Hướngtới Việc Táiđịnhvị Khung Hán-Tạng cho Lịchsử TiếngViệt

by dchph in collaboration with Copilot
A stylized digital tree with branches transforming into glowing graphs and symbols.
Một cây thời kỹthuậtsố hoạdiễn sựtăngtrưởng dữliệu bằng các kýhiệu đồthị.
(creAited by dchph with Jetpack)

Dù lộtrình của tiếngViệt trong khung Tạng‑Miến đã khádài, côngtrình vẫn chưahoànthành: việc đốichiếu toànbộ các phânchi vẫncòn đang tiếptục, dữliệu Tạng‑Miến của Shafer cầnđược tinhchỉnh, và hướng nghiêncứu mởra các triểnvọng mới về chínhtả, từđiển và tổnghợp vănhoá‑lịchsử.

I) Bảnđồ chưahoànchỉnh

  • Việc đốichiếu toàndiện tiếngViệt với cả sáu phânchi Tạng‑Miến (Hán, Thái, Tạng, Miến, Baric, Karen) vẫn đang trong quátrình thựchiện.
  • Khungpháp của Shafer cungcấp nềntảng, nhưng cầnđược tinhchỉnh bằng các táixâydựng ngữâm và từnguyên hiệnđại.
  • Nhấnmạnh tính đaâm và các tươngứng thanhđiệu như những chỉdấu chẩnđoán.

Vềmặt từnguyên, cóthể giảđịnh hợplý rằng sựkhácbiệt trong biếnđổi ngữâm giữa các từ cơbản — tươngtự như sốđếm — cóthể phátsinh từ các chuyểndịch âmvị truyngược về từnguyên Hán-Tạng hoặc thậmchí một dạng Hán cổ muộn. Chẳnghạn, 臥 wò (HV ngoạ) pháttriển thành HN ngủnằm. Mỗi từdạng này lầnlượt tươngứng với Tạng cổ snyid và Tạngvăn Groma nyiʾ‑, chứkhôngphải với các dạng Hán muộnhơn như 睡 shuì (ngủ) và 躺 tăng (nằm). Các dạng sau, mang các bộthủ như 目 (mắt) và 身 (thân), phảnánh sựchuyênbiệthoá ngữnghĩa muộn. Về âmvị, các chuyểndịch đángchúý là: /sh‑/ luânlưu biếnđổi với /th‑/, /sh‑/ với HN /ng‑/, và /th‑/ với /n‑/. Tấtcả cóthể được giảđịnh như các biếnâm phânnhánh từ một ngữcăn chung.

Năm 1912, Maspero (BEFEO XII) đềxuất táiphânloại tiếngViệt, xếp nó cùng họ Tháicổ (T’ai, Tai, Dai, Tày) và các ngữchi Thái khác trong ngữhệ Hán‑Tạng. Lậpluận của ông dựa mộtphần vào hệthống thanhđiệu tiếngViệt, mà ông xem là songhành với các mẫuhình Hán.

Năm 1953, tuynhiên, Haudricourt phảnbiện trong La Place du Vietnamien dans les Langues Austro‑Asiatiques (BSLP 49). Ông cho rằng các từnguyên Thái‑Việt được tìmthấy trong tiếng Thái và Lào thựcchất là từvaymượn Môn‑Khmer. Trong côngtrình năm 1954 về nguồngốc tiếngViệt, ông chứngminh rằng thanhđiệu tiếngViệt hìnhthành qua biếnđổi phụâm cuối từ thếkỷ VI đến XII. Từ đó, ông kếtluận rằng tiếngViệt không thuộc phânchi Thái của Hán‑Tạng mà thuộc nhánh Môn‑Khmer của NamÁ.

Tuyvậy, quanđiểm của Maspero được Forrest (1958) ủnghộ, khi ông viết:

“Trướckhi người Hán chinhphục, Annam và Quảngđông từ lâu sống chung dưới một nhànước NamViệt; và mọi dấuhiệu đều chothấyrằng thểchế ấy thuộc Thái chứ khôngphải Môn‑Khmer. […] Khi được các giáo sĩ châuÂu ghinhận vào thếkỷ XVII, tiếng Annam vẫncòn các cụm phụâm đầu, nơi mà nay chỉcòn phụâm đơn. Lịchsử ngữâm ở điểm này songhành với Thái và Hán, và điềunày, trong phạmvi của nó, ủnghộ một nềntảng Thái hơn là Môn‑Khmer.” (tr.102)

Đến cuối thếkỷ XX, mộtvài nhàngônngữ như Peng Chu-nan (1984) vẫn xem tiếngViệt thuộc Hán‑Tạng. Trong bốicảnh Hán‑Việt, Pulleyblank (1984) nhậnxét rằng “tiếngViệt gần với tiếngHán về loạihình hơn cả Nhật hay Hàn, và ở nhiều phươngdiện còn gầnhơncả Tạng, dù Hán và Tạng có quanhệ ditruyền, còn Hán và Việt thì không (trừphi quanhệ ấy xa đến mức khó xácđịnh).” (tr.91). Cùng tinhthần bấtđịnh ấy, Roland J‑L Breton và Harold F. Schiffman trong Geolinguistics (1991) cũng không xếp tiếngViệt vào NamÁ.

Dùvậy, đồngthuận suốthơn một thếkỷ vẫnlà: tiếngViệt thuộc nhánh Môn‑Khmer của NamÁ. Quanđiểm này vẫn chiếmưuthế trong ngônngữhọc lịchsử ngàynay. Nhưng lýthuyết cóthể thayđổi khi bằngchứng mới xuấthiện. Với sựhiệndiện ápđảo của các yếutố Hán thấmsâu mọi tầnglớp tiếngViệt, tácgiả đềxuất một địnhdanh mới: phânnhóm Hán‑BáchViệt (Sinitic‑Yue). Ởđây, “Hán” đượchiểu tươngđương với phânchi Hán của Hán‑Tạng, baogồm toànbộ các phươngngữ Hán như Quảngđông và MânNam (Hokkien). Các phươngngữ này tíchluỹ hơn hai thiênniênkỷ lớp Hán thời Hán‑Đường chồng lên nền BáchViệt, và vìthế cóthể được đặt trong cùng khung Hán‑BáchViệt.

Đốichiếu các vùng Tạng‑Miến với lịchsử mởrộng lãnhthổ Việt chothấy các vùng ngônngữ BáchViệt từng trảidài khắp miềnnam Trungquốc — Phúckiến, Quảngđông, Hồnam, Quảngtây, Quýchâu, Vânnam — và thậmchí giaothoa với Giangtây, Hànam, Hàbắc, nơi nước Sở từng hưngthịnh trước Côngnguyên.

Dưới lăngkính này, sựkhácbiệt giữa tiếngViệt và các ngônngữ Hán khác giốngnhư sựkhácbiệt giữa Quảngđông và MânNam so với năm phươngngữ lớn miền Hoabắc. Điềunày không cónghĩa tiếngViệt từng là một phươngngữ Hán trướckhi tách khỏi Trungquốc vềmặt chínhtrị hơn 1.100 năm trước. Đúnghơn, trongkhi Quảngđông và Phúckiến tiếnhóa liêntục trong thời Bắcthuộc hơn 2.200 năm, tiếngViệt tiếnhóa theo một lộtrình khác để trởthành một “phươngngữ” khác. Bấtkỳ nhàngônngữhọc nào quenthuộc với Quảngđông hay MânNam đều nhậnra các tànlưu BáchViệt trong từvựng và cúpháp, khác với các phươngngữ miền Hoabắc lantừ Thiểmtây, Sơntây sang Sơnđông và xuống Giangtây, Tứxuyên, Quýchâu, Vânnam.

II) TiếngViệt như chứngtích trungtâm

A. Chứngtích trungtâm của lịchsử Hán‑Tạng: TiếngViệt chothấy nó khôngphải là một ngônngữ bênlề.

  • Sốđếm, từvựng cơbản và từnguyên vănhóa đều chothấy những tươngứng cóhệthống.
  • Tươngphản với các tươngđồng Môn‑Khmer: rờirạc, ngẫuphụ, và thường bị phânloại sai.

Mộttrongnhững lýdo mạnhmẽnhất để bácbỏ việc xếp tiếngViệt vào NamÁ Môn‑Khmer là: rấtnhiều từ cơbản về thiênnhiên, thânthuộc và sinhhoạt hằngngày là từnguyên đồnggốc với Hán. Việtcổ cóthể từng chiasẻ mộtvài dạng với Môn‑Khmer, nhưng suốt một thiênniênkỷ là quậnhuyện của Đếquốc Hán và một thiênniênkỷ sau độclập, các phươngngữ Mường cólẽ đãlà kênhdẫn các từvaymượn Hán‑Nôm vào Môn‑Khmer. Điềunày giảithích vìsao một lớp mỏng từ cơbản — như sốđếm 1 đến 5 — vẫn gây khókhăn trong việc xácđịnh quanhệ ditruyền.

Hơnnữa, nhiều yếutố Hán trong tiếngViệt đan xen với tànlưu BáchViệt. Hầunhư toànbộ hưtừ tiếngViệt đềucó gốc Hán (虛辭 xūcí): giớitừ, liêntừ, v.v., mỗi từ lại pháisinhra nhiều tửdạng Hán‑Việt hoặc Hán‑Nôm: 和 hé → HN , 與 yǔ → HN với, 雖 suī → HV tuy → HN ~ dẫu, 然 rán → HN vậy. Đồngthời, nhiều từ cơbản cũng đồnggốc Hán: mắt 目 mù, thấy 視 shì. Trongkhiđó, tiếng Quảngđông và MânNam vẫn giữ tànlưu bảnđịa như /pin5dow2/ (nơiđâu), /fan1gao1/ (ngủ), /kẽ/ (trẻ), /bat7/ (biết), /soã/ (xoài). TiếngViệt cũng chấtchứa hai giaitầng: Hán và bảnđịa. Dù hưtừ Hán là thiếtyếu cho cúpháp hiệnđại, tiếngViệt vẫn khác Hán ở trậttự [danh‑từ + tính‑từ], vốncòn thấy trong tiếng MânNam phươngnam như Hảinam, Phúckiến, Hạmôn, và Quảngđông (vídụ: 雞公 /kei5kong1/ “gàtrống”, 大老 /dai2lou4/ “anhcả”), tráingược với Quanthoại 公雞 hay 老大. Bằngchứng cấutrúc này củngcố thêm đềxuất phânnhóm Hán‑BáchViệt.

Ngaycả những từ lâunay được liệtvào NamÁ hay Môn‑Khmer cũng thường không phùhợp. Vídụ, đốilập với trâu 牛 níu (ngưu) và rõràng phảnánh từnguyên Hán‑Tạng. Mộtvài trườnghợp khác thì mơhồ: (búmớm) tươngứng với 哺 bǔ, nhưng sữa không liênhệ rõ với 乳 rǔ hay Môn‑Khmer /tukdaohko/, mà cóthể đồngnguyên tiếng NamĐảo susu.

Những vídụ trên và dưới đây gợiý các chuyểndịch ngữnghĩa, tráođổi ngữâm đồngnguyên, và từnguyên thấtlạc. Chúng quenthuộc với mọingười, nhưng các từnguyên Hán‑Việt ítđược nhắcđến — những từ không xuấthiện trong các bảng từ — mới đángđược khảosát kỹhơn, vì chúng cóthể giữ chìakhóa cho các quanhệ lịchsử sâuxa.

  • đực (đực): 特 tè (HV đặc)
  • mái (cái): 母 mǔ (HV mẫu)
  • quà (lễvật): 饋 kuì (HV quý)
  • gỏi (thịt băm trộn rau): 膾 kuài (HV khoái)
  • lạc (đậuphụng): 落 luò (HV lạc) [~ HN rơi, rớt, rụng <~ M 落 luò < MC lak < OC gra:g]
  • bánhdày: 糍粑 cíbā
  • bánhbao: 包餅 bāobǐng → 包子 bāozi
  • bánhchưng: 蒸餅 zhēngbǐng → 粽子 zòngzi
  • dưahấu: 塊瓜 kuàiguā (khốiqua) → HN dưahấu

vânvân. (1)

Vì tấtcả những lýdo trên, cùng với sựgầngũi khôngthể phủnhận giữa tiếngViệt và các ngônngữ Hán trên mọiphươngdiện, tiếngViệt nên được xếpvào phânnhánh Hán‑BáchViệt (Sinitic‑Yue) của họ Hán‑Tạng. Họ này, theo phânloại hiệnnay, baogồm gần 400 ngônngữ và phươngngữ.

Đốivới Tạng và Hán, truyềnthống chorằng trong tiền‑lịchsử, người Tạng và người Hán‑cổ vốn thuộc một tộcngười, nói một thứ tiếng Tạng‑cổ chung trước khi phânnhánh. Sự hìnhthành Hán Thái-Thượngcổ — tổtiên của Hán Thượngcổ thời Tiền‑Tần và Hán — là kếtquả của sựhoàtrộn giữa Tạng và Tháicổ‑BáchViệt của cưdân bảnđịa vùng Hànam. Vìthế, Háncổ phátsinh dưới ảnhhưởng của các ngônngữ bảnđịa này, kểcả BáchViệt. Norman (1988:17) phỏngđoán rằng “việc chỉ mộtsốít từ Hán được chứngminh là Hán‑Tạng cóthể chothấy mộtphần lớn từvựng Hán có nguồngốc ngoạilai […] từ những ngônngữ đã tuyệttích.”

Những “ngoạilai” mà Norman nói đến cóthể chính là các ngônngữ Thái‑cổ, cùng gốc với Daic‑Kaida (Tày-Nùng) và các ngônngữ BáchViệt, baogồm Việtcổ, Quảngđông, MânNam, và cóthể cả mộtvài ngônngữ Môn‑Khmer như Môn hoặc Maonam. Người nói các ngônngữ này sống dưới sựcaitrị của triềuđình Hán, và các phươngngữ Hán về sau, sau nhiều thếkỷ Hánhoá, chúng trởthành phânchi Hán theo các nhà Hánhọc tại Hoalục ngàynay, naylà bảy nhóm phươngngữ lớn của nước này.

Tầng BáchViệt cổ trong tiếngViệt cũng chiasẻ nhiều từ cơbản với Hán, đãcólâu truớckhi Hán đôhộ Annam từ 111 TCN đến 939 SCN. Đếnlúcđó, tuy Bạchthoại NamHán và Annam cổ đã phânnhánh, chúng vẫngiữ mộtphần vốn từvựng cơbản chung và lớp Hán quanthoại phủtrên. Lớp này còn thấy trong tập Phậtthuyết Đạibáo Phụmẫu Ântrọng Kinh (佛說 大報 父母 恩重 經), một bản Nôm thếkỷ XV dạy hiếuthảo, viết cho quảngđại quầnchúng: “Cho người thiểnhọc nghĩxem nghĩnhuần.” Thờikỳ ấy, Phậtgiáo là quốcgiáo.

Hầuhết các từ cơbản trong Phậtthuyết đồnggốc Hán vẫncòn dùng đến nay, nhưng không có trong Môn‑Khmer. Điều ngườiđọc thườnggặp là các từ Môn‑Khmer được trích dẫn như “cơbản”, nhưng nhiều từ trong số đó cũng cóthể đồnggốc Hán‑Tạng hoặc Hán.

Dướiđây là mộtsố từ cơbản Nôm cổ — kểcả hưtừ — hiếm thấy trong Môn‑Khmer, và chuyêngia vẫnchưa tìmđược từnguyên tươngứng. Ngườiđọc cóthể xemnhư một bảng khảosát bỏngỏ.

Từvựng tươngứng cũng xuấthiện trong các tácphẩm Hán-Nôm khác: Hồngđức Quốcâm Thitập của Lê Thánh Tôn, Quốcâm Thitập của Nguyễn Trãi, Đoạntrường Tânthanh của Nguyễn Du, và thơlụcbát của Nguyễn Bỉnh Khiêm như Lâmtuyền Kỳngộ. (Xem Nguyễn Ngọc San 1993: 95–104, 138–142.)

Bảng 1 – Một số từ cơbản tiếngNôm cổ và các tươngứng Hán

EnglishViệtcổMon-
Khmer
Hán-ViệtHán-NômQuanthoạiThídụ
alreadyđà(?)đà, đã已 yǐ“Khách đà lênngựa người còn ngoáitheo.” (Kiều)
askhan(?)vấnhỏi問 wèn“Vội han ditrú nơinao.” (Kiều)
attend tochực(?)chờ伺 sì“Mộtmình chực mộ nhàđường.” (Phậtthuyết)
brothersanhtam(?)huynhđệanhem兄弟 xiōngdì“Tin ngườixa làm anhtam” (Phậtthuyết)
classifier (time period of the day)ban(?)phạnbữa, buổi飯 fàn“Cáo kêo eoéo ban trờitối.” (Hồngđức)
don’tmựa(?)mạcchớ莫 mò“Nghĩa, nhân, lễ, trị mựa cho khuây.” (Quốcâm Thitập)
dumbnghê(?)ngungô愚 yú“Nghêdại chẳng hay cóc.” (Phậtthuyết)
easynghĩ(?)dễ易 yì“Cho người thiểnhọc nghĩ xem nghĩ nhuần.” (Phậtthuyết)
endurekhắng(?)khẳnkhẳng肯 kěn“Mảy chút trầnai chi khắng luỵ.” (Lâmtuyền Kỳngộ)
evenliễn(?)liênlẫn連 lián“Đạo làm con liễn đạo làm tôi.” (Quốcâm Thitập)
eveninghôm(?)vãnhôm晚 wăn“Hômdao lòng chẳng với.” (Phậtthuyết)
hearmắng(?)vănnghe聞 wén“Mắngtin xiết nỗi ngạingùng.” (Kiều)
how(?)何 hé“Lộc nặng há quên hơn chúa nặng.” (Nguyễn Bỉnh Khiêm)
ifnhược(?)nhượcnếu若 nuò“Nhược có người nào ngheđược.” (Phậtthuyết)
largecả(?)đạito大 dà“cảthẹn”, “bểcả”
lovedấu(?)áiyêu愛 ài“Ángná lòng thực dấu.” (Phậtthuyết)
mix, andhoà(?)hoà和 hé“Ắtlà khôn hết cả hoà hai.” (Nguyễn Bỉnh Khiêm)
morningdao(?)hiểusớm曉 xiáo“Hômdao đủ bữa bátcơm.” (Quốcâm Thitập)
mother(?)nươngnạ娘 niáng“Chẳng biếtơn áng ná.” (Phậtthuyết)
nonọ(?)nào哪 ná“Dânghương nọ kẻ nện chàykình.” (Hồngđức)
onlychỉn(?)tậnchỉ儘 jǐn“Chỉn thực quannhân dạ sắtvàng.” (Lâm Tuyền Kỳngộ)
privatetây(?)私 sī“Mựa nghe sàmnịnh có lòng tây.” (Quốcâm Thitập)
purchasechác(?)thụtậu售 shòu“Chác được của rẻ.” (Phậtthuyết)
quietắng(?)yênim安 ān“Từ chưng ấy ắng mất.” (Phậtthuyết)
respect(?)nể畏 wèi“Nhà ngặt bằng ta ai kẻ vỉ.” (Quốcâm Thitập)
s/henghĩ(?)y伊 yī“Gia tư nghĩ cũng thườngthường bậctrung.” (Kiều)
solelybui(?)duyduy維 wéi“Bui có một niền chăng nỡ trễ.” (Quốcâm Thitập)
stupiddại(?)ngaingốc呆 dài“Làm những kế dại.” (Phậtthuyết)
thatcủa(?)sởsự所 suǒ“Vợcon cầmbắt mỗi của nươngđòi.” (Phậtthuyết)
thenchưng(?)đangđang當 dāng“Già này chưng thuở mặttrời tà.” (Lâmtuyền Kỳngộ)
therenào(?)nađó那 nà“Nào hồn ômã lạcloài đâu.” (Hồngđức)
though(?)la啦 là“Đêm chia nửa, khéo hay là.” (Hồngđức)
to bethì(?)thịthị是 shì“Vô sự thì hơn kẻo phải lo.” (Nguyên Bỉnh Khiêm)
whatsở(?)啥 shé“Trong thếgian chẳng sở nào tày.” (Phậtthuyết)
whenthuở(?)thờithuở時 shí“Gối mác nằm sương thuở Tấn Tần.” (Nguyễn Bỉnh Khiêm)
wishmòng(?)vọngmong望 wàng“Cảnhcũ non quê nhặt chốcmòng.” (Quốcâm Thitập)
worryâu(?)ưuâu憂 yōu“Chẳng âu ngặt chẳng âu già.” (Quốcâm Thitập)
would likesính(?)tưởngtrông想 xiăng“Sính làm con yênlành.” (Phậtthuyết)
wrongthác(?)thácsai錯 cuò“Sámhối tội thác.” (Phậtthuyết)

B. Lýthuyết hìnhthành Hán và quanhệ với tiếngViệt

Tínhđến các điềukiện lịchsử của Trungquốc, sựxuấthiện của cộngđồng vềsau được gọi là “Hán” cóthể được hiểunhư kếtquả của sựhoàtrộn giữa tiền‑Tạng và tiền‑Thái, vốnlà cưdân bảnđịa của miềnnam Trungquốc (xem Lacouperie 1966 [1887]). Hậuduệ của họ lanrộng khắp lụcđịa và vềsau trởthành những ngườinói các phươngngữ Hán khácnhau. Sựsuydiễn này dựatrên sựthật rằng tiếngHán chứa một lượng lớn các từvay từ cưdân BáchViệt phươngnam, là một trongnhững ngônngữ từng được dùng trong bảy nước lớn thời Tiền‑Tần-Hán. Nhiều dạngtừ trongsốđó vềsau được thu thập trong Tựđiển Khanghi và được gọilà 方言 (phươngngữ).

Trênthựctế, tiếngHán khôngphải là một ngônngữ đơnnhất mà là một chùm các phươngngữ và tiểu‑phươngngữ. Sựkhácbiệt của chúng chủyếu nằm ở (1) mỗi phươngngữ có một bộ từcơbản riêngbiệt, và (2) cách phátâm khácnhau với cùng một chữ Hán vốn dựatrên nền tảng Quanthoại (nay gọi là putonghua 普通話, hay tiếngphổthông), và cáchdùng cũng khácnhau. Từvựng và cúpháp của Ngô, Khách‑Cám, MânNam và Quảngđông cũng khácbiệt nhiều. Vídụ:

  • Bắckinh: “你 先說 吧!” (“Bạn nóitrước đi!”) sovới Quảngchâu: “你 講先 喇!” (“Bạn nóitrước đi!”)
  • Bắckinh: “我 給 你 這個.” (“Tôi đưa bạn cái này.”) sv. Quảngđông: “我 卑 呢個 你.” (“Tôi đưa cái này bạn.”)
  • Bắckinh: “我 說 你 聽得懂,你 說 我 聽 不懂.” (“Tôi nói, bạn nghe thì hiểu được, bạn nói tôi nghe khôngđược.”) sv. Hokkien: “咱 講 汝 聽 有, 汝 講 咱 聽 無.” (“Tôi nói bạn nghe được; bạn nói tôi không nghe.”)
  • Bắckinh: “給 我 點 水.” (“Đưa tôi tí nước.”) sv. Thượnghải: “撥 點 水 我.” (“Đưa tí nước tôi.”)
  • Bắckinh: “你 有沒有 錢?” (“Bạn có hay khôngcó tiền?”) sv. Thiệu Hưng (Ngô): “你 啊 有 銅鈿?” (“Bạn a có đồngtiền?”)

Ngoạitrừ bốn phươngngữ lớn — Quảngđông, MânNam, Khách‑Cám và Ngô — các tiểu‑phươngngữ miềnbắc như Thiểmtây, Sơntây, Sơnđông, Tứxuyên phầnlớn chỉlà biếnthể của nhau (Wang Li tríchdẫn Zhou Zu-mo, 1956, Hanzu de Gongtongyu he Piaozhunyin, tr.63). Không khó để thấyrằng các phươngngữ miềnnam vốn là ngônngữ BáchViệt, nay được gomvào phânchi Hán.

Cùng một logic ấy, sựđồngnguyên từvựng giữa Hán và Việt chothấy sựhìnhthành tiếngViệt lặplại quátrình tiếnhóa của các phươngngữ Hán phươngnam. Giốngnhư Quảngđông, MânNam, Khách‑Cám và Ngô, tiếngViệt hấpthu một lượnglớn từvựng Quanthoại phươngbắc chồnglên nền BáchViệt cổ.

Sau khi nhàHán chinhphục nước NamViệt năm 111 TCN, ngônngữ Việtcổ xuấthiện như một hỗnhợp giữa tiếng của dân Hán và cưdân BáchViệt, cóthể baogồm cả những ngườinói Môn‑Khmer sơkỳ từ tâynam (Hạ Lào). Điềunày giảithích vìsao có những từ Môn‑Khmer có niênđại đến hai thiênniênkỷ TCN. Các nhóm này vốn là hậuduệ của cưdân BáchViệt ở miềnBắc Việtnam cổđại trước khi quân Hán tiếntới Giaochỉ. Binhlính Hán cũng là hậuduệ của cưdân miềnnam Trungquốc, baogồm thầndân nước Sở và NamViệt. Tại Giaochâu, những người ởlại kinhkỳ và hợptác với quân nhàHán đã hìnhthành nhóm “Kinh” sơkỳ. Quanlại, binhlính và dân dicư Hán kếthôn với phụnữ bảnđịa và địnhcư vĩnhviễn; hậuduệ của họ vềsau caiquản nước của ‘những ngườiViệt phươngNam’ — một dạngviết khác của 南越 NánYuè.

Tiếnhóa lịchsử của Việtnam vìthế giảithích sựtươngđồng sâusắc giữa Hán và Việt, cùng bắtnguồn từ tầng BáchViệt cổ mà Lacouperie (1887) gọi là “Trungquốc trướckhi có người Hán”. Khảocổ của Zhang Zengqi (1990) trong Zhongguo Xinan Minzu Kaogu (中國 西南 民族 考古) củngcố lýthuyết tiếngHán là ngônngữ hỗnhợp, baogồm yếutố Tháicổ‑BáchViệt. Cụthể, tiếng Annam cổ hìnhthành từ sựhoàtrộn của nhiều dòng:

  • Việtcổ + tầng Tháicổ — Việtcổ hoàtrộn với các yếu tố Tháicổ của cưdân phíanam Trườnggiang, vềsau được gọilà BáchViệt. Từvựng cơbản của chúng còn trong các ngônngữ Daic‑Kadai (Tày-Nùng).
  • Hán Thượngcổ Tiền‑Tần — Các dạng Háncổ của ngườiTần trước 250 TCN đónggóp một giaitầng khác.
  • Hán Thượngcổ thời Hán — Ngônngữ của ngườiHán từ thời LưuBang, vốn là hậuduệ dân Sở có gốc Tháicổ (Taic). BìnhNguyênLộc (1972) thậmchí gọihọ là “người Malay”.
  • Tầng didân phươngnam — Ảnhhưởng tíchluỹ của các làn sóng dicư từ miềnnam Trungquốc xuống Bắcnam Việt suốt 3.000 năm.

Đốivới các yếutố NamÁ Môn‑Khmer trong tiếngViệt: lịchsử Việt là lịchsử giaohoà dântộc và ngônngữ. Trên đường namtiến, người Annam cổ hấpthu từvựng tiếng Chăm và Môn‑Khmer, làm tăngthêm các yếutố NamÁ và NamĐảo lêntrên tầng Tháicổ‑BáchViệt. Tànlưu của chúng còn lưulại trong tiếngMường.

Nhóm tộcngười Việt‑Mường (300 TCN – 100 SCN) sinhra tộc Kinh ở Annam cổ. Khoảng mộtnghìn nămtrước, nhóm này táchra thành Mường và Việt. TiếngViệt hiệnđại tiếnhóa từ nhánh sau. Trongkhi đó, các ngônngữ Môn‑Khmer vùng cao tâynam đónggóp thêm từvựng bảnđịa, kểcả từ cơbản còn thấy trong tiếng Mường.

Bêndưới tấtcả là giaitầng sâuhơn: hỗnhợp của Háncổ, Hán Trungkỳ, Hán Trungcổ, Quanthoại sơkỳ và cả Quanthoại hiệnđại. Dấuvết BáchViệt cổ còn trong Thái, Miêu‑Dao và mộtvài ngônngữ Môn của nam Trungquốc và Bắcnam Việt. Nhưng theo thờigian, các yếu tố này trởnên xa lạ với tiếngViệt hơn so với tầng Hán, vốn vẫn là ảnhhưởng chủđạo.

Bảng 2 – Tổngquan các giaitầng “ngoạilai” trong tiếngViệt

C. Thanhđiệu, từvaymượn Hán, và quanhệ Hán‑Tạng

Vượtlêntrên các tươngứng ngữâm và ngữnghĩa đã được Shafer liệtkê trong từnguyên Hán‑Tạng, lậpluận xếp tiếngViệt vào khung này càng được củngcố bởi vídụ kinhđiển về thanhđiệu, một đặcđiểm phânbiệt rànhrẽ tiếngViệt khỏi phânnhánh Môn‑Khmer. Cần nhấnmạnh thêm rằng các ngônngữ Môn‑Khmer là vôthanhđiệu, trongkhi tiếngViệt, giống các phươngngữ Hán thuộc ngữhệ Hán‑Tạng khác, là cóthanhđiệu, chúng phảnánh lẫnnhau.

Trong chínhtả hiệnđại, tiếngViệt đánhdấu thanhđiệu hiệnđại trong chínhtả Quốcngữ bằng 5 dấu đặt trên nguyênâm, để kýâm 8 thanhđiệu theo ngônngữ học truyềnthống họ chỉ nghe và thẩmđịnh bằngtai và nhậnthấy được sựhiệndiện của thanhnhập, vídụ, thanhnhập nặng của HN “nhược” /ɲɨək8/ (HN yếu) và HN “ngược” /ŋɨək8/ (HV nghịch). Chínhxác hơn, thanhđiệu của hai thanhnhập 7, 8, không chỉ do dấugiọng mà còn do phụâm cuối như ‑p, ‑t, ‑k, cùngnhau hoànchỉnh hệ tám thanhđiệu. Cấutrúc này tươngứng với khung ngữâm Hán‑Việt và Háncổ, trongđó chúng có cảthảy 4 thanh, mỗi thanh chiathành 2 quãng thượng‑hạ (nghĩalà âm-dương, cao-thấp, trọc-thanh, đục-trong…), tạothành tám thanhđiệu kinhđiển của Háncổ (Norman 1988:55). (2)

Như Henri Maspero (1912) đềxuất, thanhđiệu là đặctính bẩmsinh của ngônngữ, khôngthể phátsinh từ một hệ vôthanhđiệu. Hệquả là, như Norman (1988:54) nhậnxét, ngônngữ cóthanhđiệu khôngthể có quanhệ ditruyền hoặc thừakế với ngônngữ vôthanhđiệu.

Chữ Hán thảolược vẫncòn dùng trong vănbản tiếngHàn ở ĐạiHàn đến thậpniên 1960. Nhưng khácvới Hán‑Việt cóthanhđiệu, tiếngHàn hiệnđại chủyếu dựavào ngữcảnh để hiểu ngữnghĩa các từ Hán vaymượn vôthanhđiệu. Khi viết bằng ‘Hangul’ không ‘Hanja’, các từ này phátâm gần như giốngnhau, không có thanh điệu để phânbiệt. Vídụ:

  • 防火 fánghuǒ: tiếngHàn /banghwa/ ~ HV phònghoả sovới 放火 fànghuǒ: tiếngHàn /banghwa/ ~ HV phónghoả,
  • 水稻 shuǐdào: Hàn /sudo/ ~ HV thuỷđạo (HN lúanước) sv. 水道 shuǐdào: Hàn /sudo/ ~ HV thuỷđạo sovới 首都 shǒudū: Hàn /sudo/ ~ HV thủđô

Để biếtthêm tính vôthanhđiệu, hãy xét cách các từ Hán‑Việt và Hán được phátâm trong tiếngAnh: “chowmein”, “kowtow”, “taipoon”, “sampan”, “vietcong”, “pho”, “banhmi”, “aodai”, “Vietnam” không bỏdấugiọng, chúng chỉ mang trọngâm, không mang thanhđiệu gốc, nên ngườiViệt nghe thành lơlớ ngòngngọng.

Sovới tiếng Pháp hay Anh khi vaymượn vào tiếng Khmer và Việt, sựtươngphản càng rõnéthơn. Khmer vôthanhđiệu nên tiếng này vaymượn từ ngoạilai không bỏdấugiọng. TiếngViệt cóthanhđiệu nên ngườiViệt tựđộng ápđặt thanhđiệu lên từvaymượn, khiến chúng trởnên “bảnđịahoá”. Vídụ:

  • caobồi (cowboy)
  • quánhtùtì (one‑two‑three)
  • súpquay (subway)
  • mêtrô (métro)
  • buộcboa (pourboire)
  • phẹcmatuya (fermature)

Mỗi từ đều mang thanhđiệu, chothấy tiếngViệt tíchhợp từvựng ngoạilai bằng cách gánthêm thanhđiệu. (Xem Sự Hìnhthành Thanhđiệu trong TiếngViệt )

Về phânbố khônggian, các tươngứng giữa Môn‑Khmer và Việt rờirạc, nằmtrên nhiều phương khácnhau. Chúng tươngứng theo đường ngẫuphụ, giốngnhư sốđếm. Bứctranh rộnglớnhơn giốngvới các từnguyên Việt xuấthiện trong nhiều từnguyên Hán‑Tạng khácnhau, và giốngnhư cách nhiều từnguyên Hán‑Việt liênhệ với tiếngHán Thượngcổ (上古 漢語) thời Tiền‑Hán, thườngthấy trong Thikinh (詩經) và Sởtừ (楚辭). Ngượclại, các tươngứng Hán‑Việt với Hán Trungcổ biếnđổi liêntục trên trục thẳng từ thờikỳ Háncổ → Hán Trungcổ. Tổngthể, cùngvới các yếutố ngônngữ khác (tạmgác không bànchuyện cấutrúc cúpháp [bổngữ đứng trước chủngữ]), sựliêntục của tiếngViệt nghiêngmạnh về Hánngữ.

Vậy vìsao tiếngViệt khôngđược xếpvào Hán‑Tạng màlại vào NamÁ Môn‑Khmer? Tómlược: các nhànghiêncứungữhọc thoảmãn với vài chục từnguyên cơbản và bỏqua sựkiện hơn mộtnửa số mụctừ khảosát (theo Thomson, Taylor, Nguyễn Ngọc San) cũng đồngthời tươngứng với từnguyên Hán‑Tạng sovới bảng mụctừ của Shafer.

Tráilại, nghiêncứu này của tácgiả tiếpcận toàndiện: khảosát gốc của từnguyên Hán‑Tạng và cách chúng liênhệ với từnguyên Việt. Trọngtâm là quanhệ nộitại của một ngônngữ sống — đặctính, dịbiệt, và vịtrí lịchsử của nó như quốcgia duynhất của người BáchViệt phươngnam thoátkhỏi sựcaitrị của ngườiHán, khácvới Quảngtây, Hảinam, Quảngđông, Phúckiến. Trong ýnghĩa đó, tiếngViệt còn “Hánhoá” hơn Môn‑Khmer, bấtchấp baonhiêu giáođiều phủnhận. Mộtnghìn năm Bắcthuộc dưới triều nhàHán — cuốiđường hầm vẫncòn có ánhsáng.

Để củngcố thuyết Hán‑BáchViệt, các chương sau sẽ tiếptục trìnhbày các bảng từvựng Hán cơbản có từnguyên Việt. Đây là trọngtâm của côngtrình, cùng với dựán cơsởdữliệu Tựđiển Hán‑Việt. Vềmặt thốngkê, bằngchứng chothấy hơn 90% từvựng tiếngViệt, kể cả hầunhư toànbộ từ cơbản, có nguồngốc Hán. Nhiều tươngứng trongsốnày lầnđầu được ghinhận tạiđây. (4)

Kếtluận

Việc truytìm nguồngốc tiếngViệt vẫn chưahoànthành, nhưng lộtrình ngàycàng rõ. TiếngViệt khôngthể được giảithích như một dịthể NamÁ; tráilại, từvựng và cấutrúc của nó hélộ những liênhệ sâurộng dưới lăngkính ngữhệ Hán‑Tạng. Khungnền là do Shafer đã đặtđể, nhưng việc đốichiếu toànbộ sáu phânchi vẫn cần táixâydựng theo phép sosánh hiệnđại.

TiếngViệt hiễnlộ chothấy nó khôngphảilà một ngônngữ bênlề mà là chứngtích trungtâm của sựtươngtác lịchsử giữa các ngônngữ Hán‑Tạng. Nhậnra điềunày mởđường cho những nghiêncứu tươnglai: cảicách chínhtả phảnánh tínhđaâmtiết, từđiển songngữ có chúgiải nối Việtngữ với ngữhệ Hán‑Tạng, và táixâydựng disản chung đặt Việtngữ vào một trục liêntục ngữngôn rộnglớnhơn.

Nềntảng này khôngphải điểmkết màlà bệphóng. Nhiệmvụ tiếptheo là khảosát cách các tươngứng từnguyên hiệndiện trong cấutrúc, vănhóa và lịchsử. Câuhỏi khôngcònlà liệu tiếngViệt thuộc khung này hay khung kia, màlà lộtrình độcđáo — qua tiếpxúc, thíchứng và đềkháng — đã tạonên ngônngữ này như ngàyhômnay nhưthếnào.

Sáchthamkhảo

Alves, Mark J. An Updated Overview of the Austroasiatic Components of Vietnamese. Languages 9(12), 2024.

Benedict, Paul K. Sino‑Tibetan: A Conspectus. Cambridge University Press, 1972.

Campbell, Lyle. Historical Linguistics: An Introduction. Edinburgh University Press, 2013.

Chen, Shu‑Fen. Vowel Length in Middle Chinese Based on Buddhist Sanskrit Transliterations. Language and Linguistics 4(1), 2003, pp. 29–45.

Haudricourt, André‑Georges. L’origine des tons en vietnamien. Journal Asiatique 242, 1954, pp. 69-82.

Haudricourt, André‑Georges. Problèmes de phonétique diachronique: la nasalisation vocalique en vietnamien. Bulletin de la Société de Linguistique de Paris 49, 1954.

Haspelmath, Martin. Comparative Linguistics and the Problem of Spurious Similarities. Linguistic Typology 9(1), 2005.

Maspero, Henri. Études sur la phonétique historique de la langue annamite. Les initiales. Paris: Imprimerie Nationale, 1912.

Matisoff, James A. Handbook of Proto‑Tibeto‑Burman. University of California Press, 2003.

Mei, Tsu‑lin. Tones and Prosody in Middle Chinese and the Origin of the Rising Tone. Harvard Journal of Asiatic Studies 30(1), 1970, pp. 86-110.

Norman, Jerry. Chinese. Cambridge University Press, 1988.

Pulleyblank, Edwin G. Middle Chinese: A Study in Historical Phonology. Vancouver: University of British Columbia Press, 1984.

Sa, Quoc Hoang. Study on the Understanding and Use of Sino‑Vietnamese Words: Perspectives from Secondary School Students in Ho Chi Minh City. Sprin Journal of Arts, Humanities and Social Sciences 4(5), 2025.

Shafer, Robert. Introduction to Sino‑Tibetan. Wiesbaden: Otto Harrassowitz, 1966-1974.

Sidwell, Paul. Austroasiatic Dataset for Phylogenetic Analysis: 2015 Version. Mon-Khmer Studies 44, Mahidol University / SIL International.

Starostin, Sergei. Sino‑Tibetan Etymological Dictionary and Thesaurus. Moscow, 1991.

Thomas, David D. Basic Vocabulary in Some Mon-Khmer Languages. Mon-Khmer Studies, 1960.

Thurgood, Graham. Vietnamese and Tonogenesis: Revisiting Haudricourt. California State University, Chico, 2002.

CƯỚCCHÚ


(1)^ Để nhắclại, mộtsố từvaymượn trong hệ 12 congiáp tiếngHán cóvẻ được vaymượn từ ngônngữ BáchViệt cổ. Vídụ: 子 zǐ (HV tý, HN chuột), 丑 chǒu (HV sửu, HN trâu), 午 wǔ (HV ngọ, HN ngựa) ‘ngựa’, 未 wèi (HV mùi, HN dê) ‘dê’, 亥 hài (HV hợi, HN heo). Chúng thuộc chukỳ 12 congiáp, trừ một ngoạilệ: 兔 tù (HV thố, HN thỏ). Có thể vì kỵhuý nên 卯 mǎo (HV mão, HN mèo) được thaythế cho thỏ, chodù âm của nó rõràng từ /mew2/, một dạng ‘mèo’ xuấthiện ổnđịnh trong các ngônngữ Thái và Môn‑Khmer.

Những trườnghợp khác khôngtheocùng mẫuhình. Các từ như 江 jiāng: HN sông, 虎 hǔ: HN cọp, 狗 gǒu: HN chó, 犬 quán: HN cún, 牙 yá: HN ngà đều truyvết về BáchViệt, nhưng cóthể xemnhư pháttriển từ cùng một gốc với Hán‑Việt. Điềunày khônghề ngụý rằng chúng có quanhệ ditruyền theonghĩahẹp, như phảnánh trong chữHán ghi trong Tựđiển Khanghi. Cũng khônggiống tìnhhuống sốđếm tiếngViệt khi sosánh với các ngônngữ Môn‑Khmer.

Xét ‘răngkhểnh’ (răngnanh), tươngứng 犬齒 quánchǐ (= 犬牙 quányá, cf. HN răng 齡 líng), hay ‘ngồixổm’, ‘chồmhổm’ (ngồi như chó), tươngứng 犬坐 quánzuò (犬 quán = ‘chó’). Tươngtự, ‘nonsông’ (sôngnúi) và ‘hùnghổ’ (mãnhhổ) là các từvaymượn Hán mang sắcthái vănhóa từ 江山 jiāngshān (HV giangsan) và 猛虎 měnghǔ (HV mãnhhổ). Các từ này chỉ vào tiếngViệt saukhi tiếngViệt đã táchkhỏi Việt‑Mường và hìnhthành dạng Annam cổ.

Ngàynay, với tínhđaâmtiết, tiếngViệt tiếptục tạo nhiều từ đaâmtiết từ vậtliệu Hán, thường theo trậttự [bổngữ (tỉnhtự) + chủngữ (danhtự) ].

(2)^ Cũng như các ngônngữ Hán hìnhthành, sựhoàtrộn giữa các nhóm “tiền‑Hán” từ thượngdu Hoànghà với cưdân bảnđịa hai bờ Trườnggiang đã sinhra ngườiHán và các ngônngữ Hán vềsau. Một quátrình songhành diễnra ở phươngnam: các yếutố Hán đivào dạng Annam cổ, được nói bởi cưdân hỗnhợp của Quận Giaochỉ (交州 Giaochâu < 交趾 Giaochỉ) vào khoảng thếkỷ I TCN.

(3)^ Tạmdừng để xét một điểm thúvị về thanhđiệu. Vài thậpniên gầnđây, các nhàngônngữ và giáodục tại Mỹ, Canada, Úc, Pháp, v.v. nghiêncứu cách trẻem Việt và Hoa tiếpthu tiếngmẹđẻ. Câuhỏi lặplại: trẻ tiếpthu thanhđiệu lúc nào? Ngaykhi học những từ đầutiên, hay muộn hơn như một tầng phụ?

Câutrảlời rõràng: trẻ tiếpthu thanhđiệu đồngthời với từ đầutiên; thanhđiệu là một phần của quátrình tiếpthu ngônngữ banđầu, khôngphải lớp thêmvào vềsau. Ngượclại, trẻ không tiếpxúc tiếngmẹđẻ chođếnkhi trưởngthành thường nói tiếngViệt theo ngữđiệu phươngTây: bằngphẳng, khôngcó đườngcong thanhđiệu tựnhiên.

(4)^ Tỷlệ phầntrăm được xácđịnh bằngcách chọn ngẫunhiên các trang trong một tựđiển Việt chuẩn và đếm mụctừ. Chọn bấtkỳ trang nào, tỷlệ thốngkê cũng lặplại. Hoặc, chỉ cần xem các từnguyên được tríchdẫn trong côngtrình này, ngườiđọc sẽ dễdàng xácnhận consố ấy.

Leave a Reply

Discover more from ziendan.com

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading