệu Trungquốc ghilại trong giaiđoạn Giaochỉ (交趾郡) trởthành Giaochâu (交州) nằm dưới quyền caiquản của nhàHán. Ngônngữ của họ phảnánh sựhoàtrộn giữa các dạng Việtcổ sớm và nhiều lối phátâm phươngngữ Hán ở các thờikỳ khácnhau. Các tàntích từvựng như Bụt = 佛 Fó (Phật), bụa = 婦 fù (vợ), khơi = 海 hǎi (hải), buồng = 房 fáng (phòng), giường = 床 chuáng (sàn), tủ = 櫝 dú (tủ — đầugiường), đũa = 箸 zhú (trợ), thìa = 匙 chí (trì), v.v., đềulà những từ cơbản của tiếngViệt, và hiểnnhiên là những từnguyên đángtincậy sovới các đốitượng Hánngữ của chúng qua nhiều thờikỳ. (Xem Vương Lực 王力 安南 譯語 Annam Dịchngữ, Bùi Khánh Thế in What Makes Chinese So Vietnamese – Appendix I, Nguyễn Tài Cẩn’s Nguồn gốc Hình thành Cách đọc Âm Hán-Việt (‘Origin of the formation of Sino-Vietnamese pronunciation’), and What Makes Chinese So Vietnamese – Appendix H)
Trongkhi câuhỏi về mứcđộ liênhệ giữa tiếngViệt và Môn‑Khmer vẫncòn bỏngỏ, mụcđích chính ởđây là chấtvấn thuyết NamÁ vốn chorằng tiếngViệt có nguồngốc Môn‑Khmer. Trọngtâm của vấnđề là tính đồngnguyên của các từvựng cơbản tiếngViệt xuấthiện trong nhiều ngônngữ Môn‑Khmer. Lầnlượt, điềunày tấtyếu dẫnđến câuhỏi: “Ai vay của ai?” và các dạng câuhỏi tươngtự.
Điều thúvị là mộtphần đángkể của chính những từnguyên ấy lại hoára cũng đồngnguyên với Hánngữ và các ngônngữ Tạng‑Hán khác. Đó chínhlà lớp từvựng Hán‑Nôm theo nghĩarộng. Hiệntượng này phầnlớn bắtnguồn từ nhiều thếkỷ tiếpxúc thươngmại và didân, như Ferlus (2012) gợiý, và tiếptục kéodài đếntận cuối thếkỷ XVIII.
Tuyvậy, khôngcó sửliệu lịchsử dứtkhoát nào ghilại các quanhệ này — chỉcó mộtsốít từ cơbản cònđược bảotồn trong phạmvi ngônngữ tiềnsử. Những pháthiện mớiđược trìnhbày trong nghiêncứu này được dànhđể tiếptục thảoluận và khảocứu thêm trong giới họcthuật.
VIII) Kếtluận — Táiđịnhkhung nguồngốc tiếngViệt: Một lờigiải Hán–BáchViệt
Giảthuyết NamÁ Môn‑Khmer — từng được catụng như một phânloại dứtkhoát cho tiếngViệt — nay chỉcòn là một cấutrúc tạmthời, được hìnhthành nhiềuhơn bởi sựtiệnlợi phươngpháp hơnlà chiềusâu lịchsử. Việc dựadẫm vào các bảng từcơbản, các phụcnguyên giảđịnh và các phépsochiếu theo môhình Ấn‑Âu đã chekhuất tầng từnguyên phânlớp vốn ănsâu trong tiếngViệt.
Khảocứu này phụchồi trục Hán–BáchViệt như một tầng nềntảng, có trước các lớp NamÁ và phùhợp với các quanhệ đồngnguyên đãđược chứngthực giữa tiếngViệt, Quảngđông, Phúckiến và các phươngngữ gốc BáchViệt khác. Bằngcách đặt trọngtâm vào sửliệu, tiếnhóa thanhđiệu và từnguyên đadạng, khung Hán‑Việt trảlại vịthế ngônngữ cho liêntục BáchViệt.
Rốtcuộc, sựthật về tiếngViệt không nằmtrong một nhãnhiệu tổtiên duynhất, mà trong cấutrúc tổhợp của nó: một ngônngữ sống, được địnhhình qua nhiều thếkỷ hộitụ, didân và tổnghợp vănhóa. Phântích nó mộtcách giảnlược là bỏlỡ bảnchất. Nghiêncứu nó trong chiềusâu lịchsử mới là khởiđiểm đúngđắn.
Sách Thamkhảo
Benedict, Paul K. Austro-Thai Language and Culture, with a Glossary of Roots. New Haven: HRAF Press, 1975.
Cohen, Marcel, and Antoine Meillet. Les Langues du Monde. Paris: CNRS, 1952.
De Lacouperie, Terrien. The Languages of China Before the Chinese. London: Trübner & Co., 1887. Reprint 1965.
Ferlus, Michel. “Origine de la tonalité dans les langues môn-khmer.” Mon-Khmer Studies 41 (2012): 1–12.
Haudricourt, André-Georges. “De l’origine des tons en vietnamien.” Journal Asiatique 242 (1954): 69–82.
Karlgren, Bernhard. Grammata Serica Recensa. Stockholm: Museum of Far Eastern Antiquities, 1957.
Knud Lunbæk. T.S. Bayer (1694–1738), Pioneer Sinologist. Copenhagen: The Royal Library, 1986.
Maspero, Henri. “Les Langues austroasiatiques.” In Les Langues du Monde, edited by Antoine Meillet and Marcel Cohen, 582–583. Paris: CNRS, 1952.
Nguyễn Ngọc San. Tìm hiểu về Tiếng Việt Lịch sử. Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục, 1993.
Norman, Jerry. Chinese. Cambridge: Cambridge University Press, 1988.
Shafer, Robert. Introduction to Sino-Tibetan. Wiesbaden: Otto Harrassowitz, 1966–1974.
Wang Li (王力). Hànyǔ shǐgǎo (汉语史稿) [Draft History of the Chinese Language]. Beijing: Zhonghua Shuju, 1948.
Chúthích
(1)^ Michel Ferlus, Linguistic evidence of the trans-peninsular trade route from North Vietnam to the Gulf of Thailand (3rd-8th centuries). 2012.
(2)^ Khi thấy trong tiếngViệt có những yếutố Môn‑Khmer, người ta thường dễdàng kếtluận rằng tiếngViệt có nguồngốc từ ngữhệ Môn‑Khmer, bấtkể việc nó có thựcsự phátxuất từ cùng một gốc với các ngônngữ Môn‑Khmer hay không. Tuynhiên, phầnlớn các chuyêngia về tiếngViệt lại nghiêngvề hướng ngượclại, và chính từđây mà toànbộ cuộc tranhluận bắtđầu, mặcdù vẫn cóthể nóirằng các từ vay từ tiếngViệt xuấthiện trong những ngônngữ Môn‑Khmer khác (Ferlus, 2012). (Xem thêm trong Mon-Khmer and Vietnamese Basic Words.)
(3)^ Mẫuxương người Tianyuan, một bộ xương người bộphận, đã được pháthiện cùngvới nhiều hoáthạch độngvật thuộc thờikỳ Thượng Tânthế (late Pleistocene) vào năm 2003 trong hang Tianyuan gần diđiểm Chukhẩuđiếm ở miềnBắc Trungquốc, cách Bắckinh khoảng 50 km về phía tâynam. Bộxương này được địnhniên bằng carbon‑14 với kếtquả 34.430 ± 510 nămtrước (chưa hiệuchuẩn), tươngứng với khoảng ~40.000 năm lịchđại. Phântích hìnhtháihọc xácnhận đánhgiá banđầu rằng cáthể này thuộc loạingười hiệnđại, nhưng đồngthời chothấy nó mang mộtsố đặctính cổ, cóthể phảnánh dònggen từ các dạng người cổ hơn. Vìvậy, bộxương Tianyuan là mộttrongsố rất ít ditích người hiệnđại sớm hơn 30.000 năm được tìmthấy trên toàn vùng Âu‑Á, và là mộttrongsố càng ít hơn đượcbiết đến tại khuvực ĐôngÁ.

Bộxương Tianyuan, được pháthiện cùng với nhiều độngvật hoáthạch thuộc thời kỳ Thượng Tânthế vào năm 2003 trong hang Tianyuan gần diđiểm Chukhẩuđiếm ở miền Bắc Trungquốc, cách Bắckinh khoảng 50 km về phía tâynam. (Ảnh: GAO Xing)
Source: DNA Analyses Show Early Modern Human 40000 Years Ago in Beijing Area Related to Present-Day Asians and Native Americans (posted 1/27/2013 Chinese Academy of Sciences)
(4)^ Như ta đã biết, vào lúc nhàTần sụpđổ, Lưu Bang (劉邦) và các tướnglĩnh của ông thuộc nướcSở (楚國) được phụcdựng đã bị lưuđày vào vùng Hántrung (漢中); vìthế, tên gọi nhàHán (漢) được Lưu Bang chọn saukhi ông và quânlính – toànlà thầndân cũ của nước Sở – dướitrướng đánhbại Hạng Võ (項羽) của nước Sở.

Leave a Reply