Dấuvết Hệquả Chủtớ Đổidời trong TiếngViệt

by dchph in collaboration with Copilot

Decorative circular shield featuring carved rice stalks and a winding river pattern
Minhhoạ tấmkhiêng trangtrí hoavăn hoagạo và dòngsôngchảy.
(creAited by dchph with Jetpack)

Câuchuyện về nềnvănminh Trunghoa thường đượcxem như đólà một tiếntrình liêntục và pháttriển nộibộ. Nhưng khi quansát kỹhơn, ta thấy một thựctại phứctạp hơnnhiều: nềnvănminh ấy được địnhhình bởi những lànsóng xâmthực tiếnvào lưuvực Hoànghà và đểlại dấuấn khôngthể xoá vềmặt ngônngữ, vănhóa và căntính. Trongsố những luậnđiểm gây tranhluận nhất có quanđiểm của Terrien de Lacouperie là tácgiả chorằng các bộtộc Bak từ TâyÁ khôngphải là cưdân bảnđịa Hoalục màlà những kẻngoạixâm, và sựxuấthiện của họ đã làm biếnđổi những nềntảng thời bansơ của xãhội tiền-Hán.

Giảthuyết những kẻxâmnhập này táiđịnhkhung vănminh Trunghoa với cấutrúc ngoạilai hìnhthành qua nhiều thếkỷ tiếpxúc với các bộtộc BáchViệt (Yue) và sựbànhtrướng đếquốc từ phíabắc của tộcngười Altai và Thổ-Thátđát (Turko‑Tartar). Khi họ là khách từ nướcngoài đến họ là kháchtrú ngoạilai, nhưng khi họ đến mà không mời thì họ là nhữ kẻxâmnhập tráiphép, và khi họ ởlì khôngchịu rời thì họ là những khách tiếmquyền làmchủ đã biếnthành những kẻxâmlấn cướpcủa hiếpngười , chủtớ đổingôi. Tiếntrình ấy vươnđến Việtnam qua các lànsóng namtiến và hệquả là tiếngViệt thừahưởng một disản ngônngữ đatầng với lớpnền Yue và các yếutố Hán vaymượn đadạng cùng tồntại.

I) Saolại chútrọng những “kháchtrú ngoạilai” kia đếnthế?

Kháiniệm “kháchtrú ngoạilai” với ýnghĩa là kẻxâmnhập ởđây khôngchỉ mang tínhlịchsử màcòn tínhhiệnsinh. Nó tháchthức quanniệm về một bảnsắc Trunghoa thuầnnhất tựthân và thayvàođó nhấnmạnh nguồngốc đatầng của cả tiếngHán và tiếngViệt. Những đặcđiểm như trậttự từ { Chủtừ + Độngtừ + Túctừ } (SVO), hệthống loạitừ và sự hìnhthành thanhđiệu chothấy dấuấn của các ngônngữ Môn và Thái đốivới tiếngHán sơkỳ. Chính những đặcđiểm này vềsau cũng địnhhình tiếngViệt, chothấy sựxâmnhập đã tạonên tínhliêntục xuyênvùng.

Bằngcách đặt vaitrò của những kháchtrú ngoạilai xâmnhập Hoalục thuởbansơ là một phươngcách làm sángtỏ bềmặt chínhtrị của bảnsắc ngônngữ. Cũngnhư sửký các triềuđại thường chekhuất đónggóp của các dântộc phi-Hán, họcthuật hiệnđại đôikhi giảmnhẹ vaitrò của yếutố BáchViệt (Yue) và NamÁ trong tiếngViệt. Khảocứu này lậpluận rằng chỉkhinào thừanhận những sựxâmnhập ấy, ta mới cóthể hiểurõ bảnchất ngoạilai của từnguyên tiếngViệt.

Khảocứu này đánhgiá lại nguồngốc của vănminh Trunghoa thuởbanđầu và sựbánhtrướng của nó xuống các vùng lãnhthổ phíanam, baogồm cả Việtnam ngàynay. Dựa trên Terrien de Lacouperie và các họcgiả tiếptheo, bàiviết này chorằng cộngđồng nguyênthỉ của ngườiHán – các bộtộc Bak từ TâyÁ – là những kháchtrú ngoạilai lãnhthổ và vănhóa chứ khôngphải cưdân bảnđịa của lưuvực Sông Hoànghà. Cùngvới các nhóm Altai và Turko‑Tartar, họ dần thâmnhập xuống miền Hoanam, thaythế hoặc đồnghoá các cộngđồng BáchViệt bảnđịa. Sựhoàtrộn giữa các dântộc và truyềnthống này đặt nềntảng cho các triềuđại banđầu và địnhhình quỹđạo của tiếngHán, một ngônngữ laihoá được hìnhthành qua nhiều thếkỷ tiếpxúc đachủngtộc. Tínhlaihoá ấy tiếptục lanxuống Việtnam thờicổđại qua các lànsóng dịchchuyển và bànhtrướng đếquốc.

Trunghoa từlâu vừalà lánggiềng vừalà đốitrọng của Việtnam, sựhiệndiện của đốiphương vừa địnhhình vừa gây tranhcãi. Hỏi: Trunghoa đạidiện cho điềugì và người Trunghoa nên được hiểunhư thếnào trong tươngquan với Việtnam? Đó chínhlà sựđốimặt với những nghivấn về bảnsắc dântộc, disản vănhoá, và sựkhángcự đồnghoá. Các mốiliênhệ lịchsử và ngônngữ giữa hai nềnvănhoá rất sâuđậm, nhưng mứcđộ tiếngViệt chịu ảnhhưởng từ truyềnthống Trunghoa vẫnlà nguồngốc của sựbấtan. Với nhiều ngườiViệt, thừanhận ảnhhưởng ấy dườngnhư làm suygiảm bảnsắc dântộc dù có bằngchứng cùngchung chiasẻ về các giaitầng ngônngữ và vănhóa là khôngthể phủnhận.

Quákhứ Việtnam khôngthể táchrời khỏi sựđanxen lâudài và phứctạp với Trunghoa. Những nỗlực kiếntạo một câuchuyện hoàntoàn độclập bằngcách chọnlọc mộtsố yếutố vănhóa riệngbiệt có nguycơ chekhuất sựthật đầyđủhơn. Vìvậy bàiviết này tiếpcận vấnđề qua ba chủđề đanxen: bảnsắc dântộc mà mỗi quốcgia tựđịnhnghĩa cho mình qua các tươngquan; ngônngữ đượcxemlà hồsơ ghinhận sự tiếpxúc, vaymượn và thíchứng; và quyềnlực của kẻ dùng sứcmạnh để chinhphục và sứckhángcự đã lưulại dấuấn gì qua ngônngữ lẫn lịchsử.

Một giảithích đángtincậy về nguồngốc Việtnam khôngthể dựatrên những huyềnthoại lãngmạn về một dòngdõi bốnnghìn năm khôngđứtđoạn mà phải dựatrên họcthuật nghiêmtúc với bằngchứng xácthực. Bằngcách khảosát hồsơ ngônngữ songhành với tưliệu lịchsử, bàiviết này tìmcách làm sángtỏ cách tiếngViệt đã hìnhthành rasao qua nhiều thếkỷ đốithoại xungđột và traođổi hoàhoãn với Trunghoa, một tiếngnói vừa riêngbiệt vừa mang dấuấn inđậm tứ lánggiềng gầnnhất. (1)

Đồngthời lýthuyết NamÁ về quanhệ Việt‑Khmer phầnlớn dựatrên các sosánh từvựng rútra từ lớptừ Môn‑Khmer. Dù khung lýthuyết này thuhút nhiều sựchúý, nềntảng của nó dựatrên một tậphợp dữliệu ngônngữ nhỏhẹp nên cầnđược xemxét và đánhgiálại trong bốicảnh lịchsử và sosánh rộnghơn. (2)

Khảocứu này mởrộng các nghiêncứu trướcđây bằngcách tíchhợp tưliệu lịchsử với bằngchứng ngônngữ để đánhgiá lại sựpháttriển của tiếngViệt. Nó cảnhbáo rằng khi những phứctạp lịchsử tiềmẩn trong nghiêncứu từnguyên bị bỏqua, các họcgiả trẻ có nguycơ lặplại những lốimòncũ và không chothấy tiếnbộ nào trong cách diễnngôn mới. Những tháchthức phươngphápluận lâudài trong cả hai khung truyềnthống lẫn hiệnđại tiếptục địnhhình cách diễngiải và đôikhi đểcho thiênkiến ýthứchệ nhuộmmàu các tuyênbố về tínhkháchquan.

Trong bàiviết này tácgiả tiếpcận các câuhỏi tậptrung từ gócnhìn lịchsử và đưara bằngchứng để củngcố mộtsố luậnđiểm chính:

  • Các độnglực địalý-chínhtrị gópphần làm sailệch hoặc chekhuất hồsơ lịchsử và ngônngữ chủyếu do phảnứng dântộcchủnghĩa trước ảnhhưởng Trunghoa.
  • Sựđốikháng lâudài đốivới báquyền Trungquốc làm suygiảm khả năng phântích kháchquan về nguồngốc tiếngViệt đặcbiệt trong các giaiđoạn xaxưanhất.
  • Từnguyên tiếngViệt khi được đánhgiá trong khung Hánngữ chothấy dấuấn Trunghoa chiphối yếutố địnhhình liêntục lên sựpháttriển của tiếngViệt và phảiđược xemxét nghiêmtúc trong mọi lýthuyết quanhệ ngônngữ.

Nếu những ngườicổvõ lýthuyết NamÁ Môn‑Khmer dựa lậpluận trên các suyđoán táidựng về những sựkiện cáchđây hàngnghìnnăm thì các phảnbiện dựatrên bằngchứng lịchsử và nhânchủnghọc cũng xứngđáng được xemxét với vế tươngđương. Một quanđiểm nhưvậy dựatrên nguyênlý Darwin về chọnlọc tựnhiên: sựhiệndiện của các yếutố cốtlõi Hánngữ trong tiếngViệt cóthể phảnánh một quátrình giaothoa chủngtộc và vănhóa lâudài. Điềunày baogồm hônphối giữa cưdân BáchViệt bảnđịa và các lànsóng người từ phươngbắc đến địnhcư, tức người Trunghoa. Những tươngtác ấy kéodài từ thờitiềnsử và đểlại dấuấn sâuđậm và bềnvững trong tiếngViệt.

Ngônngữ giốngnhư sinhhọc tuântheo quỹđạo tiếnhóa riêng. Để hiểurõ tiếngViệt ta cần lýthuyếthoá nguồngốc của người BáchViệt (Yue) và truydấu sựpháttriển từ ngữhệ Hán và các phươngngữ của chúng dù là Hánngữ trong hệ Hán‑Tạng haylà từ Mon‑Khmer của ngữhệ NamÁ. Vào thếkỷ XVIII Ngài William Jones nhậnra những tươngđồng về cấutrúc và từvựng giữa Sanskrit Hylạp và Latinh mà từđó hìnhthành kháiniệm ngữhệ Ấn‑Âu. Sự tinhthông 28 ngônngữ giúp ông nhậnra rằng những tươngđồng ấy khôngphải ngẫunhiên mà được thừahưởng màlà từ một nguồngốc chung Tiền-Ấn-Âu. (Merritt Ruhlen, The Origin of Language, 1944 [1994], p. 27).

Như Merritt Ruhlen nhậnxét, trựcgiác của William Jones chorằng ngônngữ tiếnhóa qua ditruyền có biếnđổi đã dựbáo trước hơn bảymươi năm thuyết tiếnhóa của Darwin. Bước songhành giữa tiếnhóa ngônngữ và tiếnhóa sinhhọc nhấnmạnh tầmquantrọng của phươngpháp sosánh trong việc truytìm nguồngốc và quanhệ ngônngữ.

Darwin sauđó khẳngđịnh rằng phânloại ngônngữ giốngnhư phânloại sinhhọc dựatrên từngữ và đặcđiểm cấutrúc chung. Trong The Descent of Man ông lưuý rằng nếu hai ngônngữ có nhiều tươngđồng về từngữ và cấutrúc chúng có khảnăng xuấtphát từ một nguồngốc chung ngaycảkhi chúng khácnhau ở một số phươngdiện. Đángtiếc là nguyênlý này phầnlớn bị giới ngônngữhọc lịchsử bỏqua trong nhiều thậpkỷ gầnđây.

Ngàynay các nghiêncứu liênngành kếthợp ditruyềnhọc, ngônngữhọc, khảocổhọc, và sinhhọc tiếnhóa mởra những hướng tiếpcận hứahẹn để hiểurõ nguồngốc và sựlantỏa của các ngônngữ loàingười. Ruhlen nhấnmạnh tầmnhìnxa của Darwin trong The Origin of Species nơi ông hìnhdung rằng một bảnđồ phảhệ của nhânloại sẽ cungcấp hệthống phânloại chínhxácnhất cho các ngônngữ thếgiới. Nếu baogồm cả các ngônngữ đã tuyệtchủng và các phươngngữ chuyểntiếp bảnđồ ấy khôngchỉ lýtưởng mà còn cầnthiết.

Dựatrên khung tiếnhóa này phần tiếptheo sẽ khảosát việc lýthuyếthoá về tộcngười BáchViệt (Yue) như những tiềnthân vănhóa và ngônngữ của các cộngđồng tiền‑Hán ở Hoalục thờicổđại qua bằngchứng nhânchủnghọc và ngônngữhọc để làmsángtỏ vaitrò của họ trong việc địnhhình tiếngViệt.

II) Các bộtộc Bak và vănminh Trunghoa thờisơkhai

Terrien de Lacouperie với thuyết “Sino‑Babylonian” chorằng các bộtộc Bak có nguồngốc từ TâyÁ đã dicư về phíađông và địnhcư tại lưuvực Sông Hoànghà. Những nhóm này khôngphải cưdân bảnđịa màlà những kháchtrú ngoạilai lãnhthổ và vănhóa, và sựxuấthiện của họ đã táicấutrúc nềntảng của xãhội Trunghoa thờisơkhai. Ảnhhưởng của họ khônghề nhỏ: nó lanrộng đến nôngnghiệp, luyệnkim và các hệbiểutrưng saunày trởthành đặctrưng của vănminh Trunghoa.

Bằngchứng khảocổ và vănbản chorằng các nhóm Bak mang theo nhiều yếutố vănhóa Lưỡnghà, baogồm hiểubiết về phéplàmlịch và các thựchành tiền‑văntự. Những sựxâmnhập này hoàtrộn với truyềnthống sởtại, tạonên một vănminh laihoá mà vềsau được hệthốnghoá dưới các triều Thương và Chu. Lưuvực Hoànghà, vốn đượcxemlà cáinôi của vănhóa Trunghoa, vìthế trởthành điểm gặpgỡ giữa các cộngđồng Tânthạchkhí bảnđịa và những nhóm Bak dicư đến từ phươngTây.

Nguồngốc laihoá này giảithích vìsao vănminh Trunghoa thờisơkhai mang nhiều đặcđiểm cộnghưởng với các truyềnthống phi‑Hán. Triều Thương (khoảng 1600–1046 TCN), chẳnghạn, pháttriển kỹthuật đồđồng và hệ chữtượnghình mang dấuấn ngoạilai. Triều Chu (1046–221 TCN) tiếptục tíchhợp những yếutố ấy vào khung lễnghi và tưtưởng, từđó hìnhthành cái mà vềsau được gọi là “vănhóa Trunghoa cổđiển”.

Vềmặt nghiêncứu Việtnam, thuyết xâmnhập người Bak có ýnghĩa thenchốt. Nó chorằng bảnthân vănminh Trunghoa khônghề thuầnnhất màlà một kếtcấu đatầng được hìnhthành bởi những kháchtrú ngoạilai từ bênngoài đến. Nhậnthức này táiđịnhvị quanhệ Hán‑Việt: nếu Trunghoa vốn đã laihoá từ đầu, thì các vaymượn ngônngữ và vănhóa của Việtnam từ Trunghoa cũng phải được hiểunhư một phần của môhình giaothoa vănhóa rộnglớn hơn.

Trong The Languages of China Before the Chinese (“Ngônngữ ở Hoalục trướckhi có ngườiHán”, London, 1887; táibản Đàiloan, 1966), Terrien de Lacouperie đềxuất một giảthuyết táobạo về nguồngốc của vănminh Trunghoa thờisơkhai. Ông chorằng hạtnhân banđầu của ngườiHán gồm khoảng hơn mười bộlạc tộcngười Bak có nguồngốc từ TâyÁ, cụthể là vùng tâynam dãy Hindu Kush. Theo Lacouperie, các thủlĩnh Bak có trìnhđộ vănhóa cao hơn các nhóm kỵmã dumục phươngbắc, vốn nay được xếpvào hệ Altaic Turco‑Mongolic (xem Peter A. Boodberg, 1979).

Chịu ảnhhưởng từ vănhóa Susiana, một nhánh của Babylon, các bộtộc Bak đã tiếpthu trithức về nghệthuật, khoahọc, quảntrị và các dạng tiền‑văntự. Khoảng năm 2300 TCN, họ dicư vào lưuvực Hoànghà, đi cùngvới các nhóm Altaic từ phươngbắc, và chạmtrán các cộngđồng bảnđịa phươngnam. Trong nhiều thếkỷ, những nhóm địnhcư sớm này trúđóng tại vùng nay là Camtúc và Thiểmtây, đặcbiệt gần vĩđộ Thànhphố Tháinguyên. Sự mởrộng về phíanam của họ bị chặnlại bởi các thếlực phươngbắc, đángchúý là các bộlạc Nhung và Hungnô (匈奴), được sửsách Trunghoa môtả là những “mantộc hùngmạnh”. Giaiđoạn này trùngvới thời Vua Thuấn (舜, 2043–1990 TCN), người kếvị từ Vua Nghiêu (堯, 2146–2043 TCN) ở vùng tâynam Thiểmtây.

Khi đếnnơi, các nhóm tiền‑Hán dần lantoả khắp vùng, thâmnhập vào các cộngđồng bảnđịa và thiếtlập quyềnkiểmsoát trên những lãnhthổ rộnglớn. Đồngthời, các nhóm phươngbắc tiếptục đổxuống, đôikhi liênminh với các bộlạc sởtại trong các cuộc nổidậy hoặc trong tìnhtrạng thầnphục lỏnglẻo trước quyềnlực Thiêntriều đang hìnhthành. Sự khángcự đồnghoá thường bị trấnáp hoặc đẩylùi, khiến nhiều nhóm bảnđịa buộc bỏchạy xuống phươngnam.

Khácvới các cộngđồng bộlạc côlập dọc biêngiới Tâytạng, Đàiloan hay quầnđảo Philippines, phầnlớn cưdân trên bánđảo Đôngdương vốncó nguồngốc từ Hoanam. Như Lacouperie nhậnxét: “Dântộchọc của bánđảo khôngthể táchrời khỏi quátrình hìnhthành của Trunghoa”, một mốiquanhệ haichiều đã địnhhình cả ngônngữ lẫn vănhóa. TiếngHán, tuy chiếmưuthế, vẫn tiếpthu nhiều yếutố từ các ngônngữ bảnđịa, vốn khácbiệt với các ngônngữ Altaic hay Turko‑Tartar của những tộcngười phươngbắc trướcđó. Thayvàođó, tuyến ngônngữ Hán sơkỳ sátlại gầnvới nhánh Tây‑Ugric của họ Turanian, đặcbiệt là các phươngngữ như Ostiak.

Dưới triều nhàHạ, khoảng năm 2000 TCN, ngônngữ của nhóm chinhphục Hán bắtđầu hoàtrộn với ngônngữ bảnđịa khi họ tiếptục tiếnbước xuống vùng đôngnam hướngvề đồngbằng Sông Dươngtử. Sự hoàtrộn này đánhdấu một giaiđoạn thenchốt trong tiếnhóa ngônngữ Hán, được địnhhình bởi cả hìnhthức chinhphục lẫn giaothoa vănhóa.

“[..] Các bộlạc bảnđịa ở Hoalục ứngxử với các bộtộc Bak tiền-Hán khi họ tiếnbước qua vùng Camtúc hiệnđại xuống phíanam Thiểmtây, với những chạmtrán khôngphải lúcnào họ cũngđược đónnhận theo cùng một phongcách. Mộtsố cộngđồng tỏra thânthiện ngaytừđầu, trongkhi những nhóm khác chốnglại bướctiến của họ; và tìnhtrạng này lặplại nhiềulần trongsuốt lịchsử hìnhthành tộcngười Hán. Lúc banđầu, thếlực ngườiHán còn nhỏbé và khôngquantrọng, ưuthế duynhất của họ chỉlà trìnhđộ vănhóa. Trên đường tiếnbước, họ buộcphải xuyênqua các khu cưdân bảnđịa, hoặc bằng các thoảthuận hoàhiếu và hoànhập, hoặc trong trườnghợp cầnthiết thì bằng chiếntranh và chinhphục, với sự trợgiúp của những bộlạc thânthiện.

Họ thường thiếtlập các đồntiềnphương, và các khuđịnhcư quânsự là nơi những người địnhcư của họ cóthể trúẩn khi các cộngđồng bảnđịa tỏra thùđịch. Theo thônglệ, trong lịchsử mởrộng và tiếnhóa của họ, sứcmạnh quânsự Hán thường đitrước mởđường cho những nhóm địnhcư trong những vùngđất mà họ thèmmuốn ngàycàng đông. Họ là những người thựctế luôn đẩyra bênlề những kẻ vôluật, những kẻ bị ruồngbỏ và tộiphạm — những kẻ này, cùngvới những kẻbấtmãn và các thươngnhân vãnglai, đã mởđường cho sựmởrộng chínhthức về sau. Các cộngđồng và nhànước phi‑Hán theo cáchđó dầndần bị đồnghoá vào dòngmáu Hán. Chínhsách này hầunhư khôngbaogiờ bị bỏsót, ngaycả khi về sau quyềnlực của họ đủ mạnh để dùng những biệnpháp nhanhchóng và quyếtliệt hơn.

Dưới sứcép bướctiến của ngườiHán — hoặc bằng sựthấmnhập chậmrãi, hoặc bằng sựlấnlướt côngkhai — các cộngđồng tiền‑Hán dầndần rútxuống phươngnam; mộtsố bị hoàtrộn và hấpthu; mộtsố khác, hàilòng với áchthốngtrị ngườiHán, dần đánhmất bảnsắc riêng và trởthành mộtphần của tộcngười Hán. Lạicó những nhóm bị lôikéo vào tiếntrình ấy bằng những biệnpháp tinhvi của nhànước Hán: họ được ban tướchàm, ấntín, và nhưthế bị biếnthành quanlại Hán, đôikhi trái với ýmuốn thâmkín của họ. Chừngnào triềuđình Trungquốc còn chưađủmạnh để đòihỏi nhiềuhơn, họ chỉ yêucầu thuế nhẹ và sựthầnphục danhnghĩa. Những nhóm tiền‑Hán nào cựclực phảnđối quyềnlực Hán thì lầnlần bịbuộc didời nơikhác — hoặc theo ýmuốn của họ, hoặc trong những vùngđất mà ngườiHán cốý bỏtrống để đẩy họ vào. Rất nhiều bộlạc theo cách đó đãbị dẫndắt rờikhỏi Hoalục hoàntoàn, như ta đã thấy nhiều lần trong nghiêncứu này.

Sựkhuấtphục dầndần của các nhóm tiền‑Hán là một tiếntrình hếtsức lâudài, bắtđầu từlúc các bộtộc Bak tổtiên ngườiHán xuấthiện, và trên thựctế vẫnchưa chấmdứt, dù điểm kếtthúc cólẽ khôngcònxa. Trong một thờigian rấtdài, lãnhthổ ngườiHán chỉ rất nhỏ; và vềsau, dù trên bảnđồ trông cóvẻ rộnglớn, thì trên thựctế quyềnlực Hán chỉ thựcsự hiệulực trên một vùng nhỏhơn nhiều. Các đồntiềnphương dọc biêngiới của vùng Hán kiểmsoát thựcsự thường đượcdùng để đặttên cho những vùngđất mà thựctế vẫn chưachịu khuấtphục, dù bềngoài cóvẻ như đã thuộc Hán. Điềunày xảyra vì mọi tiếpxúc cầnthiết giữa các cộngđồng độclập và nhànước Hán đềuphải thôngqua các quanlại tại những đồntiềnphương ấy — những người được bổnhiệm với những tướchàm rấtcao để phụtrách chính việc đó.”

(Lacouperie. Sáchđãdẫn. pp. 106-108.)

Bảng 1 – Những kẻxâmlấn Hoalục

Không kém thúvị trong những thànhquả của nghiêncứu hiệnđại về lịchsử và ngônngữ phươngĐông khi ta biếtrằng ngườiHán vốnlà những kháchtrú ngoạilai chứ khôngphải cưdân bảnđịa trên chính lãnhthổ của họ. Tuyvậy, phátbiểu thẳngthắn này cầnđược điềuchỉnh: ngườiHán hiệnđại là một tộcngười laihoá, và tiếngHán cũnglà một ngônngữ laicăn — cảhaithứ đềulà kếtquả của sựhoàtrộn giữa những nhóm didân từ miền tâybắc và bắc với những cộngđồng cưtrú trướckia thuộc nhiều chủngtộc khácnhau, đặcbiệt là các nhóm thuộc hệ Indo‑Pacific.

Nhậnthức chínhxác hơn này, cólợi cho triếtlý lịchsử, được hìnhthành nhờ việc khảosát kỹlưỡng hơn các truyềnthống sơkhai của họ, việcxácđịnh nghiêmtúc các địadanh được nêura ởđó và trongsuốt lịchsử vềsau, cùngvới việc phântích nhiều tưliệu lịchsử và những ghichép về các chủngtộc phi‑Hán từng địnhcư ngay trong lòng Hoalục, nhưnglại bị sắpxếp một cách vụngvề dưới nhãn “ngoạiquốc” trong các bộ Chínhsử Triềuđại.

Những kháchtrú ngoạilai và khaihoá Hoalục thờisơkhai chínhlà các bộtộc Bak, khoảng mườisáu nhóm, đã xuấthiện ở biêngiới tâybắc Hoalục khôngbaolâu sau cuộcbiếnđộng lớn xảyra tại Tây‑NamÁ vào đầu thếkỷ XXIII TCN ở vùng Susiana. Quêhương cũ của họ nằm trong vùng ảnhhưởng mạnhmẽ của nềnvănhóa Susiana, vì họ đã quenthuộc với nền vănhóa ấy — một phảnchiếu của trungtâm Babylo‑Assyrian.”

(Lacouperie. Sáchđãdẫn. pp. 113-114)

III) Những kháchtrú ngoạilai khác và các chuyểndịch triềuđại

Các bộtộc Bak khôngphải là những kháchtrú ngoạilai ngoạilai duynhất để lại dấuấn lên vănminh Trunghoa thờisơkhai. Các triềuđại tiếpnối nhau cho thấy một môhình lặplại của sự xâmnhập và hoànhập, nơi những nhóm dânngoạilai táicấutrúc cảnhquan vănhóa và ngônngữ.

  • NhàThương (khoảng 1600–1046 TCN): NhàThương được nhớđến với giápcốtvăn và kỹthuật đồđồng. Tuyvậy, bằngchứng khảo‑cổ chorằng nềntảng vănhóa của họ khôngthuần bảnđịa. Sự tiếpxúc với các nhóm Thái và tiền‑Altaic lánggiềng đã đưa vào những thựchành lễnghi mới và những đặcđiểm ngữâm sơkhai, đặt nềntảng cho sự hìnhthành thanhđiệu trong tiếngHán.
  • NhàChu (1046–221 TCN): NhàChu củngcố quyềnlực bằngcách hấpthu nhiều bộlạc khácnhau vào hệthống phongkiến của họ. Việc họ tiếpthu từvựng lễnghi phi‑Hán và các phép làmlịch ngoạilai cho thấy tiếntrình laihoá vănhóa Trunghoa vẫn tiếptục. Các truyềnthống tưtưởng như Nhogiáo và Đạogiáo xuấthiện trong bốicảnh giaothoa vănhóa này, chứ khôngphải trong sựcôlập.
  • NhàTần (221–206 TCN): NhàTần thốngnhất Hoalục về mặt chínhtrị, nhưng sự mởrộng quânsự của họ dựa nhiều vào kỹthuật vaymượn từ các lánggiềng dumục. Việc chuẩnhoá chữviết và hệthống đonglường tựthân nó là một hànhđộng hoànhập, hoàtrộn các thựchành vùngmiền vào một môhình trungương.
  • NhàHán (206 TCN–220 SCN): NhàHán thường đượcxemlà thờikỳ hoàngkim của vănminh Trunghoa, nhưng triều Hán lại chịu ảnhhưởng sâuđậm từ các tiếpxúc TrungÁ và Turko‑Tartaric. Conđường Tơlụa mang đến khôngchỉ hànghoá màcòn cả vaymượn ngônngữ và vănhóa. Nhiều vănbản Hán ghilại các từ BáchViệt (Yue) và Tháicổ đượcdùng trong từngữ hằngngày, một bằngchứng về sựliêntục xâmnhập .

Chuỗi triềuđại này chorằng bảnsắc Trunghoa khôngbaogiờ tĩnhtại. Mỗi vươngtriều đều hấpthu các yếutố từ ngoạilai, dệt chúng vào kếtcấu vănhóa đang tiếnhóa. Cái gọi là “Trungquốc” thựctế chỉlà một điểm gặpgỡ của nhiều vănhóa.

Bảng 2 – Và những kẻngoạilai khác

Nhiều tộcdân và bộlạc, vì những lýdo tươngtự như các bộtộc Bak ngườiHán, hoặc bị cuốnhút bởi sựgiàucó và vănhóa của bộtộc tiênphong, họ lôikéo nhau vào Hoalục, đedoạ sựtồntại của quanquyền sởtại, nhiềukhi còn tiếmđoạt mộtphần trên hoặc toànbộ lãnhthổ, đểrồi vềsau biếnmất — nhưng khôngphải ai trướckhi mất đều đểlại dấuấn của họ trong vănhóa, ngônngữ và thànhphần sắctộc.

Rợ Nhung, vốnlà mộtphần đitrước ngườiHán; các nhóm Tek, Khang, v.v., mà trong nghiêncứu này đã đềcập tới là những bộtộc gópphần làm tăng sốlượng kẻbấtmãn, những giatộc Hán bị lưuđày, cũngnhư các bộtộc bảnđịa trong vùng tiền‑Hán. Giờđây ta phải đềcập cụthểhơn đến những kháchtrú ngoạilai ngoạilai khác đã đểlại ảnhhưởng đángkể vềmặt chínhtrị hoặc vănhóa.

Những kháchtrú ngoạilai cổnhất thuộc loại này là tộcdân lậpnên nhàThương 商, têngọi của họ gợiý rằng họ vốnlà những thươngnhân, trongkhi truyềnthống chothấy họ có gốcgác vùng phíatây gần dãynúi Cônluân, và cólẽ có liênhệ họhàng với Rợ Nhung. Bộtộc này xuấthiện ở vùng tâybắc nơi các khuđịnhcư dânHán từđầu thếkỷ XVI TCN; họ lậtđổ nhàHạ, chiếm các vùng Thiểmtây, Sơntây và Hànam khiấy do ngườiHán kiểmsoát, còn thì đẩy thầndân nhàHạ 廈 về phía duyênhải.

NhàChu 周, vốncó têncổ là Tok, là lựclượng đã đánhđỗ nhà Thương‑Ân 殷 và thiếtlập vươngtriều huyhoàng của họ trên đất Hoalục vào năm 1050 TCN; mộtsố nhóm tộcngười Chu đã lưulại dọc biêngiới ngườiHán ở Thiểmtây trongsuốt vài thếkỷ. Họ rất cókhảnăng là người Kirghiz tócđỏ, và cólẽ mang trong mình mộtphần huyếtthống Aryan. Điềunày được gợiý bởi việc họ quenthuộc với một số kháinệm xuấtphát từ trungtâm vănhóa Aryan ở Kwarism, mà họ đã dunhập vào Hoalục; và bởi việc mộtsố chúgiải được thêmvào các bản cổvăn của Kinhdịch bởi quânvương của họ — Vănvương — rõràng được gợiý từ những tiếngđồngâm của các từvựng Aryan.

NhàTần 秦 Ts’in, hay đúnghơn là Tan (âmđọccổ), hìnhthành một nhànước trọngđại ở phíatây của khốiliênminh tộcdân Hán. Nước này lớnmạnh từ thếkỷ X đến thếkỷ III TCN; saukhi đánhđỗ sáu nước lớn khác trong liênminh, quânvương của thầndân nước này lậpnên Đếquốc Tần (Hán) và lênngôi Hoàngđế vàonăm 221 TCN. Hạtnhân của nước Tần khôngphải là ngườiHán, mà gồm các bộlạc Rợ Nhung đã dầndần hấpthu nhiều thànhphần Hán từ bêntrong, cũngnhư các bộtộc Thổ-Thátđát (Turko‑Tatar) đếntừ bênngoài biêngiới, vốnđã không rõràng về ranhgiới. Lãnhthổ nước này là một hànhlang mà quađó các tiếpxúc từ phươngtây thấmnhập vào Hoalục — hoặc cònlà một vùngđệm ngănchặn những tiếpxúc ấy.

(Lacouperie. Sáchđãdẫn. pp. 123-125)

IV) Những ngônngữ ở Hoalục trướckhi có ngườiHán

Tácphẩm nghiêncứu The languages of China before the Chinese của Terrien de Lacouperie xoayquanh việc khảosát các phươngngữ tiền‑Hán của cưdân bảnđịa và ảnhhưởng của chúng đốivới quátrình hìnhthành banđầu của tiếngHán và vănhóa Hoahạ. Nhiều côngtrình nhấnmạnh sựtồntại của ngữhệ Taic, tươngứng với các phươngngữ Môn-Tháicổ (Mon‑Taic) từng phổbiến khắp Hoalục cổđại. Điềunày chothấy nền vănhóa Hoahạ tiền-Hán sơkỳ chịu ảnhhưởng đángkể từ các ngônngữ sởtại, vốn đã địnhhình cấutrúc và thànhtố của nó. Đáng chúý hơn, tộcdân Pong hay Pan‑hu, từng giữ vịthế thốngtrị tại Trungnguyên trướckhi có các đợt dicư của ngườiHán, lại gắnliền với nhiều truyềnthuyết và truyềnkhẩu thuậtlại về nguồngốc của nềnvănminh Hoahạ tiền Tần-Hán.

Hơnnữa, quanđiểm chorằng bảnsắc cộngđồng và ngônngữ Hoahạ được hìnhthành từ nhiều lớptầng vaymượn khácnhau đã được củngcố qua các nghiêncứu về bộtộc Bak từ vùng TâynamÁ. Cáchnhìn này nhấnmạnh tính phứchợp và đavănhóa của Hoalục, gợiý rằng các yếutố ngônngữ như trậttự SVO và thanhđiệu trong tiếngHán có liênhệ với các ngônngữ Môn và Tháicổ phảnánh sựđanxen của các căntính ngônngữ sơkỳ trên phạmvi rộng.

Từ thuở bansơ trướckhi bảnsắc “ngườiHán” được củngcố, lưuvực sông Hoànghà vốnlà một bứctranh ghépkhối của các lớptầng Môn-Tháicổ và nhiều nhóm ngônngữ khác nữa. Những ngônngữ này đểlại dấuấn sâuđậm lên ngữâm và cúpháp của tiếngHán bansơ, địnhhình những đặcđiểm vềsau trởthành đặctrưng của Hánngữ. (Xem Tiếngnói Thuở Hoalục Chưa Nở Hoa.)

  • Cúpháp và trậttự từ: Sựphổbiến của trậttự SVO và việc dùng loạitừ trong tiếngHán phảnánh ảnhhưởng Môn‑Tháicổ. Những cấutrúc này khôngthuộc truyềnthống Ấn‑Âu mà phùhợp với kiểuloại ĐôngnamÁ.
  • Thanhđiệu: Sựhìnhthành thanhđiệu trong tiếngHán songhành với diễnbiến trong các ngônngữ Mon‑Khmer và Thái, chúng gợiý một đónggóp từ lớptầng sởtại hơn là một sángtạo côlập.
  • Từngữ vaymượn: Từngữ hằngngày trong vănbản Háncổ sơkỳ thường hélộ nguồngốc phi‑Hán, được nguỵtrang trong các thưmục và chúgiải.

A. Bằngchứng trong từđiển cổ

Hai tácphẩm cổđiển lưugiữ dấutích của giaitầng này:

  • Erya 爾雅 (HV ‘Nhĩnhã’, tụcgọi ‘từđiển ngoạigiao’) – Biênsoạn vào thời Tần hoặc đầu Hán, Erya là từđiển Hán cổnhất còn tồntại. Nó phânloại từngữ và cungcấp các chúgiải, nhiều trongsốđó hélộ các từngữ phi‑Hán lenlỏi vàotrong các vănbản đời nhàChu.
  • Fangyan 方言 (HV ‘phươngngôn’, tụcgọi ‘phươngngữ’, nômna “lờinói vùngmiền”) – Một tậphợp các biểuđạt phươngngữ thời Hán, Fangyan ghilại ngônngữ địaphương khắp Hoalục. Nhiều mụctừ lưugiữ các dạng BáchViệt (Yue), Tháicổ và những lớptầng khác vềsau hoàtrộn vào từngữ Hán.

Hai từđiển cổ này chothấy tiếngHán khôngbaogiờ thuầnnhất. Ngay các từđiển cổnhất đã thừanhận sự đadạng, ghilại những từngữ mang dấuấn cả phươngnam và phươngtây.

B. TiếngViệt là một disản laihoá

TiếngViệt ngàynay mang trong nó disản đatầng của sự xâmnhập và vaymượn. Từngữ của nó chothấy sự đanxen sâuđậm giữa lớptừ BáchViệt (Yue) và Hán, tạonên một ngônngữ khôngthuần NamÁ cũng khôngthuần Hán, màlà một kếtcấu laihoá được địnhhình qua nhiều thếkỷ tiếpxúc.

  • Gốc BáchViệt (Yue): Những từngữ thôngtục như tía (=爹 “cha”) và nạ (= 娘 “nàng”) phảnánh hệ thống thânthuộc thừahưởng từ truyềnthống Việtcổ đồngnguyên Hán. Chúng còn tồn tại trong khẩungữ, giữ vaitrò như lõicốt vănhóa của tiếngViệt.
  • Từvaymượn Hán: Từngữ cơbản — được, đúng, xong — tươngứng với các dạng Hán 得 dé, 中 zhòng, 成 chéng. Những từngữ này đivào tiếngViệt trong thờikỳ Bắcthuộc lâudài và trởthành từngữ tựnhiên trong sửdụng hằngngày.
  • Biểutượng laihoá: Các ngôntừ về nghilễ như ănTết phảnánh môhình Hán 過節 guòjié, nhưng vẫngiữ cáchdiễnđạt ‘thuầnViệt’. Hiệntượng này chothấy hấpthụ vănhóa được thíchứng qua ngônngữ.

V) Hệquả đốivới nghiêncứu tiếngViệt

Đốivới Việtnam, những lànsóng xâmnhập vào Hoalục này mang ýnghĩa thenchốt. Chúng chothấy các yếutố Hán trong tiếngViệt vốnlà sảnphẩm của nhiều thếkỷ laihoá. Khi tiếngViệt vaymượn từ tiếngHán, nó không vaymượn từ một ngônngữ thuầnnhất mà từ một ngônngữ ảnhhưởng bởi lớpphủ BáchViệt, Altaic và Tháicổ. Nhậnthức này củngcố môhình Hán‑Việt xem việclaihoá là quyluật, khôngphải ngoại lệ. Vìthế, những từngữ Việt như đúng hay xong tươngứng với các dạng Hántự mà bảnthân chúng cũng mang dấuấn phi‑Hán.

Nhậnthức này táiđịnhvị tiếngViệt như mộtphần của một trụclaihoá chung, một ngônngữ được địnhhình bởi gốc Yue, giaitầng Mon‑Taic và lớptừ Hán.

Tínhlaihoá nêutrên chothấy tiếngViệt khôngphải là một ngônngữ côlập màlà một ngônngữ được hunđúc qua nhiều lớp xânthực và thíchứng. Lớptừ BáchViệt cungcấp lõicốt cảmxúc và vănhóa, trongkhi từngữ Hán cungcấp từngữ hànhchính, nghilễ và họcthuật. Cảhai kếthợp tạonên môhình Hán-Nôm và Hán‑Việt, tháchthức các diễnngôn dântộcchủnghĩa về sựthuầnkhiết và thayvàođó thừanhận tính phứctạp lịchsử.

Bàiviết này đàosâuvào cộinguồn lịchsử của giảthuyết trên, đưa ra một tổngquan sơbộ về những bằngchứng thenchốt củngcố luậnđiểm của tácgiả về sự hìnhthành từnguyên Hán‑Việt. Mụctiêu là truytìm cách các sựkiện lịchsử và tiếpxúc vănhóa đã gópphần địnhhình ngônngữ Hán và Việt.

Một trọngđiểm được thưtịch cổ ghinhận cho các mốitiếpxúc giữa Trunghoa và BáchViệt (百越 BaiYue) thời cổđại, một thuậtngữ chỉ các bộtộc BáchViệt, được Lacouperie gọi là “toànbộ các dântộc ngoài biêngiới”. Những tiếpxúc này có từ thời nhàÂn 殷 (ĐờiÂn), cụthể trong giaiđoạn 1718 TCN đến 1631 TCN, khi các cuộcgiaochiến giữa quân nhàÂn và nhànước Việt thờicổ được ghilại.

Vào thờigian này, vănhóa nhànước Ân đã táchkhỏi gốc Tâytạng‑Bak banđầu và bắtđầu táiđịnhcư ở vùng tâybắc Camtúc và Thiểmtây. Các pháthiện khảocổ, baogồm những khaiquật vào những năm gầnđây như hồi tháng 8 năm 2016, đã xácthực sựtồntại của các triều Hạ 廈 và Thương 商, những triềuđại kếtiếp Ân, gợiý rằng nhàÂn cólẽ đã là một nhànước hoànchỉnh trong giaiđoạn này. (3)

Hình 1 – Mốc thờigian của các triềuđại Ân-Hạ-Thương-Chu

Nghiêncứu này chorằng trận đạihồngthuỷ khôngxảyra vào năm 2297 TCN như truyềnthống vẫntin, mà vào khoảng năm 1920 TCN, trễ hơn vài thếkỷ so với quanđiểm cổđiển.

Hìnhảnh này minhhoạ các mốc thờigian khácnhau về sựkhởiđầu của triều Hạ theo vănhóa Trunghoa truyềnthống, theo Dựán Niênđại Hạ‑Thương‑Chu và theo trậnlụt được Ngô và cộngsự xácđịnh niênđại gầnđây. (Nguồn: Carla Schaffer/AAAS)

Từ gócđộ từnguyên, sựhoánđổi giữa phụâm đầu /d‑/ và /j‑/ trong các từngữ thuộc Háncổ (OC) cungcấp một bằngchứng ngônngữ thuyếtphục ủnghộ truyềnthuyết Việt nam về Thánh Gióng. Nhânvật anhhùng này, được kểlại là ngài đã lãnhđạo độiquân nướcViệt chốnglại quân Ân, được ghilại trong sửký Trunghoa dưới tên 董 (Dǒng, HV ‘Đổng’). Các dạng âmViệt như Gióng hoặc Dóng (/jɔŋ⁵/) là những dạng đồngnguyên với âm Háncổ của 董 (*/toːŋʔ/), gợiý một mốiliênhệ từnguyên chung.

Danhxưng này cóthể phảnánh tàntích của các vậnmẫu tiền‑Thái từng được hậuduệ của các tộcngười BáchViệt cổ cưtrú ở phươngnam Trunghoa sửdụng trướckhi các triềuđại Hán hìnhthành. Dù cóthể mởrộng giảthuyết này để gắnvới hệ NamÁ Môn‑Khmer, một cáchhiểu nhưvậy dễ làm sailệch bốicảnh lịchsử và ngữâm. Thayvàođó, tên Gióng cóthể đượcxemlà một hoáthạch ngônngữ, lưugiữ dấutích của các khẩungữ tiền‑Hán đã địnhhình bảnsắc Việt sơkỳ.

Sau sựsuyvong của triềuđại nhà Hạ và Thương — những triều kếtiếp Ân — Vươngtriều nhàChu (周王朝) trỗidậy, mởra một kỷnguyên mới được địnhhình bởi sựhoànhập chủngtộc‑ngônngữ. Vùng Hoabắc (華北) chứngkiến sựhoàtrộn giữa các bộlạc Nhung (Rong/Jung) và các nhóm dumục Thổ‑Thátđát (Turko‑Tartaric), những nhóm rợnhung ngoài biêngiới phươngbắc đã lậpnên các quốcgia như Triệu (趙), Vệ (衛), Lương (梁) và Liêu (遼). Những tộcngười dumục này, cùng với dâncư của các chưhầu vùng Trungnguyên như Tần (秦), Lỗ (魯), Tề (齊), Yên (燕) và Hàn (韓), đã hìnhthành nềntảng dântộc của một Trunghoa thốngnhất dưới triều nhàTần năm 221 TCN.

Trướckhi thốngnhất, giaothương xuyênquốc dựavào Yayu (雅語), một hệ từvựng phươngngữ nhiều nước, và văntự vănngôn (文言文) được dùng làm côngcụ ngoạigiao. Cần nhấnmạnh rằng khônghề tồntại s thốngnhất ngônngữ; các nhànước phươngbắc và phươngnam dùng những ngônngữ khácbiệt rõrệt.

Các nhànước phươngNam như Sở (楚), Ngô (吳), và Việt (越), cùng các quốcgia thờicổ đó như TâyViệt (西越), ĐôngViệt (東越), MânViệt (閩越), NgôViệt (吳越), ÂuViệt (毆越), LạcViệt (雒越), và Việtthường (越常), đượccholà cóchung một ngữhệ tổtiên mà nghiêncứu này gọilà ngữhệ Tháicổ (Taic). Hệ này đốinghịch với phânloại Hán‑Tạng hiệnđại, vốnđược thiếtkế để gom các phươngngữ Hán hiệnđại vào cùng một họ.

Phânnhánh ngônngữ BáchViệt (Yue) theo giảthuyết này chung hệ songhành với nhánh NamÁ Môn‑Khmer về mặt cấutrúc và lịchsử, dù khácbiệt đángkể với phânloại Tày-Nùng (Dai‑Kadai) hiệnđại. Sự khácbiệt này đòihỏi một sự đánhgiálại các mốiliênhệ ngônngữ ở vùng Hoanam và vùng ĐôngnamÁ đặcbiệt làkhi xétđến các lànsóng dicư và hộitụ vănhóa.

Đầu thếkỷ XX, các nhà ngônngữ phươngTây gộp các ngônngữ phươngnam vào họ NamÁ, baogồm các ngônngữ Mon‑Khmer. Tuyvậy, bằngchứng khảocổ và ngônngữ từ bánđảo Đôngdương ở phíanam Hoanam chothấy các ngônngữ cậnđại như Chamic khôngliênquan đến nhóm Annam đến vùng này sau thếkỷ XIII. Vào thờiđiểm đó, người Annam đã dùng một ngônngữ gốc BáchViệt (Yue) được Hánhoá mạnh, cólẽ gầnvới Hánngữ khẩungữ hơn bấtkỳ ngônngữ Hán-Tạng hay NamÁ Mon‑Khmer nào. Phântích này dựa trên , sách âmvận và nghiêncứu ngữâmhọc lịchsử và sửliệu, khôngphải giảđịnh tiềnsử và phụcnguyên âmcổ chỉtheo phươngpháphọc đốichiếu và quynạp.

Khi thời Xuânthu‑Chiếnquốc (770–221 TCN) chấmdứt, nhiều cộngđồng bạitrận chạyxuống phươngnam. Trongsốđó có các nhóm Việt — được ghilại bằng các tự 鉞, 粵, 越 — vốnđã lậpnên các quốcgia riêng. Giớitinhhoa phươngbắc thường gọi họ bằng têngọi miệtthị Namnan (南蠻). Quathờigian, các bộtộc BáchViệt tiếnhóa thành các tộcdân hiệnđại như Thái (傣 ‘Tày’), Tráng (壯 ‘Nùng’), Dao (瑤), Miêu (苗 ‘H’mong’), Môn (猛 hoặc 毛南), Mường (孟), Việt (越)… mỗi nhóm có một lộtrình ngônngữ riêng.

NướcSở (楚國) đặcbiệt có dâncư gốcTày, thuộc Tháicổ (nguyênthỉ 傣族 ‘Taic’). Saukhi bị nước Tần thôntính, thầndân nướcSở bị sápnhập vào Đếquốc nhàTần. Năm 208 TCN, các quốcgia BáchViệt từ MânViệt (閩越) đến Giaochỉ (交趾) ở miềnBắc Việtnam rơivàotay Triệu Đà (趙佗), nguyên một viêntướng nhàTần. Những vùng này vềsau hìnhthành Vươngquốc NamViệt (南越 王國), tồntại gần một thếkỷ trướckhi bị nhàHán thôntính vào năm 111 TCN.

Cơcấu dântộc của Đếquốc Hán được hìnhthành từđó với các cộngđồng đadạng kểtrên thuộc Sở, Tần và NamViệt. Vìthế, ngườiHán thừahưởng một thànhphần nhiều bộtộc BáchViệt đángkể. Điều đángchúý là Lưu Bang (劉邦), vị hoàngđế sánglập nhàHán, cùng nhiều trọngthần binhsĩ dướitrướng của ông vốn là thầndân nước Sở cũ và vị tướngquân cuốicùng là Hạng Võ bị Lưu Bang đánhbại và lậpnên nhàHán là têngọi vùng Hántrung heohút miềnNam Thiểmtây nơi ông bị đày tớiđó làm Hántrung Vương. Chitiết này được nhắc lại để nhấnmạnh nềntảng vùngmiền và gốcgác tộcdanh của Đếquốc Hán. Nếu Hạng Võ của nước Sở thắngtrận trong cuộc thưhùng Hán-Sở phântranh, thì ngàynay không gọilà nước Hán tiếngHán rồi. Nhưng có gọi là Hán thi bảnchất dân nước Sở là gốc Daic vẫn là cốtlõi của tộcngười xứ đó.

Sau khi Hán thôntính NamViệt, mộtphần miềnBắc Việtnam được tổchức thành Giaochâu (交州). Đến thời Đường, vùng này được gọi là Annam Đôhộphủ (安南都護府). Khi ảnhhưởng Hán mởrộng, các cộngđồng Việt‑Mường, hậuduệ của LạcViệt (雒越), chốnglại sựđồnghoá của nhàHán; nhiều nhóm Việt-Mường rút lênnúi, trongkhi những nhóm cònlại ở đồngbằng Sông Hồng hợptác với quanquân caitrị ngườiHán dầndần hìnhthành tộc Kinh (京族). Danhxưng “京” (Kinh), nghĩa là “ngườikinhđô”, phảnánh tựnhậnthức vănhóa của họ.

Từ năm 208 TCN, ngônngữ Tần (秦) bắtđầu ảnhhưởng vào tiếngViệtcổ (Vietic), gópphần hìnhthành từngữ Hán‑Việt sơkỳ. Đến năm 186 SCN, Tháisử Sĩ Nhiếp (士攝) bắtbuộc dùng Hánngữ thaycho tiếngViệt cổ, làmsâu thêm sựhoànhập ngônngữ. Các chuyểndịch triềuđại và chínhsách đôhộ, đặcbiệt dưới thời nhàMinh thếkỷ XV, tiếptục địnhhình tiếngViệt Trungđại. Quathờigian, ngàynay sựkácbiệt giữa tiếng Mường và Kinh trởnên quálớn đếnmức khôngcòn cóthể thônghiểu lẫnnhau.

Tómlại, disản ngônngữ của các nhóm xâmnhập phươngbắc và cưdân tiền‑Hán ở phươngnam Trunghoa đã địnhhình sâuđậm lịchsử ngônngữ Hán và Việt. Như Lacouperie từng kếtluận, ảnhhưởng của họ là khôngthể phóngđại.

Ảnhhưởng từ các chủngtộc Thổ‑Thátđát (Turko‑Tatar) rất đángkể. Mộtsố trongsố nhóm đó […] đã xuấthiện từ thờicổ. Trong vài thếkỷ sau đời nhàHán, nhiều triềuđại Thátđát ngumuội đã caitrị các vùng thuộc vùng phíabắc Trungquốc. Người Tiênty (Sien‑pi), có quanhệ gần với người Caoly, đã lậpnên các triều Tiền-Yên (303–352 SCN), Hậu-Yên (383–408 SCN), Tây-Yên (385–394 SCN), Nam-Yên (398–410 SCN), Nam-Lương (397–414 SCN) và Tây-Tấn (385–412 SCN).

Người Hungnô (Hiung‑nu), một nhóm bộtộc Thổ (Turk) cổ, đã lậpnên các triều Bắc-Lương (397–439 SCN), Hạ (407–431 SCN) ở miền tây Thiểmtây (khôngnên nhầm với Tây-Hạ về sau), và vềsau là triều BắcHán (951–979 SCN).

Người Triệu gốc Thổ (Tchao Turks) đã lậpnên các triều Tiền-Triệu (304–329 SCN) và Hậu-Triệu (319–352 SCN).

Người Tâyphiên (Si‑fan) đã lậpnên triều Trịnh ở Tứxuyên (301–346 SCN); cùng các triều Tiền-Tấn (390–395 SCN) và Hậu-Tấn (384–417 SCN) ở Thiểmtây. Người Thátđát Tobat (Tobat Tatars), những người lậpnên triềuđại Bắc-Ngụy (386–532 SCN), cũng thuộc nhóm này. Họ cóvẻ như đã quenthuộc với chữ Syriac vào khoảng 476–500 SCN, và họ có một thứ ngônngữ triềuđình riêng; vào năm 486 SCN, Hoàngđế Văn Đế đã ralệnh dịchsách Hiếukinh sang thứ ngônngữ đó. Ngônngữ này chỉ bị bãibỏ sau năm 517 SCN.

Quyềnlực của triều Bắc-Ngụy từng baophủ hầunhư toànbộ miềnbắc Trungquốc, chỉ trừ mộtvài vùng gần Sông Dươngtử. Vềsau, triềuđại Môngcổ của người Khiếtđan (K’itan, Liêu 907–1202 SCN) chỉ kiểmsoát vùng đôngbắc. Ở tâybắc, triều Tây-Hạ (Tangut) caitrị từ năm 982 đến 1227, trướckhi bị Môngcổ xoásổ. […] Triều Kim (Kin, Jurchen), tổtiên của triều Mãnthanh, caitrị một vùng rộng hơncả Bắc-Ngụy, từ 1115 đến 1234 SCN. Triều Nguyên Môngcổ do Hốttấtliệt (Kubila’i‑Khan) lậpnên năm 1271 và tồntại đến 1367, là triềuđại đầutiên caiquản toànbộ Hoalục; quyềnlực rộnglớn của họ đã đónggóp nhiều hơn bấtkỳ nỗlực nào trướckia cho sựthốngnhất vănhóa của Trungquốc. Cuốicùng, năm 1644, triều Mãnthanh (Đại-Thanh) thiếtlập quyềnlực trên toàn Đếquốc. […]

Mỗi triềuđại trongsốnày đều mang theo ngônngữ riêng của họ, đúngnhư têngọi của triềuđại đó gợiý. Dù phạmvi sửdụng chỉ giớihạn trong triềuđình và quânđội, ảnhhưởng của chúng khôngphải là khôngđángkể, thểhiện qua sự biếnđổi ngữâm và dunhập từngữ vào Quanthoại chínhthức. Đốivới ngườiMãnchâu, sựhiệndiện của họ đã đẩynhanh quátrình biếnđổi ngữâm của Quanthoại Bắckinh — nay là ngônngữ chínhthức — theo hướng ‘xìhuýthoá’ các âm, một xuhướng đã bắtđầu ngaytừđầu triềuđại nhàNguyên Môngcổ. Sốlượng ítỏi từvựng của họ đónggóp và Quanthoại vì thóiquen sống táchbiệtkhỏi dânchúng khiến ảnhhưởng ngữngôn của quânđội Mãnchâu chỉ thểhiện ở các vùng đóngquân, nơi chỉ mộtvài từngữ Mãnchâu được dunhập vào khẩungữ địaphương.

(Lacouperie. Sáchđãdẫn. pp. 127-129)

Liênquan đến gốc Tháicổ (Taic) đượcdùng bởi thầndân nước Sở thờicổ — baogồm cả LưuBang (漢高祖 劉邦), vị hoàngđế sánglập nhàHán, và các tướnglĩnh và binhsĩ đã gópphần kiếnlập Đếquốc Hán như đã trìnhbày — từngữ cơbản của hệ Hán‑Việt chothấy nhiều mốiliênhệ đángchúý với ngữhệ Tày‑Nùng (Daic‑Kadai). Ngữhệ này baogồm nhiều phươngngữ hiệnđại vẫncòn được dùng bởi các tộcdân Tày ở miềnbắc Việtnam. Khảosát ngônngữ được trìnhbày trong bàiviết này nêubật những pháthiện gầnđây của tácgiả, cùngvới những kếtquả trướckia, chothấy các tàntích từvựng của yếutố Tháicổ còn lưugiữ trong lớptừ tiền‑Hán, thậmchí xuấthiện trướckhi Háncổ hìnhthành. Những yếutố này đặcbiệt hiệndiện rấtrõ trong các phươngngữ Mânnam của vùng MânViệt (閩越), tức Phúckiến hiệnđại, và chothấy mốiliênhệ trựctiếp với từngữ cơbản của ngônngữ BáchViệt bảnđịa.

Kếtluận

Lịchsử vănminh Trungquốc và Việtnam khôngthể được kể như một câuchuyện về sự thuầnkhiết hay côlập. Từ các bộlạc Bak đến các triều Thương, Chu, Tần và Hán, sửliệu chothấy một môhình liêntục của sự xâmnhập và hoànhập. Mỗi lànsóng ngoạilai đều táicấutrúc cảnhquan vănhóa và ngônngữ, đểlại dấuấn còn hiệndiện trong cả tiếngHán lẫn tiếngViệt hômnay.

Đốivới nềnvănminh Trungquốc, tínhcách laihoá này thểhiện trong lớptừ Môn-Tháicổ (Mon‑Taic) còn lưugiữ trong các từđiển cổ như Erya 爾雅 (HV Nhĩnhã) và Fangyan 方言 (HN phươngngữ). Cúpháp, loạitừ và hệthống thanhđiệu đều mang dấuấn của các ngônngữ phươngnam. Đốivới tiếngViệt, giaitầng BáchViệt cungcấp lõicốt vănhóa, trongkhi từngữ Hán cungcấp từngữ hànhchính, nghilễ và họcthuật. Cảhai kếtthành một trụclaihoá liêntục — một ngônngữ và một bảnsắc được hunđúc qua nhiều thếkỷ tiếpxúc và tranhđấu.

Thuyết xâmnhập táiđịnhvị cả tiếngHán lẫn tiếngViệt như những sảnphẩm của sựhoàtrộn vănhóa, chứkhôngphải những thựcthể thuầnnhất. Nó tháchthức các diễnngôn dântộcchủnghĩa muốn táchbiệt tiếngViệt khỏi ảnhhưởng Hán hoặc xem vănminh Trungquốc như một hệthống côlập. Thayvàođó, nó khẳngđịnh rằng laihoá vaymượn qualại là quyluật lịchsử.

Thừanhận thựctế này mang ýnghĩa sâuđậm. Nó giúp các họcgiả vượtqua những méomó ýthứchệ và đặt nghiêncứu từnguyên trên nềntảng lịchsử. Nó cũng mởra một cáchhiểu tinhvi hơn về bảnsắc Việtnam — một bảnsắc thừanhận sựđanxen sâuđậm với Trunghoa nhưng vẫngiữđược nét độcđáo vănhóa của mình.

Saucùng, kháiniệm những kháchtrú ngoạilai xâmnhập Hoalục lậpluận rằng xâmnhập khôngphải là điểmyếu màlà đặctrưng địnhhình vănminh Hántộc. Chính qua tiếpxúc với các yếutố ngoạilai mà ngônngữ tiếnhóa, vănhóa thíchứng và bảnsắc được hunđúc. TiếngViệt, cũngnhư tiếngHán, là một chứngtích sốngđộng của tiếntrình ấy — một kho lưutrữ ngônngữ về sự xâmnhập, thíchứng và trườngtồn.

Sáchthamkhảo

Bình Nguyên Lộc. 1972. Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam. Saigon.

Bó Yáng 伯楊. 1983-1993. Modern Chinese edition of 司馬光 Sima Guang’s Zīzì Tōngjiàn (Comprehensive Mirror to Aid in Government) 資治通鍳 (72 volumes, vol. 1 to vol. 72). Taipei: Yuănlíu Chùbăn Gōngsī 遠流出版公司 (Yuan-Liou Publishing Co).

Bó Yáng 伯楊. 1985. 醜陋的中國人 Chǒulòu de Zhōngguórén (The Ugly Chinaman). Taipei: Yuănlíu Chùbăn Gōngsī 遠流出版公司 (Yuan-Liou Publishing Co).

Boodberg, Peter A. 1979. Philological Notes on Turko‑Mongolic Influences in Early China.

Darwin, Charles. 1871. The Descent of Man. London.

Erya 爾雅. Qin/Han‑era lexicon.

Fangyan 方言. Yang Xiong’s Han‑era compilation of dialectal vocabulary.

Ferlus, Michel. 2012. “Trade Routes and Sound Change Patterns in Vietnamese Cognates across Southeast Asia.” Mon–Khmer Studies 41: 1–18.

Haudricourt, A. G. 1954. “De l’origine des tons en vietnamien.” Journal Asiatique.

Karlgren, Bernhard. 1957. Grammata Serica Recensa. Stockholm: Museum of Far Eastern Antiquities.

Kiernan, Ben. 2017. Việt Nam: A History from Earliest Times to the Present. Cambridge University Press.

Lacouperie, Terrien de. 1887 (repr. 1966). The Languages of China Before the Chinese. London.

Nguyễn Ngọc San. 1993. Tìm hiểu về Tiếng Việt Lịch sử. Hanoi: Nhà xuất bản Giáo dục.

Phan Hữu Dật. 1998. Nhân học Việt Nam. Hanoi.

Ruhlen, Merritt. 1994. The Origin of Language: Tracing the Evolution of the Mother Tongue.

Sima Qian. Shiji 史記 (Records of the Grand Historian).

Tang‑dynasty records on Annam Đôhộphủ 安南督護府.

Han‑dynasty records on Jiaozhi 交阯 / 交趾 and Jiaozhou 交州.

CƯỚCCHÚ


(1)^ See Kelley, Liam C. (2012). The Biography of the Hồng Bàng Clan as a Medieval Vietnamese Invented Tradition. Journal of Vietnamese Studies, Vol. 7, No. 2: 87-122, published by: University of California Press.

Bản dịch tiếng Việt: “Bàiviết này phântích phêphán một truyện gọi là “Hồngbàng Thị Truyện” trong tác phẩm thế kỷ XV Lĩnhnam Chíchquái Liệttruyện. Chính truyện này là nguồngốc của những “thôngtin lịchsử” về các vua Hùng. Từlâu, giớihọcgiả chorằng những thôngtin ấy được truyềnmiệng từ thiênniênkỷ thứnhất trước Côngnguyên chođếnkhi được ghichéplại vào một thờiđiểm nàođó saukhi Việtnam giành được quyền tựchủ vào thếkỷ X. Tráilại, bàiviết này lậpluận rằng những thôngtin về các vua Hùng thựcra được sángtạo sau khi Việtnam giànhđược nềntựchủ và sángtác ra một truyềnthống từ hưcấu.”

(2)^ Những người làm việc lâunăm trong lĩnhvực này sẽ hiểu vìsao lýthuyết Hán‑Tạng theo môhình sónglan (wave‑theory) lại bị những người theo chủnghĩadântộc Việtnam cứngrắn nétránh, chứ chưanóiđến môhình phảhệ truyềnthống.” (Bloomfield, 1933. pp. 317, 18).

(3)^ Những pháthiện được côngbố trên tạpchí Science cóthể giúp viếtlại lịchsử, vì chúng khôngchỉ chothấy rằng mộttrận đạihồngthuỷ thựcsự đã xảyra, màcòn chobiết thờiđiểm nó diễnra là vào khoảng năm 1920 TCN — muộnhơn vài thếkỷ sovới quanniệm truyềnthống.

Điềunày cónghĩalà triều Hạ, do Vũ Vương lãnhđạo, cũngcóthể đã bắtđầu muộnhơn sovới giaiđoạn mà các sửgia Trungquốc từtrướcđếnnay vẫnchorằng là đúng. (Xem: “First evidence of legendary China flood may rewrite history“)

(Đọcthêm: “Outburst flood at 1920 BCE supports historicity of China’s Great Flood and the Xia dynasty,”)

Leave a Reply

Discover more from ziendan.com

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading