Giớihạn của Sự Phânloại Thừakế và Tươngđồng của Ngônngữ

by dchph in collaboration with Copilot

Một mạnglưới ngônngữ sắcmàu với những muônngàn ánhsáng rựcrỡ đankết trong Vũtrụ Ngônngữ.
(creAited by dchph with Jetpack.)

Danhmục từvựng cơbản thường chothấy những tươngđồng nổibật giữa các ngônngữ. Tuynhiên, sựgiốngnhau tựthân không đủ để chứngminh quanhệ ditruyền. Từvựng tiếngViệt chothấy cách mà tiếpxúc, tầngngầm và sựthấmnhuần vănhoá cóthể tạora những trùnghợp dễ gây hiểulầm trong phânloại.

Cơtầng từvựng nguyênsơ của tiếngViệt phảnánh một lịchsử phântầng gồm sự kếthừa và tiếpxúc. Bên dưới lớp Hán‑Việt vềsau là một tầng Mon‑Khmer và bảnđịa đanxen với ngữlưu BáchViệt và tiền-Việt. Những tầng này cho thấy tiếngViệt khôngphải là một nhánh phụ đơnthuần của Mon‑Khmer mà là một ngônngữ hỗnhợp được hìnhthành từ những truyềnthống hộitụ trong lưuvực Sông Hồng.

Trong nhiều bàiviết khác, tácgiả đã thảoluận về mứcđộ sâuxa của gốcrễ Việt trong liêntrục Việt‑Hán, với tínhchất đaâm và hiệntượng đảonghịch trậttự đượcdùng làm côngcụ chẩnđoán từnguyên. Tuynhiên, đó chưa là mộtnửa phần của bứctranh. TiếngViệt cũng mang dấuấn của những đợt didân Mon‑Khmer, với từvựng và thựchành vănhoá nhỏrỉ vào lưuvực Sông Hồng và đểlại một tầngbồi bềnvững trong ngônngữ. Trong nghiêncứu khảosát mối liênhệ Mon‑Khmer này chothấy các tầng này tươngtác với nềntảng BáchViệt và lớp Hánhoá vềsau để tạonên bứckhảm từnguyên phứctạp mà ta nhậnthấy ngàynay. (Xem Hiệuứng của Luậnđiệu Nguồngốc Môn‑Khmer.)

TiếngViệt không xuấthiện như là một ngônngữ Mon‑Khmer rồi được thanhđiệuhoá muộnmàng, mà nó là một ngônngữ được rènđúc tại điểm giaothoa ngãtư của dòng ngữlưu BáchViệt, Miến-Tạng, Trunghoa và NamÁ. Hệthống thanhđiệu và từvựng cơbản của nó làm chứng cho một lịchsử tiếpxúc lâu dài và pháttriển songhành với tiếngHán, đòi hỏi phải đánhgiá lại những giảthuyết cốđịnh về quanhệ ditruyền của nó.

Thuyết NamÁ Mon‑Khmer về quanhệ Việt–Khmer đã được ghinhận vì nhấnmạnh những tươngđồng từvựng cóthật giữa tiếngViệt và các ngônngữ Mon‑Khmer miềnNam. Bằng cách tậptrung vào những mụctừ chung đồngdạng cómặt trong các lĩnhvực nôngnghiệp, thânthuộc và sinhhoạt hằngngày,. Khung lýthuyết này đã nhấnmạnh tầmquantrọng của ảnhhưởng NamÁ trongviệc địnhhình từvựng tiếngViệt. Cáchnhìn này cũng đóngvaitrò đốitrọng với các tườngthuật thiên-Hán, nhắcnhở họcgiới rằng disản Việtngữ là phântầng và khôngthể giảnlược vào tiếpxúc Hán‑Việt. Theonghĩađó, giảthuyết Mon‑Khmer đã gópphần mởrộng phạmvi sosánh và đặt tiếngViệt vào bốicảnh rộnghơn của họ NamÁ.

Đồngthời, khung Mon‑Khmer dựatrên một nền tảng khá hẹp, phụthuộc nặng vào sosánh từvựng của lớp từ miền Nam trongkhi ít chúý đến hệthống âmvị, cấutrúc cúpháp và các môhình didân lịchsử. Cách tiếpcận chọnlọc nhưvậy dễ thổiphồng mứcđộ gầngũi Việt–Khmer và làmgiảm vaitrò của cơtầng BáchViệt cũng như tầngphủ Hánngữ. Vì lýdo đó, lýthuyết NamÁ cần được xemxét lại trong một bốicảnh lịchsử và sosánh rộnghơn. Một môhình toàndiệnhơn về nguồngốc tiếngViệt phải kếthợp chứngcứ NamÁ với các yếutố Hán, Tai‑Kadai (Tày-Nùng) và BáchViệt, nhậnbiết sự tươngtác phứctạp giữa tiếpxúc, hộitụ và kếthừa đã địnhhình ngônngữ này qua nhiều thiênniênkỷ.

I) Tươngđồng từvựng trong nhiều ngữhệ không chứngminh được quanhệ kếthừa

  • Danhsách từvựng cho thấy những điểm tươngđồng giữa tiếngViệt và Mon‑Khmer, Tai, thậmchí ẤnÂu.
  • Nhiều tươngđồng này là ngẫunhiên hoặc do vaymượn.
  • Cảnhbáo phươngpháp: sự giốngnhau phảiđược kiểmchứng bằng quyluật biếnâm và bốicảnh lịchsử.

Sựgiốngnhau bềmặt giữa các ngônngữ từlâu đã khiến họcgiả dễ suydiễn quanhệ huyếtthống. TiếngViệt, với những trùnghợp trong danhmục từvựng Mon‑Khmer, Tày, và thậmchí ẤnÂu, là một vídụ điểnhình. Tuynhiên, sựgiốngnhau khôngphải là bằngchứng của sựkếthừa. Nhiều tươngđồng này được giảithích tốthơn như là vaymượn, tàngtích tầnggốc hoặc kếtquả của sựkhuếchtán vănhoá. Nếu khôngcó những tươngứng ngữâm lịchsử cóhệthống và bốicảnh lịchsử, sựgiốngnhau chỉlà ảomảnh — một giaođiểm nơi tiếpxúc và ngẫunhiên giảdạng huyếtthống.

Một câu hỏi trungtâm của ngônngữlịchsử ViệtNam là liệu tiếngViệt nên đượcxemnhư một ngônngữ hỗnhợp, được phântầng qua nhiều thếkỷ tiếpxúc với các cộngđồng lánggiềng, hay như hậuduệ trựctiếp của một ngữhệ duynhất. Một giảthuyết chorằng một ngữhệ cổ, cóthể gọi là Taic (Tháicổ), đã sinhra cả hai họ BáchViệt (Yue) và Daic (Tày). Chúng lanrộng khắp miền Nam TrungQuốc, baogồm cả vùng đôngbắc lưuvực Sông Hồng, nơi các cộngđồng bảnđịa từlâu đã canhtác lúa nước.

Theothời gian, mộtsốlượng lớn người Mon‑Khmer từ vùng nay là bắc Campuchia và Hạ Lào đã táiđịnhcư tại đồngbằng phìnhiêu này. Phươngthức sinhkế của họ — sănbắn và canhtác nươngrẫy trên đất cao — tươngphản với nôngnghiệp lúanước của tộcngười BáchViệt. Cùngvới họ là từvựng Mon‑Khmer đivào ngônngữ Việt‑Mường bảnđịa và giảithích sựhiệndiện của nhiều từvựng Mon‑Khmer cơbản còn lưugiữ trong tiếngViệt ngàynay. Ngônngữ cổ này cólẽ được nói bởi cưdân vănhoá Phùngnguyên và những thầndân huyềnthoại của các Vua Lạc (Hùng) cáchnay khoảng ba thiênniênkỷ. Nó chắcchắn không giống tiếngViệt hiệnđại. (1)

Sựxuấthiện của cưdân nhàHán vào năm 111 TCN đã làm biếnđổi sâusắc cảnhquan ngônngữ này. CổHánngữ táiđịnhhình tiếng BáchViệt của đạiđasố cưdân, dẫnđến sựphânhoá của liêntục Việt‑Mường thành Mường và Việtic (tiền-Annam), cảhai đều thấmđẫm yếu tố Hán. Từ n giữa BáchViệt, Mon‑Khmer và Hánngữ, một ngônngữ Việt dựatrên nềntảng Hánhoá bắtđầu kếttinh vào thếkỷ X.

Những nhà ngônngữ học ủnghộ giảthuyết NamÁ lậpluận rằng tiếngViệt xuấtthân từ nhánh Mon‑Khmer của họ NamÁ rộnghơn. Họ chỉra những tàntích trong Mon‑Khmer xuấthiện như tầnggốc trong tiếngViệt, baogồm một nhóm từvựng cơbản cóthể đã ổnđịnh suốt 15000 năm (Zachary Stieber, Ancient Languages Have Words in Common). (2)

II) TiếngViệt tại ngãtư điểm giaothoa

Từvựng tiếngViệt thường giống với các dạng Mon‑Khmer, nhưng nhiều mụctừ trongsốđó đãđược ghi trong các thưmục Háncổ như những khoản vaymượn từngữ BáchViệt. Bảng mụctừ dướiđây minhhoạ các sựgiốngnhau cóthể chekhuất một cơtầng sâuhơn giaitầng của tiếpxúc và hộitụ:

A. Nôngnghiệp & thânthuộc

TiếngViệtTươngứng Môn-KhmerĐồngnguyên HánngữGloss
sôngKhmer srê ‘stream’江 jiāng‘river’
chuốiKhmer čluəy蕉 jiāo‘banana’
gạoKhmer srɔʔ ‘paddy’稻 dào‘rice’
cháuOld Khmer cau侄兒 zhír‘nephew’
nămOld Khmer cnam年 nián‘year’
bọtKhmer babuh泡 pào‘bubble’

B. Bộphân cơthể

TiếngViệtTươngứng Môn-KhmerĐồngnguyên HánngữGloss
bụngKhmer pɔŋ腹 fù‘abdomen’
tayKhmer day手 shǒu‘hand’
mắtKhmer mat目 mù‘eye’
răngKhmer dɑŋ齡 líng‘tooth’

C. Đồdùng nhàcửa & dụngcụ

TiếngViệtTươngứng Môn-KhmerĐồngnguyên HánngữGloss
cửaKhmer ko戶 hù‘door’
nhàKhmer nha家 jiā‘home’
nồiKhmer no鍋 guō‘pot’
đènKhmer dɛn燈 dēng‘lamp’

Ghichú:

  • Thấmnhập sovới kếthừa: Những mụctừ này chothấy sựkhuếchtán vănhoá trong các lĩnhvực nôngnghiệp, thânthuộc và sinhhoạt hằngngày hơn là sựkếthừa ditruyền. Các thuậtngữ vănhoá minhhoạ tiếpxúc chứ khôngphải ditruyền.
  • Phạmtrù Hánngữ: Mỗi dạngtừ tiếngViệt đều ứnghợp với một dạng tươngđồng Hánngữ, nhấnmạnh tầnggốc BáchViệt và lớp HánViệt chồnglớp.
  • Lưuý vềmặt phươngpháphọc: Nếu không đưa dạng Hánngữ vào sosánh, các tươngđồng Mon‑Khmer sẽ cóvẻ mạnh hơn thựcchất. Nhiều vídụ tiếngViệt giống Mon‑Khmer nhưng đãđược ghi trong thưmục Háncổ như các khoản vaymượn từngữ BáchViệt.
  • Nhómtừ đaâmtiết: Việc nhómtừ đaâmtiết, như đã chỉra trong toànbộ các bàiviết, sẽ chothấy sựnhấtquán cấutrúc với HánViệt chứ khôngphải Mon‑Khmer.

Quanđiểm được đềra ởđây là các thứtiếng Việt và Mon‑Khmer cóthể cùng bắtnguồn từ một ngữhệ chung liênquan đến BáchViệt (Yue), gọi là Tháicổ (Taic). Tổngữ này cóthể đã sinhra khôngchỉ Tai‑Kadai (Tày-Nùng) (Ding Bangxin 1977) và Hánngữ trong ngữhệ Hán-Tạng, mà còn cả các nhánh Namđảo và NamÁ.

Cuộc tranhluận về nguồngốc NamÁ của tiếngViệt đã kéodài hơn một thếkỷ. Quanđiểm chiếm ưuthế vẫn phânloại tiếngViệt như một hậuduệ Mon‑Khmer, dựatrên nhiều từcơbản rảirác trong các ngônngữ Mon‑Khmer và thậmchí mộtsố đồngnguyên với Munda. Tuyvậy, bứctranh sâuhơn chothấy một phảhệ phứctạp hơn, bắtnguồn từ bứckhảm ngônngữ của miềnNam Trungquốc và lưuvực Sông Hồng.

Về các ngônngữ NamÁ, Norman (1988) nhậnxét rằng chúng “được sửdụng trên một vùng địalý rộnglớn: các ngônngữ Munda ở tâybắc Ấnđộ, Khasi ở Assam, Palaung‑Wa và Mon ở Miếnđiện, các ngônngữ Mon‑Khmer ở Đôngdương, tiếng Việt và Mường ở Việtnam […] và từngđược nói rộngrãi hơn nhiều tại Trungquốc.” (tr. 7–8)

Hình 1 – Tổngquan mối thânthích của tiếngViệt
với các ngữhệ lớn cùng những ngữchi khác

Trướckhi tiếptục, cần nhắcnhở rằng vào đầu thếkỷ XX từng tồntại một xuhướng nay đã maimột, theođó nhiều nhàngônngữ học thamgia Trườngphái Praha trongviệc phântích hệthống âmvị và môtả ngữâm của các ngônngữ vì tính đơngiản của phươngpháp và quytrình, không đòihỏi phải học ngônngữ đích. Việc họ tậptrung vào cách tiếpcận này khiến phươngpháp cóvẻ mang tínhkhoahọc. Một nhàngônngữhọc lừngdanh đươngđại, Bloomfield, chẳnghạn, đã môtả và phântích tiếng Tagalog chỉ dựatrên thôngtin do một người cungcấp (Indo‑Pacific, Part II, Descriptive Linguistics, Lingua 15, 1963, tr. 515).

Vìthế, không cógì ngạcnhiên khi nhiều người ủnghộ xưanay của giảthuyết NamÁ Mon‑Khmer đã làmviệc trong khungpháp này, thường khôngcó khảnăng sửdụng trựctiếp các ngônngữ họ nghiêncứu. Phântích của họ phụthuộc nặng vào dữliệu thuthập từ những người cungcấp thôngtin địaphương vốn khôngcó đàotạo ngônngữhọc. Đến thậpniên 1960, xuấthiện một thếhệ mà tácgiả gọilà “ngônngữ học trạihè” — những nhànghiêncứu được tài trợ bởi các khoản trợcấp ngắnhạn từ các cơquan như U.S. National Endowment for the Arts — thựchiện các chuyến điềndã ngắn tại Nam Việtnam. Ít ai trongsố họ đạtđược trìnhđộ thôngthạo thựcsự đối với các ngônngữ họ khảosát. Những khiếmkhuyết của cách tiếpcận này thểhiện rõ trong các côngtrình đã xuấtbản, vốn đầyrẫy bấtnhất, lỗi chínhtả, lỗi đánhmáy và các cặp từ đồngnguyên bị ghép sai.

Ngaycả đến năm 1991, khi Parkin phânloại tiếngViệt (thuộc nhánh Việt‑Mường) vào họ NamÁ, ông vẫn thừanhận rằng “vấnđề về sựliênhệ của tiếngViệt đã gây nhiều tranhcãi.” (Parkin 1991: 89). Việc ông chấpnhận quanđiểm của Haudricourt và Shorto là cơsở cho phânloại của mình. Trên thựctế, quanđiểm NamÁ về nguồngốc tiếngViệt — dựatrên một tập nhỏ các cặp Mon‑Khmer ~ Việt‑Mường được giảđịnh là đồngnguyên — đã trởthành mặcđịnh trong giới họcthuật. Họctrò của họ lại tiếptục xâydựng trên nềnmóng này, xem nó như một bànđạp cho các giảthuyết mới thayvì xemxét lại tiềnđề.

Độcgiả sẽ nhậnra rằng nhiều từnguyên được tríchdẫn trong bài này đòihỏi không chỉ đàotạo ngônngữhọc vữngchắc mà còn phải sởhữu một giácquan “ngữcảm”, một trựcgiác chỉ cóđược khi có kinhnghiệm trựctiếp với ngônngữ mình nghiêncứu. Sựnhạycảm này là thiếtyếu choviệc thựchiện “phỏngđoán” — một thaotác cầnthiết để hiểu cách và nơi mà từvựng đã tiếnhoá. Như King nhậnxét:

“Thủtục này [phỏngđoán] không đảmbảo dẫnđến dạng chínhxác của một cáigì đổimới. Nhưng tiếnbộ trong táidựng lịchsử luôn đếntừ việc đưara các phỏngđoán — khôngphải những phỏngđoán hoangdại vôcăncứ màlà những phỏngđoán cóthể tincậy được dựatrên tính đơngiản và tựnhiên. Dùsaođinữa, nhàngônngữhọc lịchsử thườngcó rấtít để mất và nhiều để được khi đẩymạnh táidựng dựâm theo hướng đơngiản và tựnhiên.” (1969: 164).

Một mặt, khi một giảthuyết do một vài họcgiả nổi bật đềxuất giành được đủ sựchúý để cóvẻ thuyếtphục, nó nhanhchóng được lặplại bởi những người mới vào ngành. Nhiều người trongsốhọ khôngphải là chuyêngia về ngônngữhọc Việtnam mà chỉ đơnthuần chấpnhận quanđiểm thịnhhành và lặplại điều người khác đãnói. Vào đầu thếkỷ XX, điềunày đồngnghĩa với việc chấpnhận quanđiểm mới hìnhthành rằng tiếngViệt thuộc ngữhệ NamÁ Mon‑Khmer cùngvới các ngônngữ ĐôngnamÁ.

Mặtkhác, không giống như các địnhluật bấtbiến của vậtlý hay thiênvăn, các nghành khoahọc thựcnghiệm như nhânchủnghọc, lịchsử và ngônngữhọc lịchsử luôn cóthể được điềuchỉnh. Những người mới bướcvào lĩnhvực ngônngữhọc tiếngViệt vìthế khôngnên bị cuốn theo lốimòn. Họ cần mởra những hướngđi mới. Cách tiếpcận được đềxuất ởđây — khảosát từnguyên Hán‑Việt với trọngtâm đặt vào tínhđaâm — mởra một khônggian nghiêncứu mới. Biếnđổi ngữâm trong các tổhợp đaâm khôngthể giảnlược thành các tươngứng một‑đối-một giữa các âmtiết rời, và nhậnthức này cungcấp một khung táidựng chínhxác hơn.

Tuyvậy, phầnlớn những người mới trong ngônngữ học lịchsử Việtnam lại bắtđầu từ khởiđiểm với tiềnđề NamÁ Mon‑Khmer — một giảthuyết phi‑lịchsử được hìnhthành từ những ngộnhận về ngônngữ đơnâm và đaâm. Sựphụthuộc này bắtnguồn từ sự hiểunhầm, diễngiải sai, thiếu thôngthạo ngônngữ đích và sựchấpnhận thiếu phêphán đốivới những côngtrình trướcđó chỉvì chúng được viết bởi những chuyêngia danhtiếng vào thuở sơsinh của ngành. Côngtrình của họ trởthành nềnmóng cho các nghiêncứu tiếptheo, tấtcả đều đitheo cùng một hướng. Vào giữa thếkỷ XX, việctranhluận về ‘thanhngữnguyên’ haylà ‘nguồngốc thanhđiệu’ (tonogenesis) trởthành một mốt, một cuộcthảoluận do Maspero và Haudricourt khởixướng. Không ngạcnhiên gì khi quanđiểm của họ được xemxét lại vào nửa sau thếkỷ XX bởi Barker, Parkin và Thomas, những người mà dữliệu từvựng Mon‑Khmer vẫncòn được tríchdẫn.

Tháchthức đối với những họcgiả mới là tránh rơivào giáođiều ngăncản sự phávỡ tiềnđề cũ. Tiếnbộ thựcsự đòihỏi sự quyếtđoán và cáchtân tinhthần. Thôngđiệp ởđây rất rõ: những người mới vào ngành khôngnên chỉ đơnthuần đitheo “tiềnđề địnhsẵn” đã trởnên cũkỹ và khôngcòn sảnsinh trithức. Những côngtrình tiênphong từng cóvẻ độtphá khi liênkết tiếngViệt với NamÁ hay Mon‑Khmer đã trởnên phổbiến vì tínhmớimẻ của chúng vào thờiđiểm đó. Nhưng chúng khôngcòn manglại cáigìmới từ gócnhìn đó.

Saucùng, giảthuyết NamÁ Mon‑Khmer hưởnglợi từ chutrình lặplại này. Parkin (1991) diễngiải lại lậpluận của Maspero rằng sựthiếuvắng thanhđiệu trong các ngônngữ Mon‑Khmer bị mâuthuẫn bởi sựhiệndiện của từvựng Thái trong tiếngViệt, nơi các từ có thanhđiệu được xem như đồngnguyên. Maspero cũng chỉra những điểm đặcthù khác (tr. 89), dù ông chấpnhận đềxuất của Haudricourt về một cơtầng Mon‑Khmer. Tuyvậy, Haudricourt đã trựctiếp bácbỏ các luậnđiểm thenchốt của Maspero. Như Thomas tómlược:

“Các vídụ đồngnguyên Thái‑Việt của Maspero [được diễngiải lại như] từvựng ĐôngNamÁ nóichung, với các tươngứng giữa thanhđiệu tiếngViệt và phụâm cuối Mon‑Khmer.” Vìthế, “luậnđiểm thenchốt của Maspero — rằng một ngônngữ không thể tiếpthu thanhđiệu nếu trướcđó khôngcó — bị bácbỏ” (tr. 90).

Quanđiểm của Haudricourt vẫnlà quanđiểm được chấpnhận rộngrãi ngàynay. (Xem Họcthuyết Pháttriển Thanhđiệu của Haudricourt.)

Bảng 1 – Độ tincậy của côngtrình nghiêncứu đăng trên mạng sovới ấnphẩm sáchin

Thôngtin điệntử ngàynay cóthể tiếpcận dễdàng qua mạng internet, baogồm cả những nguồn như Wikipedia hay Britannica Encyclopedia. Tuyvậy, không một nhàngônngữhọc đứngđắn nào nên phụthuộc nặng vào những phươngtiện này, hoặc các nềntảng tươngtự, làm nềntảng cho nghiêncứu họcthuật. Ngaycả trong trườnghợp hai nguồn đượcxemlà uytín ấy, khi một giảthuyết được chấpnhận rộngrãi đã thayđổi, mỗi mục tươngứng cóthể được cậpnhật hoặc không, và nếucó, cũng khôngcógì đảmbảo rằng việc cậpnhật sẽ kịpthời. Khi những thayđổi nhưvậy xảyra, chúng hiếmkhi được theodõi xuyênsuốt chuỗi các tríchdẫn phi‑họcthuật lantràn trên mạng — blog, mạngxãhội, email và những kênh phi‑chínhthức khác. Một mảnh thôngtin sailệch đã năm năm tuổi vẫn cóthể được gặplại nhưthể đólà một pháthiện mớimẻ đốivới người tiếpxúc nó lầnđầu.

Điều này thường không xảyđến trong nhậnthức của những người mới vào ngành: những gì luânchuyển trênmạng không nhấtthiết là họcthuật đáng tincậy. Thườngthì đóchỉlà một bản tómlược của những điều đã được lặplại ở nơikhác, chứkhôngphải côngtrình nguyênbản của những nhànghiêncứu nghiêmtúc. Chính vì lýdo đó mà sách và các ấnphẩm được bìnhduyệt vẫn giữ vịtrí quantrọng: chúng cungcấp một tưliệu ổnđịnh, cóthể kiểmchứng, khôngdễ bị thayđổi hoặc bị làmloãng bởi vòngxoáy thôngtin của internet.

III) Hệquả đốivới ngônngữhọc sosánh

  • Tươngđồng là điềukiện cần nhưng khôngđủ để chứngminh quanhệ ditruyền.
  • TiếngViệt chothấy cách mà tầnggốc và tầngphủ làm phứctạphoá việcphânloại.
  • Các bảng sosánh phải baogồm dạng Hánngữ để tránh đồngnguyên giả.

Lậpluận NamÁ dựa phầnlớn vào tínhđồngnguyên của từvựng cơbản dùngchung giữa Mon‑Khmer và tiếngViệt. Vấnđề thanhđiệu vẫncòn liênquan ởđây: mặcdù các dạng Mon‑Khmer được khảosát là vôthanhđiệu, trong nhiều trườnghợp chúng tươngứng với từnguyên tiếngViệt đồngthời ứnghợp với dạng Hánngữ trong một khung thanhđiệu. Từ gócnhìn của tácgiả, mộtsố mụctừ Mon‑Khmer mà Maspero xem là gốc Thái cóthể thựcsự là từvaymượn từ tiếngViệt, được sửdụng và thaythế thanhđiệu bằng thanhhầu [ʔ] saukhi dấugiọng nguyênthuỷ bị mất.

Điềuthúvị là cùng những mụctừ ấy trong các phươngngữ Mường lại cóthể xuấthiện với thanhđiệu. Rộnghơn nữa, tiếngMường vẫngiữ hệthống thanhđiệu mặcdù tiếpxúc lâudài với các nhóm Mon‑Khmer lâncận. Sựbềnvững này chothấy thanhđiệu trong tiếngMường, và theo mởrộng là trong tiếngViệt, khôngthể bị xemnhẹ như một vaymượn bềmặt mà phảnánh một đặctrưng cấutrúc sâuhơn. Cũng cần nhớrằng tiếngMường được phânloại cùng họ với tiếngViệt.

Sốlượng từnguyên thựcsự giữa tiếngViệt và Mon‑Khmer trong từvựng cơbản là khá ítỏi, và nhiều mụctừ Mon‑Khmer được tríchdẫn như đồngnguyên lại dựatrên cơsở từnguyênhọc khảnghi. Ngoài các mụctừ đã liệtkê trong phần này, ngaycả tên mườihai con giáp — chuột, trâu, cọp (hùm), mèo, rồng, rắn, ngựa, dê, khỉ (vượn), chó, heo — cũng minhhoạ vấnđề. Mộtsố ít tươngứng cóthể xácđịnh chắcchắn hơn, chẳnghạn: Old Khmer /cnam/ ~ HN năm 年 nián; Old Khmer /cau/ ~ HN cháu 侄兒 zhír; Khmer /babuh/ ~ HN bọt 泡 pào.

Đồngthời, có rấtnhiều từ tiếngViệt cơbản mà Mon‑Khmer không cungcấp bấtkỳ đồngnguyên nào. Thídụ: 蓮藕 lián’ǒu ~ HN ngósen; 田 tián ~ HN đồng; 銅 tóng ~ HN thau. Những khoảngtrống này nhấnmạnh giớihạn của giảthuyết Mon‑Khmer khi ápdụng vào từvựng cốtlõi tiếngViệt.

Khảnăng rằng nhiều mụctừ cơbản đượcxemlà đồngnguyên Mon‑Khmer thựcsự là từvaymượn từvựing tiếngViệt củngcố một logic ngược với lậpluận của Maspero về việc thanhđiệu khôngthể được tiếpthu tựnhiên bởi người nói ngônngữ vôthanhđiệu. Một hiệntượng songhành cóthể thấy trong tiếng Nhật và Hàn, nơi từ Hán cảhai ngônngữ đó vaymượn xuấthiện khôngcó thanhđiệu, mặcdù tưliệu lịchsử chothấy chúng được vay trựctiếp từ tiếngHán vào thời Đường (618–907).

Với những điềunày, ta xét bảnchất của từvựng cơbản Thái, Mon‑Khmer, Việt làm lunglay các tiềnđề của Maspero và Haudricourt — luậnđiểm về tính nguyênthuỷ Thái của Maspero và họcthuyết thanhngữnguyên của Haudricourt. Trong phần tiếptheo, tácgiả sẽ triểnkhai từng từnguyên, gomnhóm chúng dưới một nhãn Hán‑Việt đi kèm mỗi mụctừ. Trướctiên, ta cóthể liệtkê mộtsố từ tiếngViệt từ chính vídụ của Maspero (Études sur la Phonétique Historique de la Langue Annamite, 1952), những từ ông phânloại là có tầngnền Mon‑Khmer và đồngnguyên Thái. Tuyvậy, trong từng trườnghợp, tácgiả nhậnthấy chúng cũng hiểnthị các tươngứng Hánngữ và Hán‑Tạng rõrệt:

A. Mon‑Khmer (các mụctừ Maspero căncứ theo Haudricourt chấpnhận là tầngnền trong tiếngViệt)

1. rừng 林 lín (HV lâm)

  • Dẫnxuất: M 林 lín < MC lim < OC ɡ·rɯm. So sánh OC srɯm (HV sâm, HN rậm). QuảngĐông /lam4/.
  • Mẫuhình: Các tươngứng /l‑ ~ r‑/ baogồm 龍 lóng (SV long) ~ HN rồng ‘dragon’; 蘢 lóng (HN long) ~ HN rậm ‘dense’; 壟 lóng (HV long) ~ HN rẫy ‘farming ridge’.
  • Đồngnguyên: Burmese rum ‘dense’; Kachin diŋgram2 ‘forest’; Lushei ram ‘forest’ (Starostin). Shafer: Hán‑Tạng Luśei ram (tr. 67); Ngữchi trungương: Kukis r2am, Ngente, Haka ram (tr. 230).
  • Tươngứng Mon‑Khmer: Old Mon /grīp/, hiệnđại /gruip/; Danaw /pʿrɑ2bo4/; Riang White /priʔ/; Riang Black /prɪʔ/; Palaung /bréɪ2/; Wa /brɑʔ3/; Old Khmer /vraɪ/; Sakai /brɪ/; Besisi /ʾmbri/; Semang /těpɪʾ/; Srê /brɪ/; T’eng /brɪ/; K’mu /mprɪ/; Khasi /brɪ/; Mundari /bɪr/.
  • Wiktionary: Cónguồn từ Proto‑Sino‑Tibetan rəm ‘jungle, forest, country, field’ (STEDT ram). Đồngnguyên với 森 (OC srɯm ‘forest’), Mizo ram ‘forest, country’, Karbi ram ‘jungle’. Hoặclà một từ vùng (Schuessler 2007), dùngchung với Khmer រាម riəm ‘jungle along a stream’, Old Khmer rām ‘inundated forest’, Mon ရာံ rèm ‘copse’.

2. áo 衣  ‘shirt’ (SV y)

  • Dẫnxuất: M 林 lín < MC lim < OC ɡ·rɯm. So sánh OC srɯm (SV sâm, VS rậm). QuảngĐông /lam4/.
  • Mẫuhình: Các tươngứng /l‑ ~ r‑/ baogồm 龍 lóng (SV long) ~ HN rồng ‘dragon’; 蘢 lóng (HN long) ~ HN rậm ‘dense’; 壟 lóng (HV long) ~ HN rẫy ‘farming ridge’.
  • Đồngnguyên: Burmese rum ‘dense’; Kachin diŋgram2 ‘forest’; Lushei ram ‘forest’ (Starostin). Shafer: Hán‑Tạng Luśei ram (tr. 67); Nhánh Trungtâm: Kukis r2am, Ngente, Haka ram (tr. 230).
  • Tươngứng Mon‑Khmer: Old Mon /grīp/, hiệnđại /gruip/; Danaw /pʿrɑ2bo4/; Riang White /priʔ/; Riang Black /prɪʔ/; Palaung /bréɪ2/; Wa /brɑʔ3/; Old Khmer /vraɪ/; Sakai /brɪ/; Besisi /ʾmbri/; Semang /těpɪʾ/; Srê /brɪ/; T’eng /brɪ/; K’mu /mprɪ/; Khasi /brɪ/; Mundari /bɪr/.
  • Wiktionary: Cónguồn từ Proto‑Sino‑Tibetan rəm ‘jungle, forest, country, field’ (STEDT ram). Đồngnguyên với 森 (OC srɯm ‘forest’), Mizo ram ‘forest, country’, Karbi ram ‘jungle’. Hoặc là một từ vùng (Schuessler 2007), dùngchung với Khmer រាម riəm ‘jungle along a stream’, Old Khmer rām ‘inundated forest’, Mon ရာံ rèm ‘copse’.

3. chim 禽 qín (HV cầm)

  • Dẫnxuất: M 禽 (擒) qín < MC gim < OC ɡrɯm. Khôiphục dựâm đời Đường: ghyim.
  • Phươngngữ: QuảngĐông kam4; Hẹ kim2; Tôchâu ʑin12; Ônchâu ʑiaŋ12; Shuangfeng ʑin12.
  • Nguồncổ: Shuowen địnhnghĩa 禽 là “sinhvật hai chân có lôngvũ”; Kangxi trích nhiều nghĩa, baogồm “chim và thú nóichung”.
  • Guangyun: 禽 琴 巨金 羣 侵B, MC gi̯əm.
  • Starostin: Từ thời Chu muộn, 禽 thường dùng cho “chimhoang” (“thứ bị bắt”), còn 擒 dùng cho “cầm”, cónghĩalà bắt, chộp, tóm.

4. lúa 來 lái ‘unhusked rice’ (SV lai)

  • Dẫnxuất: M 來 lái, lài, lāi < MC ləj < OC mrɯːɡ. Phụckhôi đời Đường: ləi.
  • Phươngngữ: QuảngĐông lai4, loi4, loi6; Hẹ loi2.
  • Shuowen: liênhệ 來 với 麰 ‘lúamì/lúamạch’.
  • Starostin: Shijing OC rjəs. Dạng Mânnam: Kiếnâu lej2, Kiếndương le2, Thiệuvũ li2.
  • Wiktionary: 來 vốnlà hìnhthanh chỉ lúa mì, vềsau được mượn để chỉ ‘đến’. Liênquan 麥 (OC *mrɯːɡ ‘wheat’). Đồngnguyên với Burmese လာ la ‘come’, Proto‑Vietic laːjʔ.
  • Ghichú: VS lúa là một vaymượn cổ; dạng Hán‑Việt quyphạm là đạo 稻. Biếnđổi thanhđiệu bấtquytắc gợiý một lịchsử vaymượn phứctạp, cóthể qua giaiđoạn trunggian với ‑k > ‑ʔ.

5. ngày 日  (HV nhật)

  • Dẫnxuất: M 日 rì, mì < MC ȵit < OC njiɡ.
  • Phươngngữ: Dạng Mânnam: Hạnôn tɕit8, lit8; Triềuchâu zik8; Phúcchâu nik8; Kiếnâu ni8; Quảngđông /jat8/, /jit8/.
  • Tươngứng Hán‑Tạng: OB nyi‑ (nyin); Dwags nyen‑te; Kukish cổ k‑ni; Luśei, Meithlei ni; Burmish ńi‑; Loloic ńi; Akha nẵ¯; Ulu nie. Nhánh Baric: Bodo ‑ni, Dimasa ‑nai, Atong ‑ni, v.v.
  • Tươngứng Mon‑Khmer (Luce): Old Mon /tŋey/, hiệnđại /tŋai/; Danaw /tsʿɪ1/; Riang White /sʿɤŋyiʔ/; Palaung /săŋɑ’i2/; Wa /ʃɪ4ŋɑiʔ3/; Old Khmer /tŋaɪ/; Sakai /těŋŋɪ/; Srê /ŋái/; K’mu /simyi/; Khasi /sngi/; War /juŋai/; Gadaba /sĩi/.
  • Biếnthể tiếngViệt: HN giời ‘sun’ < trời ‘heaven, sky’.

B. Thái (các từ tiếngViệt được Maspero xemlà gốc Thái trong mụctừ của ông)

1. gà 雞 jī ‘chicken’ (SV kê)

  • Dẫnxuất: M 鷄 jī < MC kiej < OC *ke:.
  • Mẫuhình ngữâm: /j‑ ~ g‑/.
  • Thídụ:
    • gàmái: 雞母 jīmǔ;
    • gàtrống: 雞公 jīgōng (Quảngđông, Mânnam, baogồm Hảinam).
    • Cũnggồm: gàmẹ: 母雞 mǔjī ‘hen’; gàcồ: 公雞 gōngjī ‘cock’.
  • Tươngứng liênquan: sosánh jìn 近 (HV cận: HN gần), jì 記 (HV ký: HN ghi), jì 寄 (HV ký: HN gởi), jí 急 (HV cấp: HN gấp).

2. vịt 鵯 bēi (HV phi, thiết)

  • Dẫnxuất: M 鴄 pī, pǐ (phất, tiết) < MC pjie < OC *pʰid, nay đượcxemlà dạng cổ trong Hánngữ và Hán‑Xenic; từ thôngdụng cho ‘vịt’ trong Hánngữ hiệnđại là 鴨 (OC *qraːb).
  • Wiktionary:
    • Tai‑Kadai: Proto‑Tai *pitᴰ ‘duck’ > Thái เป็ด bpèt, Lào ເປັດ pet, Choang bit;
    • Proto‑Vietic *viːt ‘duck’ > tiếngViệt vịt; Alves (2015) đềxuất gốc Thái;
    • Hán‑Tạng: Miju kɹɑi³⁵ pit⁵⁵ ‘duck’; Pela pjɛ̱t⁵⁵ ‘duck’; Zaiwa pje̱t⁵⁵ ‘duck’; Proto‑Lolo‑Burmese *baj¹/² ‘duck’ > Burmese ဘဲ bhai:.
  • Phươngngữ: Quảngđông 鵯 /bei1/, 鴄 /pat4/.

3. gạo 稻 dào ‘paddy’, ‘rice’ (SV đạo)

  • Dẫnxuất: M 稻 dào < MC daw < OC *l’uːʔ.
  • Từnguyên: Từ vùng (vùng lúanước phátsinh ở phươngNam). Thườngđược sosánh với Proto‑Hmong‑Mien *mbləu ‘rice plant/paddy’, từđó có Hmông Trắng nplej (Bodman 1980). Quanhệ với các dạng Mon‑Khmer tươngtự còn mơhồ (Schuessler 2007). Ferlus (2010) đềxuất liênhệ với Proto‑Austroasiatic *srɔ(ː)ʔ ‘paddy’ (khôiphục dựâm Sidwell 2024; hiệuđính từ Shorto 2006 *sruʔ).
  • Proto‑Austroasiatic: *sroʔ ‘taro’ (Sidwell 2024; hiệuđính từ Shorto 2006 *t₂rawʔ), vì hai loàicây này cùng chiasẻ một môitrường canhtác giốngnhau.
  • Ghichú Việt: VS lúa là một vaymượn cổ; dạng Hán‑Việt quyphạm là đạo. Dạng nguyênthuỷ: *ly:wH (~ l^-), nghĩa: rice, grain. Hán: 稻 *lhu:? (~L^h‑) rice, paddy; Burmese luh (một loài hạt, Panicum paspalum); Kachin c^@khrau1 ‘paddy ready for husking’; Kiranti *lV ‘millet’.
  • Khôiphục dựâm thaythế: Sagart (2011) dẫnxuất từ 舀 (OC *lowʔ, *lu, *lo ‘múc (hạt đã giã) từ cối’). Nếuvậy, vì dạng Hmong‑Mien chỉ có nghĩa pháisinh ‘rice’, thì nó được vay từ Hán chứkhôngphải ngượclại. Từ Mân bảnđịa 粙 cóthể là một biếnthể (Schuessler 2007, dẫn theo Norman, p.c.). Schuessler: MC dâu < OC *gləwʔ hoặc *mləwʔ. Starostin xem 稻 dào (SV đạo) là gốc của ‘lúa’ như đã nêutrên.

3. cam 甘 gān (HV cam)

  • Tươngứng tiếngViệt: ngọt @ 𩜌 yuē (HV ngạt).
  • Dẫnxuất: M 甘 gān < MC kam < OC *ka:m; *OC 甘 甘 談 甘 kaːm; FQ 古三.
  • Mẫuhình ngữâm: /g‑ ~ ng‑/.
  • Nguồncổ: Shuowen: 也。从口含一。一,道也。凡甘之屬皆从甘。古三切. Kangxi: baogồm các nghĩa ‘đẹp, ngọt; một trong năm vị’, tên quả (柑 ‘cam’), tên thảo, và các cáchdùng thànhngữ.
  • Thídụ: 甘心 gānxīn (camtâm), 甘苦 gānkǔ (camkhổ), 甘泉 gānquán (camtuyền), 食不甘味 shí bù gān wèi (‘ăn không thấy ngon’), 甘草 gāncǎo (camthảo).
  • Ghichú: Maspero liênhệ các cặptừ “cam” với các ngônngữ Daic như TháiTrắng, Thái, Lào, Ahom, Shan, v.v.

4. cam 柑 gān (HV cam)

  • Dẫnxuất: M 柑 gān < MC kam < OC *ka:m.
  • Giảithích: Quả cam, Citrus nobilis (Hán).
  • Từnguyên: 甘 (OC *kaːm ‘sweet’) (Wang 1982); xét nguồngốc camquýt thuộc phươngNam, có khảnăng liênhệ với Austro‑Asiatic; sosánh Proto‑Austroasiatic *ŋaːm (Schuessler 2007).

5. cam 疳 gān (HV cam)

  • Dẫnxuất: M 疳 gān (lịchsử liênhệ với M 甘 gān) < MC kam < OC *ka:m.
  • Ghichú phươngngữ: Hẹ gam1.
  • Nguồncổ: Kangxi: 疳 là bệnh trẻem do ăn đồngọt; baogồm các môttả yhọc cổtruyền chitiết.
  • Thídụ: 疳積 gānjī (HV camtích, ‘bệnh trẻem’).

6. cả 價 jià (HV giá)

  • Cáchdùng tổhợp: giácả 價格 jiàgé (HV giácác).
  • Dẫnxuất: 價 jià, jiè, jie < MC ka < OC *krajʔs; liênhệ với 賈 jià, jiă, gǔ (giá, giả, cổ).
  • Nguồncổ: ShuowenKangxi giảng 價 là ‘giátrị’, ‘giábán’, với sựvaymượn qualại lịchsử giữa 價 và 賈; Guangyun cho 駕 古訝 cho các âm liênhệ.
  • Ghichú: Maspero không liênhệ ‘cả’ với 價 hoặc tổhợp songâm 價格, nên giảđịnh gốc Daic; tuyvậy, giácả là một hìnhthức gốc Hán trong cấutrúc.

C. Háncổ (các từ tiếngViệt Maspero xemlà gốc Thái)

Maspero liệtkê mộtsố từ tiếngViệt mà ông cholà gốc Thái. Tuyvậy, Haudricourt (1961: 51–52) chỉra rằng nhiều từ trongsốnày xemlà từvaymượn Háncổ vào cả tiếngViệt lẫn tiếngThái.

1. chèo 掉 diáo (HV trạo)

  • Dẫnxuất: M 棹 (桌, 櫂) zhào, zhuō, zhuó (trạo, trác) < MC ɖaɨw < OC *rdeːwɢs.
  • Starostin: nguyên được viết 櫂 (Cuốiđời Chu), cóthể khôiphục dựâm ɬ(h)e:kʷ‑s. Tới đời nhàHán, âmđọc chuyểnthành d.(h)ie:\w (pháttriển thành âm quặtlưỡi trong loạt âmđầulưỡi), dođó có dạng vềsaunày 櫂 (từ đời nhàTấn).
  • Âm Hán muộn: ɬ(h)e:kʷ, MC ḍạuk, Quanthoại zhuo ‘một loại bát, đồđựng’.
  • Ghichú: HN chèo là dạng khẩungữ; dạng Hán‑Việt quyphạm là trạo.
  • Austric: Thái ʔcɛ:w.A ‘chèo’, Khmer ce:w ‘chèo’, Mon tasu ‘chèo’: ngữâm chothấy đâylà vaymượn muộnmàng (hậu‑Hán Trungcổ) từ đờiHán vào tấtcả các dạng này.

2. bè 筏   (HV phiệt, HN phà)

  •  Dẫnxuất: M 筏 fá < MC bʷiɐt, pwat < OC *pa:d, *bad. Sosánh ‘bắc’ 艊, 舶 bó (SV bạc) < MC baɨjk < OC *bra:g | Thídụ: 船舶 chuánbó (thuyềnbè).
  • Ghichú: 舶 bó (HN bắc, chỉ ‘phà lớn’). Nhật: びゃく byaku chỉ ‘tàubiển’.

3. bánh 餅 bǐng (HV bính)

  • Dẫnxuất: M 餅 bǐng < MC pjɛŋ < OC *peŋʔ.
  • Thídụ: 白餅 báibǐng (VS bánhdày); 包餅 bāobǐng (SV bòbía, ‘lapxuong tapioca spring roll’), cũnggọi ‘bánhpía’.
  • Ghichú: Nôm sớm (Ngọc Nam Chỉ Âm, TK16) chothấy luânphiên /baj2 ~ jaj2/.
  • Hậuduệ: Khmer បាញ់ bañ ‘cake, pastry’; Lào ແປ້ງ pǣng ‘bột’; Thái แป้ง bpɛ̂ɛng ‘bột’; Việt: bánh, bánhpía (chỉ mộtloại bánh trungthu nhỏ kiểu Tôchâu).

4. tiếng 聲 shēng (HV thanh)

  • Dẫnxuất: M 聲 shēng < MC ɕiajŋ < OC qʰjeŋ.
  • Phươngngữ: QuảngĐông ʃieŋ21; Hảinam tje1; Hạmôn sɨŋ11, siã11; Triềuchâu siã11; Phúckiến siŋ11.
  • Nguồncổ: Shuowen địnhnghĩa 聲 là ‘âm’; Kangxi trích nhiều nghĩa như ‘nhạc’, ‘vang’, ‘lờinói’.
  • Thídụ: 聲張 shēngzhāng (HN lêntiếng), 聲名 shēngmíng (VS danhtiếng).
  • Ghichú: HN tiếng là pháttriển khẩungữ từ cùng gốc.

5. đũa 箸 zhú (HV trợ, chừ, trừ)

  • Dẫnxuất: 箸 zhù, zhú, zhuó, zhuò < MC ɖɨə̆ < OC *tas, *das.
  • Phươngngữ: Hảinam /du2/.
  • Ghichú vănhoá: Nhiều khảnăng là vaymượn Việt‑Việt (Việt cổ) vào tiếng Hán. Đũa gắnvới vănhóa lúanước phươngNam (Hồnam). Người Hoa phươngBắc — không trồng lúa sớm — tiếpnhận thuậtngữ muộn hơn. Kiêngkỵ âm 倒 dào (HV đảo, HN đổ) trong vănhóa ghethuyền, người phươngNam tạo 筷 đồngâm 快 kuài (HN mau). Cũng có thuyết do đồngâm với 住 zhù ‘dừng’ trong ngônngữ thuyềnchài. Thuậtngữ này vẫn dùng trong hầu hết các phươngngữ Mânnam và rảirác trong các phươngngữ khác như Ngô Nam (baogồm Ônchâu).

6. nàng 娘 niáng (HV nương)

  • Biếnthể Hánnôm: ná, nạ, nường.
  • Dẫnxuất: M 嬢 (娘) niáng < MC ɳɨaŋ < OC *naŋ.
  • Phươngngữ: Phúckiến nuəŋ12; ZYYY niaŋ12; Hạmôn nĩu12; Triềuchâu niẽ12; Thượnghải niã32.
  • Liênquan: 妳 nǐ (SV nhĩ). BắcKinh khẩungữ: 娘兒 niár ‘mẹ’. Có giảthuyết là tiếngHán vaymượn từ này từ Turkic cổ anaŋ ‘your mother’, từ Proto‑Turkic *ana ~ *eńe ‘mother’ + *‑iŋ (hậutố sởhữu ngôithứhai) (Vovin & McCraw 2011).
  • Ghichú: là âm cổ để gọi ‘’. § Phậtthuyết: “Chẳng biếtơn áng ná.” HN nạ giữ nghĩa cổ ‘mẹ’.
  • Hậuduệ: Khmer នាង niəng ‘nàng’; Lào ນາງ nāng ‘nương’; Thái นาง naang ‘nường’; Việt nàng

7. mèo 貓 māo (HV miêu)

  • Dẫnxuất: M 貓 (猫) māo, máo < MC miaw, maɨw < OC *mrew, *mreːw.
  • Liênquan: 卯 mǎo (HV mão, HN mẹo).
  • Thídụ: 卯年 mǎonián ~ HN nămmèo / nămmão.
  • Ghichú: Trong 12 congiáp của vănhoá Việtnam, 卯 ứng với mèo, khôngphải thỏ (兔年). 卯年 mǎonián (mãoniên) đượcgọilà “năm Mèo”, còn ở Trungquốc trởthành “năm Thỏ”. Nguyênnhân do gần âm giữa 貓 māo ‘mèo’ và 卯 mǎo, với 卯 làm yếutố hìnhthanh. Vì mèo là linhvật trong tínngưỡng Trunghoa, “năm Mèo” (貓歲 māosuì, HV miêutuế, HN tuổiMèo) bị táidiễngiải thành “năm Thỏ” (卯兔 mǎotù, HV mãothố “mèo-thỏ”).

D. Những dạngtừ khác (Haudricourt cholà từ gốc NamÁ trong tiếng Thái)

    Ngoài những vídụ mà Maspero đã nêu, Haudricourt (1961) còn nhậndiện thêm mộtsố từ tiếngViệt mà ông môtả như những vaymượn từ hệ Môn-Khmer vào tiếngThái. Điều thúvị là từng trườnghợp đều chothấy mối quanhệ đồngnguyên rõrệt với các hìnhthức của Hánngữ.

1. bụng 腹  (HV phục)

  • Dẫnxuất: 腹 fù < MC puwk < OC *pug. Biếnđổi ngữâm: OC /p‑/ > HN /b‑/; M /f‑/ > HN /b‑/.
  • Đốichiếu sosánh: Tâytạng ze‑a~bug ‘baotử thứtư nhailại’; Miến pjəuk ‘bụng’; Lushei puk; Lepcha ta‑fuk, ta‑bak ‘bụng’; Kiranti ʔpo/k; Sho puk; Kham phu ‘bụng’; Gyarung tepok.
  • Hán-Tạng: Từnguyên dạng *d‑puːk (‘bụng; tạngphủ; vậtrỗng; hang’); đồngnguyên với 𥨍 ‘hang’, TâyTạng ཕུགས phugs ‘tạngphủ’, Miến buik ‘bụng’, a.pauk ‘lỗ’, Chepang tuk ‘bụng’, Proto‑Bodo‑Garo *bi(ʔ)‑buk ‘ruột’, Cogtse Situ /tə‑pōk/, Brag‑bar Situ /tə‑vōk/, Proto‑Tani *puk ‘tim’.
  • Sosánh thêm hệ Môn-Khmer: Proto‑Mon‑Khmer *bo()k ‘bụng’, Khmer ពោះ pŭəh ‘bụng’, tiếngViệt bụng (Shorto 2006; Schuessler 2007).

2. nghe 聽 tīng (HV thính)

  • Dẫnxuất: M 聽 (听) tìng, tīng < MC tʰɛjŋ < OC *l̥ʰeːŋ, *l̥ʰeːŋs
  • Phươngngữ: Hảinam /k’ɛ1/; Amoy thiɛŋ11, thiã11; TriềuChâu thiã11.
  • Tươngứng ngữâm: /t‑, d‑ ~ ng‑/, vídụ 停 tíng (HV đình) ~ HN ngừng; 短 duǎn (HV đoản) ~ HN ngắn.
  • Ghichú: 聞 wén (nghe) có thể là gốc của HN ngửi qua pháttriển ngữnghĩa muộn.Sosánh 門 mén ~ HV ngõ.
  • Vídụ: 聽話 tīnghuà: nghelời; 聽說 tīngshuō: nghenói; 凝聽 níngtīng: nghengóng; 聆聽 língtīng: lắngnghe.

3. cổ 胡  (HV hồ, HN cổ, cồ)

  • Dẫn‑xuất: 胡 hú < MC ɦɔ < 古漢語 *ga:.
  • Phươngngữ: QĐ wu4; Hẹ fu2. Hán Trungcổ: /ho/. Tiền-Tháicổ *ɣo:ᴬ.
  • Nguồncổ: Shwowen giải 胡 là ‘yếm trâu’; Kangxi ghi ‘cổ’; chỉ cái ‘yếm’.
  • Tiền‑Việtcổ :*koh ‘họng’; ‘cổ’, từ Proto‑Austroasiatic *kɔːʔ ‘cổ’ (Sidwell 2024). Đồngnguyên với Thổ (Dạngtừ biếnâm lầncuối trong tiếngChăm) kɔː⁵, Khmer kɑɑ, Bahnar hơko, Mon ကံ.
  • Đốichiếu: Tâytạng kru‑kru ‘khíquản’; Kachin z^jəkhro1 ‘họng; thựcquản’.
  • Ghichú: HN cổ(họng) ~ cuống(họng) tươngứng 胡嚨 húlóng ~ 喉嚨 hóulóng. M 脖子 bózi tươngứng HN cáicổ. Các tổhợp như cổchân (‘mắtcá’ nghĩađen ‘cổ của chân’) phảnánh nghĩanớirộng giống tiếngHán.

4. cằm 頷 hàn (HV hàm, HN cằm, ngậm)

  • Dẫnxuất: 頷 hàn, ǎn, hán < MC ɦəm < 古漢語 *ɡɯːm, *ɡɯːmʔ.
  • Từnguyên: Từ Proto‑Sino‑Tibetan *mV‑qəm ‘hàm; cằm; rănghàm’ (STEDT *gam). Bodman (1980) xem đâylà biếndạng của 含 (OC *ɡɯːm ‘ngậm’), nghĩagốc ‘cáivật giữ trong miệng’. Starostin ghi ‘cằm; hàmdưới’ (Chu muộn). Trong tiếngHán, 頷 đồngnguyên với 函 (OC *ɡuːm, *ɡruːm ‘chứa; hộp; thư’); 銜 (OC *ɡraːm ‘ngậm; hàmthiết’) có liênhệ.
  • Phươngngữ: Hạmôn, Triềuchâu am4.
  • Ghichú: M 下巴 xiàbā (HN hạba) là từ chuẩn hiệnđại. HN cằm cóthể từ dạng songtiết MC /xaba/ > /χamba/ > /kamba/ > /kamɓ/ > /kăm/ qua xenâm (sandhi) và điềukiệnhoá âmmôi.

5. cà 茄 qié, (HV già, HN ‘cà’)

  • Dẫnxuất: 茄 qié < MC kaɨ, gɨa < OC *ga, *gal, *kra:l.
  • Phươngngữ: QĐ khe12; Hạmôn khe11, kio12; Triềuchâu kie12; Phúcchâu kia11; Thượnghải ka32.
  • Từnguyên: Từ xuấthiện rấtmuộn, sớmnhất tìmthấy trong 《僮約》 (59 TCN): ‘二月春分……別 茄 披蔥’. Alves (2022) liênhệ Proto‑Vietic *gaː (→ HN cà), xemđây là từ vaymượn từ tiếngHán từxưa. Starostin cho nghĩagốc ‘cuống sen’ (OC kra:j, MC ka). Nghĩa ‘cà’ chỉ thấy từ đời nhàTấn.
  • Ghichú: MC ga là dạng địaphương. HN là khẩungữ; dạngchuẩn là già. Nhiều khảnăng là vaymượn từ tiếngViệt vào tiếngHán, vì không thuộc bảnđịa vùng Hoabắc. Sosánh 西紅柿, 番茄 (đểchỉ ‘càtây’, cà ‘tomate’ từ tiếngPháp → ‘càtômát’ ) cho các loại hoaquả dunhập muộn.

Mặcdù các vídụ trên rất phongphú, cả Maspero lẫn Haudricourt đều bỏqua khảnăng rằng hầuhết những mụctừ được tríchdẫn cóthể quyvề các đồngnguyên Hánngữ. Nếu đặt hai lậptrường của họ cạnhnhau—bấtkể mốiquanhệ mà từng nguyêntự gợiý — câuhỏi cốtlõi vẫn không thayđổi: những từ này được vay từ tiếngHán vào tiếngViệt, từ tiếngViệt vào tiếngHán, haylà cùng phátxuất từ một tổgốc chung (BáchViệt)?

Sựmơhồ này lặplại trong các trườnghợp như lúa ~ gạo 稻 dào ‘lúa’ và cà 茄 qié ‘cà’, nhấtlà khi đặtcạnh những mục như đường 糖 táng HV ‘đàng’, voi 為 wēi HV ‘vi, vị’, chuối 蕉 jiāo HV ‘chiêu’, dừa 椰 yé HV ‘gia’, chó 狗 gǒu HV ‘cẩu’ (HN cầy), và sông 江 jiāng HV ‘giang’. Những từ này, cùng hàng chục mục cơbản khác, nhấtquán chỉ về một tầng 百越 — đồngthời cũng chothấy quanhệ đồngnguyên với các hệ 孟·高棉 và Namđảo như nhiều họcgiả đã ghinhận. (see Từvựng Cănbản Môn‑Khmer và TiếngViệt list.)

Trong quanhệ giữa Hánngữ và Hán‑Nôm, hễ có tươngứng trong từvựng thì cókhảnăng lớn là chúng có liênhệ trựctiếp vớinhau hơnlà với bấtkỳ ngônngữ bênngoài nào khác. Lịchsử tiếpxúc giữa hai cộngđồng đã kéodài hơn 2.250 năm, ítnhất từ thời tiền‑Hán. Dù hướng vaymượn là từ Háncổ vào Hán‑Nôm hay ngượclại, mốiquanhệ ấy hiểnnhiên trong những mụctừ chung như tên mườihai con giáp, vốn ứng với hệ Địachi.

Các chữ Hán dùngđể ghi những từ này ngàynay chỉlà pháttriển vềsau. Mỗi chữ được cấutrúc theo môthức {bộ + hìnhthanh}, trong đó bộ thủ giữ vai trò chỉdẫn ngữnghĩa. Chúng khôngphải là các tượnghình nguyênthuỷ như 火, 日, 刀. Điều này mở ra khảnăng rằng một số danhtừ cơbản trong Hán‑Nôm cóthể có trước văntự và phảnánh nguồngốc BáchViệt hay phươngNam. Thựctế, người Annam khôngcần đợi đến thếkỷ XII mớibiết phátâm các từ thôngdụng có thanhđiệu. Tráilại, chứngcứ chothấy nhiều mụctừ cơbản cóthể là vaymượn từ BáchViệt vào Hánngữ. Vídụ gồm:

  • 豆 dòu (nồi) — hìnhthanh của 荳 ‘đậu’, vẫncòn tồntại.
  • 弩 nǔ (ná, nỏ) — M 弩 nǔ < MC nuo < OC *naːʔ. Theo Starostin, HN là vaymượn cổ; dạngtừ muộnhơn là nỏ. HV nỗ. Trong Hánngữ, 弩 đã thấy từ cuối đờ nhàChu; 砮 *n(h)āʔ, *n(h)ā (MC nó, no; M nǔ; HN nỗ) cóthể cùng gốc.
  • 舟 zhōu (tàu, đò) — M 舟 zhōu < MC tɕɨu < OC *tjɯw. Sosánh 舠 dāo ‘tàu’ và 刀 dāo ‘đao’. Người Giangnam cổ nổi tiếng về thuỷtrình sôngrạch.
  • 舠 dāo (tàu) — M 舠 dāo < MC taw < OC *ta:w. Schuessler xem đây là vaymượn từ Proto‑Mon‑Khmer *ɗuuk ~ *ɗuk ‘thuyền’, trongkhiđó Khmer ទូក tuuk và HN nốc (< Proto‑Vietic *ɗoːk ‘thuyền’). Cóthể đồngnguyên với 輈 (OC *tɯw ‘trục’). Phươngngôn của Dương Hùng ghi 舟 (OC tjɯw) phổbiến ở phíađông Trunghoa, còn 船 (OC ɦljon) dùng ở dưới phíatây Hoalục.
  • 船 chuán (HV thuyền; HN xuồng) — Ss. 駕船 jiàchuán ‘láithuyền’. Ở phươngNam, các từ liênquan đến chèo thườngdùng 掉 diáo (HV trạo; HN chèo), ss. 櫂 zhào (chèo).
  • 井 jǐng (giếng) — M 井 jǐng < MC tsiajŋ < OC *skeŋʔ.
  • 耕 gēng (cày) — M 耕 gēng < MC kəɨjŋ < OC *kre:ŋ. Ss. HV canh.
  • 種 zhòng / zhǒng (trồng; giống) — M 種 zhǒng, zhòng < MC tɕiowŋ < OC *tjoŋʔ, *tjoŋʔs. Ss. HV chủng.
  • 銅 tóng (thau) — M 銅 tóng < MC dəwŋ < OC *do:ŋ. Ss. HV đồng.
  • 鋤 jǔ (cuốc) — M 鋤 chú, zhù, jǔ < MC dʐɨə̆ < OC *zra.
  • 鋸 jū (cưa) — M 鋸 jù, jū < MC kɨə̆ < OC *kas.

Những vídụ này, cùng nhiều trườnghợp khác, gợiý rằng nhiều từ cơbản của Hán‑Nôm có gốc sâu trong tầng BáchViệt, rồi được phủlớp bởi các đợt vaymượn và hộitụ từ Hánngữ, hệ Môn‑Khmer và Namđảo.

Quanhệ ditruyền giữa Hánngữ và Hán‑Nôm trong từvựng cơbản càng được củngcố bởi giảthuyết rằng ngônngữ của người BáchViệt đã đónggóp đángkể vào hệ ngữngôn tiền‑Hán. Khi tổtiên dumục của người Hoa tiến về phía đông và nam, họ cóthể đã vaymượn nhiều từ của người BáchViệt, những người mà họ xem là thuộc phươngNam. Khoảng 5.000 năm trước, khi tộcngười tiền‑Hán còn là dândumục trên lưngngựa, thì dântộc BáchViệt đã thànhthạo lúanước, thuỷtrình và hảihành. Ảnhhưởng của họ cóthể lanrộng trong quátrình phânbố về phươngNam của các nhóm BáchViệt và Namđảo.

Người BáchViệt cổ canhtác hai bờ Trườnggiang, nơi các nước Thục (蜀), Sở (楚), Ngô (吳), Việt (越) hưngthịnh. Trước đời Tần, khi các vùng chưa thốngnhất, vaymượn từ BáchViệt tựnhiên thấm vào lờinói của nhiều cộngđồng cưdân Hoanam. Điềunày đặcbiệt tỏrõ trong hệ mườihai congiáp, ứngvới Địachi: 子, 丑, 寅, 卯, 辰, 巳, 午, 未, 申, 酉, 戌, 亥 (tý, sửu, dần, mẹo, thìn, tỵ, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi). Chúng tươngứng với các từ cơbản của Hán‑Nôm: chuột, trâu, cọp, mèo, rồng, rắn, gà, chó, heo, v.v.

Câuhỏi đặtra: vì sao tiền‑Hán hay tiền‑Việt, vốn đãcó từ riêng, lại vaymượn thêm một hệthống có têngọi khác? Cóthể vì lýdo tínngưỡng hoặc nghi lễ. Thựctế, toànbộ hệ HV tý, sửu, dần, mẹo, thìn, tỵ, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi được táinhập vào Hán‑Nôm từ tiếngHán Trungcổ. Chúng nghe trangtrọng hơn, giống như cách người Việt hiệnnay dùng Hán-Việt cho cung Hoàngđạo Tâyphương: Bạchdương (白羊), Kimngưu (金牛)…

Đối với ngữâm tiền‑Hán, các phátâm thờicổ của mườihai congiáp cóthể không khác nhiều sovới từ bảnđịa. Nếu khác quá xa, họ đã khôngcần thay 卯 (mèo) và 未 (dê) bằng 兔 (thỏ) và 羊 (dê). Những thaythế này phảnánh vănhoá: người Hoa kiêng mèo; vănhoá phươngBắc trọng (đúngra là cừu ‘sheep’); phươngNam trọng trâu (丑) và heo (亥). Điểm cốtyếu: mườihai congiáp là đồngnguyên trong cả hai truyềnthống.

Hệ mườihai congiáp trong âm Hán-Nôm, saukhi đi một vòng rồi trởlại thôngqua ngữâm Hán‑Việt, chothấy sựtồntại của ítnhất hai lớptầng danhtừ. Điềunày củngcố giảthuyết rằng nhiều từ cơbản Hánngữ cóthể pháttriển từ một “nguồn ngoạilai đã tuyệtchủng” (Norman 1988:17), ngoài các đồngnguyên với Tâytạng. Nguồn ấy cóthể là cơtầng BáchViệt, vốn cũng hìnhthành từ vựng vềsau lại xếp vào từdạng Hán‑Nôm. Từ tầngnền này mà các nhóm cưdân các nước Ngô, Việt, Sở, Châu hìnhthành cách nay 3.000 năm, cóthể hìnhthành với yếutố Thái đónggóp. Kháiniệm “tiền‑Hán” ởđây chỉ các nhóm tộcngười và ngônngữ của họ chưa hoàtrộn hoàntoàn với cưdân bảnđịa trước khi họ tiếnvào vùng Hoanam.

Sựtraođổi từvựng thườngxuyên là chỉdấu khác của quanhệ. Nhiều từ cơbản đồngnguyên khôngchỉ giữa Hánngữ và Hán‑Nôm mà còn trong toàn bộ hệ Hán‑Tạng. Từvựng cơbản khôn chỉ xuấthiện trong Môn‑Khmer. Vídụ: 娘 niáng (HV nương) tươngứng với nàng ‘nàng’ và ‘nạ’ (đểchỉ ‘mẹ’); 爹 diè (HV giả) tươngứng với tía (HN ‘cha’ và ‘già’). Những tươngứng này đặt ra câuhỏi: liệu tiếngViệt đãlà nhưvậy thì thậtsự tiếngnói đó có thuộc hệ Môn‑Khmer?

Các từ Hán‑Nôm trùngvới Môn‑Khmer không nhiều; sựgiốngnhau cóthể phảnánh ảnhhưởng vănhoá hơn là ditruyền. Đếchế Khmer từng là cườngquốc ĐôngnamÁ; ảnhhưởng thường chảy từ mạnh sang yếu. Về sau, khi ĐạiViệt mởrộng, cả Chăm và Khmer bị sápnhập vào vùng TrungViệt, và yếu tố ngônngữ của họ hoàtrộn vào tiếngViệt. Đây là quyluật nhânloại: chínhthể mạnh địnhhình cảnhquan ngônngữ. Lãnhthổ mới mangtheo dâncư và tiếngnói mới, rồi hoàtrộn thành một thựcthể mới.

Sau khi Đếchế Khmer suyvong, Annam lại mởrộng về phươngNam. Trong thiênniênkỷ độclập vềsau, Annam xoábỏ Vươngquốc Champa và chiếmlĩnh phần lớn vùng phíađông của Vươngquốc Khmer cổ.

Ngàynay, đixuống phươngNam, ta gặp các địadanh như Phanrang, Phanrí, Sóctrăng, đốilập với các địadanh cổ ở phươngBắc. Tạiđó, các từ HV đã ănsâu vào têngọi. Chẳnghạn, tiềntố Kẻ‑ (‘chợ; thị’) xuấthiện trong Kẻchèm (nay là HV Từliêm 慈廉), Kẻchợ ~ 市街 Shìjiē, Kẻbảng ~ 棒街 Bàngjiē, và Kẻon ~ 峴港 Xiàngăng. Tươngtự, Chằm‑ (‘đầm; trạch’) ứng với 澤 zé (HV trạch), như Chằm Dạtrạch ~ 夜澤 Yèzé, Chằmdơi ~ 蝠澤 Fúzé. Những địadanh cổ này phảnánh một tầngphủ địnhcư và tầngnền ngônngữ cổhơn.

Về thànhphần chủngtộc, các đợt didân muộnmàng xuống phươngNam tấtyếu hoàtrộn với cưdân sởtại, sinhra các thếhệ hỗnhợp. Tiếntrình này lặplại đúng môthức từng diễnra ở phươngBắc, nơi sựpháttriển của cả Hoanam và Annam cổ đều gắnliền với quátrình dunghợp liêntục giữa các nhóm người.

Như sẽ thấy trong những bàiviết khác, Hán‑Nôm và Hánngữ cùng chiasẻ phầnlớn từvựng cơbản với hệ Hán‑Tạng. Tuynhiên, khi thunhỏ phạmvi, chỉ dămmươi đồngnguyên trùngvới Môn‑Khmer, tạothành một mụctừ tậpcon trong một khối lớnhơnnhiều cóthể baogồm cả liênhệ với Hánngữ. Nhiều cặp tươngứng Khmer–Việt được đềxuất cóthể thựcsự phátxuất từ cùng một gốctổ cũng sinhra các dạng Hán cổ. Với sốlượng lớn các mụctừ trong cả Hán‑Nôm và Hánngữ chứngminh được đồngnguyên, câuhỏi trọngtâm không còn là “có vaymượn hay không”, mà là: liệuđây là quanhệ ditruyền trong cùng một ngữhệ, hay chỉ là vaymượn bềmặt? Nếu ta khôngxem là các từ đồngnguyên trảlời câuhỏi trên thì những từ cơbản như 頭 tóu (HV đầu), 胡 hú (HN cổ), 目 mù (HN mắt), 翁 wēng (HV ông), 婆 pó (HV bà), 父 fù (HN bố), 母 mǔ (HN mẹ), 兄 xiōng (HN anh), 姊 zǐ (HN chị), 妹 mèi (HN em), 家 jiā (HN nhà), 戶 hù (HN cửa) hiệndiện trong “tiếngAnnamcổ” chỉlà vaymượn từ Hánngữ (sosánh tiếng Albany) , thì tiếngAnnam thờicổ đã khôngthể tồntại với tưcách là một ngônngữ tựthân; nó sẽ phảiđược xemnhư một dạng ngônngữ “hợplưu laicăn” (hybrid), “pidgin” (“ngônngữ thợthuyền”) hoặc “creole” (“tiếngbồi”) hìnhthành để phụcvụ nhucầu giaotiếp của dân Hán dicư sau cuộc chinhphục của nhà Hán.

Khảnăng hợplý hơn là quan‑hệ ditruyền. Từ thuở đầu của nhânloại, không gì gần gũi hơn huyếtthống. Ở tầng sâu nhất của từvựng, ta gặp một số ít mụctừ có nguồngốc hỗnhợp: Môn‑Khmer, Hán‑Tạng, hoặc chínhxác hơn là các đồngnguyên của những tổgốc chưa được nhậndiện trọnvẹn. Xét đến sự tiếpxúc ngônngữ lanrộng theo không‑thời gian, theo sóng hoặc theo gợn, các nguyêntự nêu trên cóvẻ phátxuất từ nội bộ hệ Hán‑Tạng hoặc từ các dạng hậu‑duệ của hệ Thái cổ, như các ngônngữ Việt (Yue) — QuảngĐông, PhúcKiến… — hìnhthành sau khi hệ Thái tách thành Thái‑Kadai và Việt (Yue).

Giảđịnh này gợiý rằng chính các nhóm Môn‑Khmer cổ cũng cóthể đã tách ra từ cưdân Thái bảnđịa ở Hoanam. Về sau, khi các đợt didân hỗnhợp từ phươngBắc — như các nhóm Hán pha Việt — tiến xuống vùng Bắcbộ cổ, họ đẩy người Mường và các nhóm bảnđịa khác lùivề phía tâynam, nơi họ tiếpxúc với các cộngđồng Môn‑Khmer đã dicư đến từ thếkỷ trướcđó (Nguyễn Ngọc San 1993). Qua tiếpxúc nhưvậy, các từ cơbản cóthể đivào tiếngViệt, nhấtlà vì các nhóm Mường luôn giữ quanhệ thươngmại và xãhội mậtthiết với cưdân Kinh vùng đồngbằng. Thựctế, Lê Lợi — vị vua đánhđuổi quân nhàMinh sau haimươi năm đôhộ — rất cókhảnăng mang gốc Mường.

Vềmặt ngônngữ, giảthuyết này khôngthể bị bácbỏ. Nhiều từ cơbản chỉ xuấthiện trong một ngônngữ Môn‑Khmer mà vắng trong các ngônngữ khác, trongkhi lại cómặt trong cả Hán‑Nôm và Hánngữ, và cóthể truynguyên về các thờikỳ sớmhơn. Kịchbản ngược — cho rằng tiếngViệt phátxuất thuần từ Môn‑Khmer — không đứngvững khi xétđến niênđại của các đồngnguyên Khmer–Việt. Phần từvựng Môn‑Khmer còn lại trong tiếngViệt, sau khi loại bỏ toànbộ các đồngnguyên Hán–Việt, cóthể là tàn‑tích của một tầng hỗnhợp giữa bảnđịa và tiền Việt‑Mường. Những tàntích này, còn bảo‑tồn trong tiếng Mường, phảnánh di sản chung của Việt và Mường trước khi phânhoá, giống như sự phânhoá sinhhọc: một nhánh hoàtrộn với Hán, nhánh khác hoàtrộn với Môn‑Khmer. Cũng cóthể các từ Việt‑Mường đã quaytrởlại ảnhhưởng Môn‑Khmer, vì chính các cộngđồng này cóthể đã dicư vào đồngbằng Sông Hồng từ phíatâynam (Nguyễn Ngọc San 1993).

Những tươngđồng giữa Hánngữ và Hán‑Nôm vìthế là songhành, đồngthời và hợplý, không cần phải bàn quá sâu về thanhđiệu hay ngữâm. Nếu tiếptục lần theo những gì Maspero và Haudricourt (1954) đã nêu qua phụcnguyên Hán cổ và thuyết thanh‑sinh dựa trên Hán‑Nôm, ta sẽ thấy thêm nhiều chứngcứ. Như các từnguyên Hán‑Tạng của Shafer sẽ chothấy trong những nghiêncứu khác, còn rấtnhiều từ Hán‑Nôm cóthể liênhệ với Hánngữ, thường xuất‑hiện mộtcách tựnhiên trong tưduy của nhà nghiêncứu, xácnhận độsâu của mốiquanhệ lịchđại giữa hai ngônngữ.

Hình 3 – Sơđồ giảthuyết về sựxenlớp từvựng giữa các ngônngữ tươngứng

Kếtluận

Tươngđồng từnguyên giữa các ngữhệ chỉlà một điểm giaothoa, khôngphải bằngchứng của quanhệ huyếtthống. Từngữ cơbản tiếngViệt chothấyrằng sựgiốngnhau tựthân khôngthể xáclập quanhệ ditruyền; chỉ có quyluật biếnđổi âmvị và bốicảnh lịchsử mới làmrõ được sựthừakế đíchthực. Nguyêntắc thậntrọng này vươnra ngoài Việtnam, nhắc các nhàngônngữ sosánh rằng tầnggốc, tiếpxúc và ngẫuhợp thường dễ bị ngộnhận thành kếthừa.

Sáchthamkhảo

Alves, Mark J. 2006. “Linguistic Research on the Origins of the Vietnamese Language: An Overview.” Journal of Vietnamese Studies 1(1–2).

Alves, Mark J. 2024. “An Updated Overview of the Austroasiatic Components of Vietnamese.” Languages 9(12): 377.

Alves, Mark J. “Sino‑Vietnamese Grammatical Vocabulary and Sociolinguistic Conditions for Borrowing.” SEALS 17 Proceedings.

Campbell, Lyle. 2013. Historical Linguistics: An Introduction. Edinburgh University Press.

Ha, Le Thanh. 2022. “Code Mixing and Loan Words in the Vietnamese Vocabulary.” Eurasian Journal of Applied Linguistics 8(1).

Haspelmath, Martin. 2005. “Comparative Linguistics and the Problem of Spurious Similarities.” Linguistic Typology 9(1).

Lacouperie, Terrien de. 1887. The Languages of China Before the Chinese: Researches on the Languages Spoken by the Pre‑Chinese Races of China Proper Previously to the Chinese Occupation. London: D. Nutt. Taiwan reprint, 1966.

Sa, Quoc Hoang. 2025. “Study on the Understanding and Use of Sino‑Vietnamese Words: Perspectives from Secondary School Students in Ho Chi Minh City.” Spring Journal of Arts, Humanities and Social Sciences 4(5).

Sidwell, Paul. 2015. “Austroasiatic Dataset for Phylogenetic Analysis: 2015 Version.” Mon‑Khmer Studies 44. Mahidol University / SIL International.

Swadesh, Morris. 1952. “Lexico‑Statistical Dating of Prehistoric Ethnic Contacts.” Proceedings of the American Philosophical Society 96(4).

Thomas, David D. 1960. “Basic Vocabulary in Some Mon‑Khmer Languages.” Mon‑Khmer Studies.

“Sino‑Vietnamese Vocabulary.” Wikipedia. Overview of Sino‑Vietnamese morphemes and their role in Middle Chinese reconstruction.

CƯỚCCHÚ


(1)^ “Nềnvănhoá Phùngnguyên của Việtnam (khoảng 2.000–1.500 TCN) là tên gọi một vănhóa thuộc Thờikỳ Đồđồng ở Việtnam dưới thời Hồng Bàng, lấytên từ điểm ditích khảocổ Phùngnguyên, cách Việttrì 18 km về phíađông, pháthiện năm 1958. Trong giaiđoạn này, kỹthuật trồnglúa được dunhập vào vùng Sông Hồng từ miềnNam Trungquốc. Hiệnvật tiêubiểu nhất là các rìubôn hìnhchân bằng đámài.”
Nguồn (tínhđến 3/2018):  https://en.wikipedia.org/wiki/Phùng_Nguyên_culture

(2)^ Danhsách 23 từ cơbản đãđược xácđịnh mà ta cóthể điền đầyđủ các đồngnguyên tiếng Việt và Hán mà không gặp khókhăn. Hãy đểdành phần này cho bài luyệntập cuối, và chờxem phái NamÁ Mon‑Khmer sẽ đưara điều gì.

  1. Thou (mầy): _____________
  2. Not (không): ____________
  3. To give (cho): ____________
  4. Man/male (trai): __________
  5. Mother (mẹ: _____________
  6. Bark (vỏ): _______________
  7. Black (đen): _____________
  8. I (tao): _________________
  9. That (đó): ______________
  10. We (ta): ________________
  11. Who (ai): _______________
  12. This (đây): ______________
  13. What (): ______________
  14. Ye (ngươi): _____________
  15. Old (cổ): _______________
  16. To hear (nghe): __________
  17. Hand (tay): _____________
  18. Fire (lửa): _______________
  19. To pull (kéo): ____________
  20. To flow (chảy): ___________
  21. Ashes (tro): ______________
  22. To spit (nhổ): ____________
  23. Worm (sâu): _____________

See “Ancient Languages Have Words in Common” by Zachary Stieber, Epoch Times (May 6, 2013).

Nguồn (Jan. 2017): http://www.theepochtimes.com/n3/42284-ancient-languages-have-common-words-in-common/

(3)^ Như đã bàn, các phươngngữ Quảngđông và Phúckiến của ngữnguyên BáchViệt được phânloại chínhthức thuộc ngữhệ Hán‑Tạng.

Trongkhi các ngônngữ Tai‑Kadai (Daic, Kadai, Kradai, Kra‑Dai — tức Tày, Nùng) là một ngữhệ rất lớn, phânbố ở miền Hoanam và ĐôngnamÁ. Chúng baogồm tiếng Thái và Lào — ngônngữ quốcgia của hai nước Tháilan và Lào. Có gần 100 triệu người nói các ngônngữ này. Ethnologue liệtkê 95 ngônngữ, trong đó 62 thuộc nhánh Tháicổ (Taic).

Sựđadạng của Tai‑Kadai ở Đôngnam Trungquốc, đặcbiệt Quýchâu và Hảinam, gợiý vùng này gầnvới quêhương gốc. Nhánh Taic chỉ dichuyển xuống ĐôngnamÁ khoảng mộtnghìn năm trước, lậpnên các quốcgia vềsau trở thành Tháilan và Lào trên vùngđất vốn thuộc NamÁ.

Các ngônngữ Tai‑Kadai từng được xem thuộc họ Hán‑Tạng, nhưng ngoài Trungquốc nay được phânloại thành một họ độclập. Chúng chứa nhiều từ tươngtự Hán‑Tạng, nhưng hiếmkhi xuấthiện ở tấtcả các nhánh, và không baogồm từvựng cơbản — chothấy đó là các từvaymượn thờicổ.

Một số họcgiả phươngTây đưara chứngcứ gợiý Tai‑Kadai có liênhệ hoặclà một nhánh của họ Namđảo. Có nhiều đồngnguyên khảdĩ trong từvựng cốtlõi. Giữa các ngườiủnghộ, chưacó đồngthuận liệu chúng là chịem với Namđảo trong họ Austro‑Tai, hay là dòng dicư ngược từ Đàiloan về lụcđịa, hoặc là dòng dicư muộn hơn từ Philippines đến Hảinam trong quátrình mởrộng Namđảo.

Giảthuyết Austric đềxuất liênhệ giữa Namđảo và NamÁ. Theo Benedict, người thêm Tai‑Kadai và Hmong‑Mien vào Austric, Kosaka (2002) đềxuất họ Miao‑Dai.

Tại Trungquốc, chúng đượcgọilà ngữchi Trang‑Đồng và thường đượcxem có liênhệ với Hán‑Tạng cùngvới Miao‑Yao. Vẫncòn tranhluận liệu các ngônngữ Kra như Cờlao, Cápdẻo, Lạch… cóthể đưavào hệ Tráng‑Đồng (Tày-Nùng) haykhông, vì chúng thiếu các tươngđồng Hán‑Tạng vốn dùngđể xếp các ngônngữ khác vào nhóm này.

Tai‑Kadai baogồm 5 nhánh:

  • OngBe (Hảinam; Lâmcao 臨高)
  • Kra (Ethnologue gọi Kadai; Gēyāng 仡央)
  • Kam‑Sui (Đồng‑Thuỷ 侗水)
  • Hlai (Hảinam; Li 黎)
  • Tai (Nam Trungquốc và ĐôngnamÁ)

Nguồn (1/2017):  https://en.wikipedia.org/wiki/Tai%E2%80%93Kadai_languages

(4)^ Về nhóm ngônngữ NamÁ hiệnđại, ngoạitrừ kháiniệm dùng để chỉ một phânnhánh nhỏ hơn baogồm Mon‑Khmer, còn tiếngViệt và các ngônngữ Vietic chịem như Mường, Thà, Vung, Rục… đềucó nguồngốc từ các ngônngữ tổtiên xuấtphát từ một dạngcổ của ngônngữ Taic — “từng được nói rộng rãi hơn nhiều ở Trungquốc” (Norman). Các biếnthể của chúng đượcxemlà phânnhánh bàconxa của Taic, sinhra các ngônngữ BáchViệt, rồitừđó sinhra các ngônngữ hiệnnay được xếpvào họ Hán‑Tạng như Quảngđông và Phúckiến. Đólà cách ngônngữ BáchViệt được đặtvào bứctranh lớnhơn. Lưuý rằng “Việt” và “Mường” khôngđược xếpvào Mon‑Khmer (Norman), chothấy Norman cũng nhậnra vấnđề trong phânloại này.

(5)^ Khôngcó “ngữcảm” như người bảnngữ tiếngHán hiệnđại, cả chuẩn lẫn khẩungữ, thì khôngthể nhậnra gốc của nhiều từ tiếngViệt như:

  • đầunậu 頭腦 tóunăo (HV đầunão)
  • dàydạn 經驗 jīngyàn (HV kinhnghiệm)
  • láibuôn 大販 dăipán (QĐ /tai2pan3/, HN ‘buôn to’)
  • lẻtẻ 零星 língxīng (HV linhtinh)
  • ănnhậu 應酬 yìngchóu
  • cụngly 碰盃 bèngbèi
  • đừnghòng 甭想 péngxiăng
  • luônluôn 牢牢 láoláo
  • lạcloài 落落 luòuò
  • đượclắm 得來 délái
  • đượclòng 心得 xīndé
  • giờgiấc 時間 shíjiān
  • thuở 時候 shíhòu (HV thờihậu)

và các từ cơbản:

  • chỉ 線 xiàn
  • chỉ 錢 qián
  • đường 唐 táng
  • lá 葉 yè
  • lúa 來 lái
  • cá 魚 yú
  • sông 江 jiāng
  • mây 霧 wù
  • mưa 雨 yǔ
  • nắng 陽 yáng
  • cóng 寒 hán
  • biển 海 hăi
  • bữa 飯 fàn
  • ăn 唵 ǎn
  • uống 飲 yǐn
  • đi 去 qù
  • đứng 站 zhàn
  • ỉa 屙 é
  • đái 尿 niào
  • ngủ 臥 wò
  • đụ 嫖 piáo
  • đẻ 生 shēng
  • việc 活 huó

và nhiều từ khác.

Cũng vì thiếu kinhnghiệm về “ngữcảm” trong tiếngViệt hiệnđại, họ không thể biết các từ songâm như:

  • đốivới 至於 zhìyú (→ HN đếnnổi)
  • vòmtrời 重圓 chóngyuán (HV trùngviên)
  • gỏi 膾 kuài (HV khoái)
  • quà 饋 kuì (HV quỹ)
  • cảirỗ 菜蘭 càilán (→ HN cảilan)
  • dưahấu 塊瓜 kuàiguā (HV khốiqua)
  • ănmày 要飯 yàofàn
  • thầymô 巫師 wùshì

    tấtcả đều là đồngnguyên.

(6)^ Tuyvậy, tấtcả những hiệntượng này xảyra muộn hơnnhiều, với ảnhhưởng vănhóa đanxen sovới những gì từng đến từ vươngquốc bảnđịa Namchiếu 南詔, nơi một nửa vùng BắcViệt ngàynay về phíatây từng thuộc về nước nầy, hưngthịnh từ 649 đến 902 dưới thời Đường.

Leave a Reply

Discover more from ziendan.com

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading