Bànluận về Lýthuyết của Haudricourt

by dchph in collaboration with Copilot

Hìnhảnh Ai phụchồi một trang tàiliệu ảo cổ về thanhđiệu Hán-Việt được tìmthấy.
(creAited by dchph with Jetpack)

Thanhđiệu tiếngViệt thườngđược xem là đặctrưng cơbản của ngônngữ. Môhình 1954 của Haudricourt cho rằng thanhđiệu hìnhthành do sự triệttiêu phụâmcuối âmtắc thanhhầu /ʔ/ và đặcđiểm đóng cuốnghọng, chứ không bắtnguồn từ bấtkỳ disản Hán hay Austroasiatic nào; lậpluận này đã táicấu ngônngữhọc và địnhvị lại tiếngViệt trong quanhệ với tiếngHán và Môn‑Khmer. Tuynhiên, từnguyên tiếngViệt lại chỉra hướng khác: từvựng bảolưu những tươngứng thanhđiệu thừakế từ các từvaymượn Háncổ, mà những phạmtrù thanhđiệu nộitại của chúng đã được dungnhập trọnvẹn vào tiếngViệt như một đặctính hìnhvị tươngđồng tiếngHán. Vìvậy, nguồngốc thanhđiệu tiếngViệt khôngthể quygiản vào môhình muộnmàng tới thếkỷ thứ XII mới xuấthiện của Haudricourt. Chứngcứ từ tiếng Háncổ, Hán Trungcổ và các lớp Hán‑Việt nguyênsơ chothấy những phạmtrù thanhđiệu đã hìnhthành nhiều thếkỷ trướcđó, chúng pháttriển songhành với tiếngHán và được củngcố qua tiếpxúc lâudài dưới những áplực ngữâm chung.

I) Một bứcphá của Haudricourt (1954)

Haudricourt đềxuất rằng thanhđiệu tiếngViệt xuấthiện muộn và bị quyđịnh bởi sự biếnmất phụâmcuối; quanđiểm này vẫn có ảnhhưởng lớn nhưng cầnđược xemxét lại mộtcách nghiêmtúc. Chứngcứ từ Háncổ, Tiếng Hán Trungcổ và các lớp HánViệt sớm chothấy những phạmtrù thanhđiệu đã hiệndiện trong tiếngViệt hàng thếkỷ trước thếkỷ mườihai, hoàntoàn tráingược với giảthuyết của ông. Hệthống thanhđiệu tiếngViệt pháttriển songhành với tiếngHán, được củngcố qua hàngnghìn năm tiếpxúc, và vừa thừakế vừa táitạo theo cùng những quyluật ngữâm đã chiphối sựtiếnhóa thanhđiệu ngaytừđầu.

Giảthuyết của Haudricourt về quátrình hìnhthành thanhđiệu tiếngViệt chorằng sựphânbiệt thanhđiệu bắtnguồn từ những biếnđổi về độcao giọngnói do đặctính của phụâmđầu và phụâmcuối. Vào thờiđiểm đó, đâylà một quanđiểm mang tính độtphá và vềsau trởthành lýthuyết nềntảng để giảnggiải quátrình hìnhthành thanhđiệu nóichung. Ảnhhưởng của nó đốivới nghiêncứu thanhđiệu tiếngViệt rấtlà sâurộng và lâudài, đếnmức quanđiểm này vẫnđược nhiều họcgiả chấpnhận.

Tuyvậy, bàiviết này chấtvấn mệnhđề của ông chorằng thanhđiệu tiếngViệt chỉđược hìnhthành trễtràng đếntận thếkỷ mườihai. Thanhđiệu tiếngViệt cầnđược hiểu đólà sựkếthợp giữa thừakế lịchsử và sángtạo nộitại. Lậpluận của Haudricourt về sựhìnhthành thanhđiệu chỉ cóthể đứngvững nếu quátrình này đượcxem như diễnra đồngthời với những tiếnbộ tươngứng trong tiếng Háncổ, mộtcách tươngtác và songhành, như được gợiý qua những bằngchứng về các tươngứng cùng nguồngốc.

II) TrungHánngữ và nguồn Phậtgiáo

Dựatrên những nềntảng liênquan, Mei Tsu-lin trong côngtrình Tones and Prosody in Middle Chinese and the Origin of the Rising Tone (1970) chorằng thanhđiệu thượngthanh 上聲 của tiếngHán Trungcổ hìnhthành do sự mấtmát phụâmcuối âmtắc thanhhầu /ʔ/ khi đóng cuốnghọng lại. Diễnbiến này tươngứng với thanhđiệu hỏingã trong tiếngViệt, cũngnhư với những phạmtrù thanhđiệu tươngtự trong nhiều phươngngữ Hán hiệnđại. Đến thếkỷ VII, VIII, thanhđiệu thậmchí được dùng để môphỏng trườngđộ của âm Phạnngữ và được dungnhập trọnvẹn vào hệthống bốn thanh của tiếngHán Trungcổ về caođộ, đườngnét và trườngđộ, như được ghilại trong một vănbản Phậtgiáo thếkỷ IX. Hơnnữa, chứngcứ vầnluật từ Kinhthi chothấy các từ Háncổ có xuhướng tụthành ba hoặc bốn phạmtrù thanhđiệu, và những phạmtrù này vềsau tiếnhóa trựctiếp thành bốn thanh hai quãng của tiếngHán Trungcổ.

“Lậpluận theo phéptươngđồng chỉcó giátrị gợiý, và nếu khôngcó chứngtích trựctiếphơn, lýthuyết ấy vẫn chỉlà một khảnăng trong nhiều khảnăng. Maymắnthay, ba loại chứngcứ này cóthể được nêura: phươngngữ hiệnđại, nguồn Phậtgiáo liênquan đến tiếngHán Trungcổ, và các lớp Hán-Việt cổ.

Mộtsố phươngngữ vùng duyênhải đôngnam còn bảolưu phụâmcuối đónghọng trong thượngthanh, và các nguồn Phậtgiáo chothấy thượngthanh của tiếngHán Trungcổ có đặcđiểm cao, ngắn và bằng. Lậpluận của chúngtôi là: phụâmcuối đónghọng của tiếngHáncổ được bảolưu nguyênvẹn trong các phươngngữ vùng duyênhải và tiếnhóa thành âmtiết cao và ngắn trong tiếngHán Trungcổ. Các nghiêncứu âmthanhhọc chothấy âmtiết sẽ cao và ngắn nếu kếtthúc bằng một phụâm tắc vôthanh, thấp và dài nếu kếtthúc bằng phụâm tắc hữuthanh, và trungbình về độcao lẫn trườngđộ nếu kếtthúc mở. Cũng hợplý khi giảđịnh rằng khi phụâmcuối bị mất, những đặctính thanhđiệu sẽ được bảolưu như những phảnxạ. Vìvậy, nếu phụâmcuối đónghọng (vôthanh) thựcsự tồntại trong tiếngHáncổ, thì hậuduệ của nó phải mang chính những đặctính mà thượngthanh đã có trong tiếngHán Trungcổ.”

(Mei Tsu-lin’s Tones and Prosody in Middle Chinese and the Origin of the Rising Tone. 1970. )

III) Chứngcứ từ Háncổ và các từvay sớm

Haudricourt nổilên là người chính tháchthức phảnbác lýthuyết 1916 của Maspero vềviệc thanhđiệu rằng chúng khôngphải là kếthừa, một lýthuyết từng được những từnguyên Môn-Khmer khôngcó thanhđiệu khẳngđịnh. Trướckhi Haudricourt xuấthiện, giảđịnh phổbiến là thanhđiệu khôngthể tiếnhóa từ những đốilập khôngthanhđiệu, và rằng thanhđiệu trong tiếngHán vốnlà đặctính nguyênthủy của ngônngữ. Thậmchí đến cuối thếkỷ XX, Tung T’ung‑ho (董同龢, Trungquốc Ngữâm Sử, tr. 183), được Mei Tsu-lin (1977) tríchdẫn, cũng từng phátbiểu: “Từ thuở khởiđầu của tiếngHán, chúngta khôngchỉ phânbiệt thanhđiệu mà còn sởhữu một hệthống thanhđiệu khôngkhácmấy sovới bốn thanh của tiếngHán Trungcổ.”

Nghiêncứu 1954 của Haudricourt về nguồngốc thanhđiệu tiếngViệt đã đảongược quanđiểm ấy. Ông chorằng hệthống thanhđiệu tiếngHán tiếnhóa lịchsử qua sựđánhmất của mộtsố phụâmcuối. Cụthể, thượngthanh 上聲 của tiếngHán Trungcổ, tươngứng với thanhđiệu hỏingã của tiếngViệt, phảnánh một phụâmcuối /‑h/ cổhơn, vốnlà phảnxạ của âmgốc /‑s/. Chứngcứ đến từ những từ Háncổ được vaymượn vào tiếngViệt từ thời nhàHán, khi thanh hỏingã vẫncòn được biểuthị bằng /‑s/. Thí dụ: 義 ŋrals > ‘nghĩa’ (ngã), 墓 *ma:gs > ‘mả’ (hỏi).

Từ chứngcứ này và theo phéptươngđồng, Haudricourt đềxuất rằng quátrình hìnhthành hìnhthái trong tiếngHáncổ liênquan đến sựluânlưu giữa /‑s/ và /‑Ø/, vềsau tiếnhóa thành thanhkhứ 去聲 của tiếngHán Trungcổ. Thídụ: ông phụcnguyên dựâm /dâk/ 度 cho độngtừ “đo” (HV độ) và /dâks/ cho danhtừ “đạc” (HV độ). Tươngtự, /âk/ 惡 cho tínhtừ “ác” (HV ) và /âks/ cho độngtừ “ố” (HV ). Mei nhậnxét rằng yếutố thứhai trong những cặp này thuộc thanhkhứ, và trong Hán-Việt chúng nhấtquán là thanhkhứ. Tuyvậy, trong các dạng Hán-Nôm như đo, chúng lại rơi vào thanhngang (bìnhthanh).

Đốivới giảthuyết của Haudricourt về thượngthanh tiếngViệt (hỏi và ngã), cần thảoluận thêm. Ngoài các thídụ 義 và 墓, nhiều trườnghợp khác cóthể phùhợp hoặc khôngphùhợp với môhình của ông; những biếnthể này sẽ được khảosát ở phầnsau.

Đềxuất của Haudricourt được pháttriển thêm bởi Forrest (1960), người đồngnhất âm /‑s/ phụcnguyên của tiếngHáncổ với hậutố /‑s/ của tiếngTạngcổ. Pulleyblank (1962) bổsung chứngcứ bằngcách chỉra rằng những từ ngoạilai kếtthúc bằng /‑s/ được phiênâm vào tiếngHán thếkỷ III sau CN chothấy quátrình /‑ts/ > /‑s/, vốn theo ông đã sinhra thanhkhứ. Trong cùng nghiêncứu, Pulleyblank còn đềxuất các tiềnthân cho hai thanhđiệu khác: /‑ɗ/ và /‑ɓ/ cho thanhngang 平聲, và /‑ʔ/ cho thanhthượng 上聲. Ông chorằng tiếngHáncổ khônghề có âmtiết mở /‑Ø/. Vì đã phụcnguyên /ɗ‑/ và /ɓ‑/ làm phụâmđầu, ông lýluận rằng chúng cũng cóthể xuấthiện ở vịtrí phụâmcuối, tức /‑ɗ/ và /‑ɓ/. Nhưvậy, những âmtiết cóvẻ mở trong tiếngHán Trungcổ cóthể phảnánh phụâmcuối /‑ɗ/ hoặc /‑ɓ/ tuỳtheo sựtiếpxúc với âmcuối ngạc hoặc răng. Liênhệ của Pulleyblank giữa /‑ʔ/ và thanhthượng dựa phầnlớn trên tươngđồng với tiếngViệt, do những điểm songhành nổibật giữa hai hệthống thanhđiệu. Sự tíchluỹ chứngcứ ủnghộ giảthuyết /‑s/ khiến những phéptươngđồng này càng trởnên hợplý. Vì thanh sắcnặng của tiếngViệt tiếnhóa từ sựmấtmát của /‑ʔ/, nên việc thanhthượng trong tiếngHán tiếnhóa theocùng cơchế là điều cóthể.

Trong thựctế, lậpluận ngượclại cũngđược nêura: những từ khôngthanhđiệu trong Môn-Khmer nhưng có từnguyên thanhđiệu trong tiếngViệt cóthể là từ vay từ tiếngViệt. Lýthuyết của Haudricourt dựatrên quansát rằng mộtsố phụâmcuối Môn-Khmer tươngứng với những thanhđiệu nhấtđịnh trong tiếngViệt, thídụ phụâmcuối [ʔ] tươngứng với thanh thứsáu. Tuyvậy, mệnhđề của ông rằng tiếngViệt chỉ trởthành ngônngữ có thanhđiệu đầyđủ vào thếkỷ XII là khôngthể chấpnhận. Đến cuốithếkỷ X, tiếngHán Trungcổ đời nhàĐường đã tiếnhóa thành hệthống tám thanh (nghĩalà bốn thanh hai quãng). Gần một thiênniênkỷ, họcgiả Annam đã dùng Quanthoại làm ngônngữ họcthuật, giốngnhư các họcgiả ở những châuquận khác của Trungquốc. Sựhiệndiện rộngkhắp của từvựng Hán-Đường songâmtiết trong tiếngViệt chothấyrằng thanhđiệu ở Annam đã hoàntất trướckhi giành độclập; nếukhông, đã khôngthể có những bài thơ Đường được ngườiViệt sángtác và thưởngthức đếntận thậpniên 1970.

Dù chấpnhận hay không niênđại do Haudricourt đưara, chứngcứ chothấy rằng từvựng Annam đã hoàntoàn có thanhđiệu vào thếkỷ mườiba. Điềunày được xácnhận bởi Annan Dịchngữ (安南 譯語), một từđiển do sứthần nhàNguyên biênsoạn, vềsau được Vương Lực (Wang Li 王力, 1997) dịchlại.

Khôngchỉ các từ Hán hiệnđại vaymượn vào tiếngViệt mang thanhđiệu đốiứng đúng với tiếngHán, mà các dạng Hán-Nôm cổhơn cũng bảolưu những tươngứng thanhđiệu cóthể truynguyên đến tiếngHáncổ, cótrước sựhìnhthành đầyđủ của tám thanh trong tiếngHán Trungcổ. Thídụ:

  • OC *ɦljeds → HN thề (thanh 2) → MC dʑiaj → HV thệ (thanh 6) → 誓 M shì ‘thề’
  • OC *ŋʷans → HN nguyền (thanh 2) → MC ŋuan → HV nguyện (thanh 6) → 願 M yuàn ‘nguyện’
  • Những tươngứng này mởrộng đến đốilập giữa phụâmđầu hữuthanh và vôthanh, như trong các cặp:
    • buồng sovới phòng 房 fáng
    • buồm sv. phàm 帆 fán
    • bữa sv phạn 飯 fàn

Khi xétđến thanhđiệu, sựtươngứng chặtchẽ giữa tiếng Việt và Hán trong từvựng Hán-Việt và mộtphần Hán-Nôm chothấy nhiều từnguyên cóthể có chung nguồngốc cổđại.

Môhình {C(+tone) : V(+tone) : MK(‑tone)} môphỏng cách ba nhóm ngônngữ – Hán, Việt và Môn-Khmer – cùng tiếnhóa, tráingược với giảthuyết của các họcgiả Môn-Khmer. Kịchbản này cóthể đã xảyra hơn 2200 năm trước, khi tiếngAnnamcổ đãcó hai hoặc nhiều thanhđiệu tươngứng với tiếngHáncổ, đãtừlâu truớckhi tiếngAnnam địnhhình thành một ngônngữ riêng, chồng lớp Hánngữ lêntrên tầngnền bảnđịa sau khi nhánh Việt-Mường táchkhỏi nhánh tiền-Việt-Mường. Đếnkhi các nhóm tộcngười Mường ở đôngnam Annam thời bấygiờ corút vào vùng núirừng do áplực từ sựchiếmđóng dưới miền đồngbằng của quânxâmlược nhàHán năm 111 TCN, tiếngnói của ngườiKinh cònlại đã trởnên Hánhoá mạnhmẽ. Tráilại, người Mường tiếpxúc nhiềuhơn với các ngônngữ Môn-Khmer ở vùngcao tâynam nên giữđược truyềnthống NamÁ.

Vềmặt nguyênngữ, khi xét tấtcả yếutố trong bốicảnh lịchsử, khảnăng từnguyên tiếngViệt và tiếngHán là cùng nguồngốc mởrộng đến nhiều từvựng cơbản, kểcả những từ cũng xuất hiện trong Môn-Khmer, vốn được xếpvào NamÁ, thídụ chết 死 sǐ ‘chết’, máu 衁 huáng ‘máu’, ngà 牙 yá ‘ngà’, v.v. (Xem tlmei.com/tm17web/1976a_austroasiatics.pdf).

Về phía Hánngữ, những từ có chung bộthủ vềsau sinhra nhiều đồngâm trong Quanthoại hiệnđại, vốn chỉcòn bốn thanhđiệu sau nhiều thếkỷ bị ảnhhưởng bởi các ngônngữ Altai như Thátđát (Tartar) và Mãnchâu trong thờikỳ họ trịvì Trunghoa. Tráilại, tiếngAnnam phảnánh đầyđủ hệthống thanhđiệu của các phươngngữ Nam-Hán như Quảngđông và Phúckiến, vốn giữtrọn hệthống thanhđiệu.

Mộtngàn năm đôhộ từ triều Hán đến Đường chophép hệthống tám thanhđiệu của tiếngHán Trungcổ ănsâu vào tiếngViệt, nơi nó trởthành đặctính khôngthể táchrời. Điểm thenchốt là tiếng Annam không chờ đến thếkỷ XII mới hoàntất thanhđiệu như Haudricourt đềxuất. Tráilại, những chuyểnbậc thanhđiệu từ tiếngHáncổ qua tiếngHán Trungcổ sơkỳ đến tiếngHán Trungcổ đãđược tiếpnhận đồngthời ở Annam, giốngynhư tại các châuquận khác của Trungquốc.

Nhờđó, hệthống tám thanhđiệu trong những từ có cùnggốc cổđại chophép phânbiệt chínhxác ýnghĩa giữa các chữ cùng bộthủ. Thídụ, với âm…

1.  口 kǒu (HV khẩu, HN cửa, ‘opening’)

  • ca 哥 (gē, ‘brother’)
  • ca 歌 (gē, ‘sing’)
  •  個 (gè, ‘each’, VS cái)
  • các 各 (gé, ‘every’)
  • cáo 告 (gào, ‘announce’)
  • cao 高 (gāo, ‘high’)
  • cảo 稿 (gǎo, ‘manuscript’)
  • cẩu 狗 (gǒu, ‘dog’, VS cầy)
  • cổ 古 (gǔ, ‘ancient’, VS )
  •  姑 (gū, ‘aunt’)
  • cố 估 (gù, ‘estimate’)
  • cố 固 (gù, ’cause’, VS cớ)
  •  句 (jū, ‘sentence’, VS câu)
  • cục 局 (jù, ‘bending’, VS cong)
  •  居 (jū, ‘reside’)
  •  何 (hé, ‘how, which’)
  •  河 (hé, ‘river’)
  • hồ 胡 (hú, ‘neck’, VS cổ)
  • hồ 湖 (hú, ‘lake’)
  • khả 可 (kě, ‘able’)
  • kha 珂 (kē, ‘jade’)
  • khắc 克 (kè, ‘overcome’)
  • khách 客 (kè, ‘guest’)
  • khấu 摳 (kòu, ‘stingy’, VS kẹo)
  • khấu 扣 (kòu, ‘knock’, VS )
  • khô 枯 (kū, ‘dried’)
  • khổ 苦 (kǔ, ‘bitter’, VS cay, ‘spicy hot’)
  • khốc 哭 (kù, ‘weep’, VS khóc)
  • khốc 酷 (kù, ‘brutal’)

2. 方 fāng (HV phương, HN vuôngvửamới, ‘square’, ‘recently’)

  • bàng 旁 (páng, ‘side’)
  • báng 謗 (páng, ‘slander’)
  • biên 邊 (biān, ‘border’)
  • phòng 房 (fáng, ‘room’, HN buồng)
  • phóng 放 (fàng, ‘release’, HN buông)
  • phòng 防 (fáng, ‘safeguard’)
  • phỏng 仿 (fáng, ‘imitate’)
  • phỏng 訪 (fǎng, ‘visit’, HN thăm)
  • phương 芳 (fāng, ‘fragrant’, HN thơm)
  • phường 坊 (fáng, ‘quarter’, HN hàng

3. 工 gōng (SV công, ‘work’)

  • cang 扛 (káng, ‘carry’, HN khiênggánhgồngcõng)
  • cang 缸 (gāng, ‘vat’, HN ảng)
  • công 功 (gōng, ‘force’)
  • công 攻 (gōng, ‘assault’)
  • cống 貢 (gòng, ‘tribute’)
  • củng 鞏 (gǒng, ‘consolidate’)
  • giang 江 (jiāng, ‘river’, HN sông)
  • hạng 項 (xiàng, ‘nape, item’, HN càng)
  • hồng 紅 (hóng, ‘pink’, HN hường)
  • hồng 虹 (hóng, ‘rainbow’, HN mống)
  • hồng 鴻 (hóng, ‘swan’, ‘grand’)
  • không 空 (kōng, ’empty’, HN trốngrỗng)
  • khống 控 (kòng, ‘control’)
  • khủng 恐 (kǒng, ‘terribly’)
  • xoang 腔 (qiāng, ‘hollow’, ‘accent’, HN giọng)

4. 共 gòng (SV cộng, VS cùngcungcũngvòng, ‘add’, ‘common’, ‘together’)

  • cảng 港 (gǎng, ‘seaport’)
  • cung 供 (gōng, ‘supply, offerings’, HN cúng)
  • cung 拱 (gōng, ‘cup hands before the chest’, HN vòng)
  • cung 恭 (gōng, ‘respect’)
  • hang 巷 (xiāng, ‘alley’, HN hẻm)
  • hồng 烘 (hōng, ‘heat by fire’, HN honghâmhầm)
  • hồng 洪 (hóng, ‘flood’)
  • hồng 哄 (hòng, ‘clamor’, ‘coax’, HN hống)

Điểm cốtyếu là tấtcả những từvựng nềntảng này, cùng với hàngtrăm từ khác, hẳn đã được phátâm với sự phânbiệt thanhđiệu từ rấtlâu trước thếkỷ XII. Nếu khôngcó sự đốilập về thanhđiệu, chúng đã sụpđổ vào tìnhtrạng đồngâm. Điềuđó chothấy tiếng Annam đã hìnhthành một hệthống thanhđiệu hoànchỉnh từ rấtsớm, vượtxa niênđại mà Haudricourt đềxuất, bấtkể có xem nó là một ngônngữ Hánhoá hay không. Nó tiếptục tiếpthu trướchết từ nguồn Háncổ và đồngthời sángtạo thêm những đơnvị mới, tứclà lớp từvựng mới.

Ngoàira, theo phânloại hiệnnay, vì tiếngViệt là ngônngữ duynhất trong nhóm Môn-Khmer pháttriển một hệthống thanhđiệu hoànchỉnh, lậpluận cóthể được đảongược: các từvaymượn từ một ngônngữ có thanhđiệu như tiếngViệt, khi được chuyểnvào các ngônngữ Môn-Khmer vôthanhđiệu, tấtyếu phải trảiqua những đổimới hìnhvị để bùđắp cho sựthiếuvắng đốilập thanhđiệu. Trong những trườnghợp nhưvậy, các đặctrưng về caođộ hoặc ngữđiệu cóthể đã được huyđộng để duytrì sựphânbiệt, tươngtự như hiệntượng xảyra với các từ Hán vaymượn trong những ngônngữ không có thanhđiệu như tiếng Nhật và Hàn.

Trong côngtrình Tone Correspondences and Tonegenesis in the Vietic Family (Austroasiatic), Koichi Honda tiếpcận toànbộ vấnđề từ gócnhìn Môn-Khmer:

“Vietic được biếtđến như là phânnhóm duynhất trong ngữhệ NamÁ (Môn-Khmer) có thanhđiệu. Do sựtồntại của thanhđiệu, tiếngViệt (hay Việtngữ), một thànhviên của nhánh Vietic, từlâu đã được bànluận về vịtrí phânloại của nó. Năm 1912, Maspero xếp tiếngViệt vào nhóm ngônngữ Thái chủyếu vì hệthống thanhđiệu. Haudricourt, ngượclại, vào năm 1954 chorằng tiếngViệt thuộc ngữchi Môn-Khmer dựa trên sựtươngứng của các từ cơbản, và đềxuất giảthuyết gọilà ‘sựhìnhthành thanhđiệu’. Cóvẻ như giảthuyết của Haudricourt được nhiều nhàngônngữhọc chấpnhận. Tuynhiên, giảthuyết này chưađược kiểmchứng đầyđủ do thiếu tưliệu cầnthiết cho phươngpháp sosánh.”

Honda tómlược giảthuyết của Haudricourt nhưsau:

“Ngônngữ Vietic khôngcó thanhđiệu ở giaiđoạn đầu vào khoảng năm 0 Côngnguyên. Sựxuấthiện của thanhđiệu bắtđầu từ thếkỷ VI, khi một hệthống ba thanhđiệu được hìnhthành tuỳtheo loại âmtiết kếtthúc: (1) âmtiết mở hoặc kếtthúc bằng âmvang trởthành thanhhuyền; (2) âmtiết kếtthúc bằng âmxát tạo ra thanhnặng; và (3) âmtiết kếtthúc bằng âmtắc hoặc âmtắc thanhhầu tạora thanh hỏi/ngã (quátrình âmvịhoá vần thành thanhđiệu). Sựchuyểnđổi thứba diễnra vào thếkỷ XII, khi ba thanh táchra thành sáu thanh tuỳtheo phụâm đầu; các phụâm hữuthanh trởthành loạt thanhthấp kèmtheo sựvôthanhhoá của phụâm đầu (âmvịhoá phụâm đầu hữuthanh thành thanhđiệu). Giaidoạn cuối kéodài đếnnay, khi các phụâm đầu đã vôthanh lại trởnên hữuthanh mà không làmthayđổi thanhđiệu.”

Dù tiếng Háncổ, theo cùng giảthuyết trên, cóthể đượcxemlà đã pháttriển thành hệthống bốn thanhđiệu thôngqua quátrình âmvịhoá tươngtự hay không, điều quantrọng là phải lưuý rằng trước năm 111 TCN, trước khi đếquốc Hán thôntính nước NamViệt, các từ Háncổ đã mang đầyđủ đốilập thanhđiệu cóthể đã đivào từdạng tiền-Vietic. Đến khi Annam giành độclập vào đầu thếkỷ X, vùngđất này, sau gần một thiênniênkỷ là thuộcđịa của Trunghoa, đã trởthành một trungtâm thơca vậnluật kiểu Đườngthi, chỉ đứngsau Trungnguyên Hoalục. Nếu khôngcó hệthống tám thanhđiệu đãđược tiếpthu từ tiếngHán Trungcổ, các thinhân Annam thờiđó khôngthể sángtác những bàithơ theo phongcách thơ Đường mà không biến chúng thành những môphỏng quèquặt, thiếu các điềukiện thanhđiệu thiếtyếu của truyềnthống.

Nói mộtcách khác, các từvaymượn từ tiếngHán Trungcổ với đầyđủ tám thanh hẳn đã đivào Hán-Việt từ rấtsớm, được dunghợp vào hệthống hai quãngbậc thanhđiệu [ âm-dương, nghĩalà cao-thấp, hoặc thanh-trọc], khiến tám thanh được phânbiệt về mặt thínhgiác, dù vềsau chỉ sáu thanh được ghirõ trong chínhtả tiếngViệt chỉ dựavào hìnhthức chữviết, trongkhi hệthống quãngthanh vẫncòn phảnánh rõ trong tiếngViệt hiệnđại.

(Honda, sđd., tr. 13)

Với những gì Honda gọi là “các từ bấtquytắc trong tiếngViệt” mà ông gặpphải trong quátrình sosánh, ông chorằng mộtsố yếutố khác cóthể đã ảnhhưởng đến hiệntượng biếnđổi hữuthanh–vôthanh trong tiếngViệt.

			Arem	    Ruc		       Mường	Việt
#7 "chicken" lakæ: təlka:1, rəlka:1 ka gà
#35 "rice (husked)" ŋkɔ: təlkɔ:3, rəlkɔ:3 kaw. gạo

“Chúngtôi dựkiến rằng thanhđiệu của #7 và #35 lầnlượt là thanhngang và thanhhỏi, cảhai đều thuộc quãngcao. Tuynhiên, tráingược với dựđoán, cảhai lại mang thanhđiệu quãngthấp kèm phụâm đầu hữuthanh. Vì hai dạngtừ này gắnliền mậtthiết với đờisống hằngngày của họ, thật khótin rằng chỉ riêng hai dạngtừ này lại pháttriển theo một lộtrình khácbiệt. Hẳn phảicó những yếutố khác giảithích sựbấtquytắc này. Một yếutố chung khác của hai từ trên là cụmphụâm đầu [tk] hoặc [rk]. Thamchiếu, các dạng táitạo của Ferlus cho hai từ này là #7 *r‑ka: và #35 *r‑ko:ʔ. Đây là một bằngchứng bổtrợ cho thấyrằng phụâm đầu (hoặc cụmphụâm đầu) có liênquan đến sựhữuthanh.

Tuyvậy, khôngphải mọidạng táitạo của Ferlus đều đángtin cậy. Hãy xem vídụ sau.

		Arem	Ruc		Mường	Việt	Ferlus
#85 "gần" - təkiɲ1 or 2 xəɲ` gə`n *t-kiɲ
#35 "cát" təka:c təka:c3 kac´ kát *t-ka:c

Khi tôi tìmthấy mục #85, tôi dựkiến rằng cụm phụâm đầu *t‑k sẽ hoạtđộng tươngtự như *r‑k. Tuynhiên, kỳvọng này bị phávỡ vì mục #35. Dạng #85 là một hìnhthức cổ của một từ vaymượn từ tiếngHán, thuộc loại Hán‑Việt giảđịnh. Dạng Hán‑Việt chuẩnmực của từ này là cận [kə.n].”

(Honda, sđd., tr. 13)

Cóthể chorằng những “bấtquytắc” và “mụctừ lỗi” mà Ferlus xácnhận thựcsự cóthể được giảithích như những từvaymượn tiếngViệt chuyểnsang các ngônngữ Môn‑Khmer? Những từ vănhoá như gạo (từ canhtác vănhoá lúanước), (giacầm thuầnhoá), và cát (cát sông hoặc cát bờbiển) vốn khôngphải là thànhphần thiếtyếu trong từvựng của các nhóm Môn‑Khmer sơncước vùngcao. Cólẽ vấnđề này đã chẳng từng nảyra nếu ta chấpnhận cấutrúc hiểnnhiên của các cặp đồngnguyên Việt–Hán cho những nguyênmẫu này, như sau:

  • — 雞 (jī ‘chicken’, HV kê) [Xem Lớp Từvựng Cơbản]
  • gạo — 稻 (dào ‘paddy, rice’, HV đạo) [M 稻 dào < MC dɑw < OC *lhu:ʔ ~ ɫhu:ʔ (Schuessler: MC dâu < OC *gləwʔ hoặc *mləwʔ). Xem Lớp Từvựng Cơbản]
  • gần — 近 (jìn ‘near’, HV cận, cấn, ký) [M 近 jìn < MC gɨn < OC *ɡɯnʔ, *ɡɯns; Starostin: *gərʔ‑s; MC gyn; Mand. jìn ‘to come near, keep close to’. Sosánh tiếngViệt gần ‘near, close; adjacent, beside’. Ss. 幾 kəj ‘near’ (một biếnthể ‑r/‑l cổ?). § 雞 jī (HV kê) ‘gà’; 記 jì (HN ký) ‘ghi’; 寄 jì (HN ký) ‘gởi’; 急 jí (HN cấp) ‘gấp’. ¶ j‑ ~ c‑(k‑). Lưuý: 近 jìn ~ HV ký ~ HN kề ‘close by’.]
  • cát — 沙 (shā ‘sand’, HV sa) [M 沙 shā, shà, suō (sa, sá) < MC ʂaɨ < OC *sraːl, *sraːls. ¶ /sh‑, j‑, q‑ ~ k‑/. Vídụ: 尚 shāng ~ HN còn ‘still’; 插 chā ~ HN cài ‘stick in’; 擦 cā ~ HN cà ‘rub’; 笑 xiào ~ HN cười ‘smile’; 吉 jí ~ HN cát ‘luck’; 旗 qí ~ HN cờ ‘flag’; 棋 qí ~ HN cờ ‘checker’. Cũng cóthể đồngnguyên với sạn ‘pebble’ hoặc 砂 shā.]

Những điểm cânnhắc bổsung — giảthuyết của Haudricourt còn gây nghingờ vì những lýdo sau

  • Như Honda (sđd.) đã chỉra, giảthuyết này được chứngthực rất kém vì thiếu hụt tàiliệu sosánh đángtincậy.
  • Ngaytừđầu, bảng thanhđiệu mà Haudricourt dựng để sosánh đã sailệch, không phùhợp với môhình được dùng truyềnthống trong ngônngữhọc lịchsử tiếngHán và được đôngđảo họcgiả sửdụng vềsau.

Bảng thanhđiệu phải được sắpđặt nhưsau:

1. ThanhngangDấu ngang/huyền2. ThanhthượngDấu sắc/nặng3.
Thanhkhứ
Dấu hỏi/ngã4.
Thanhnhập
Dấu hỏi/ngã
với âmcuối kếtthúc bằng
I. Quãngcao­­–Âmtắc´Phụâm thanh̉Âm´ -p, -t, -c, -ch
II. Quãngthấp`Âmtắc thanhhầu.Phụâm trọc~Dương. -p, -t, -c, -ch

chứ bảng nầy khôngphải sắpđặt nhưvầy:

1.­­3.̉5.´7.´ -p, -t, -c, -ch
2.`4.~6..8.. -p, -t, -c, -ch

(Sources: Norman. 1988, p. 55)

Vìvậy chonên, theo quan­sát của Honda rằng “(3) các âmtiết kếtthúc bằng âmtắc hoặc âmtắc thanhhầu đã tạora thanhthượng (quátrình âmvịhoá vần thành thanhđiệu).” (Honda, sđd.), thì quátrình này lẽra phải làm phátsinh hai thanhkhứ (去聲) trong tiếngViệt, tức haithanh quãngcao [´] và quãngthấp [.] như được phânloại trong bảng thanhđiệu thứnhất. Những phânloại này, vốnđược bảo­tồn trungthực trong ngônngữhọc lịch­sử tiếngHán và trong các vậnthư cổđiển, chothấy cách các hệthống thanhđiệu cổđại được kiếntạo và giảithích, và cách hệthống quãngthanh hai bậc tiếptục tiếnhóa từ hệ ba hoặc bốn thanhđiệu của tiếng Háncổ.

Mặcdù thảo­luận xoayquanh sự hìnhthành ba thanh trong tiếngHáncổ, trật­tự phânbố của sơđồ caothấp trong tiếngHán Trungcổ lại có ýnghĩa thenchốt, vì nó phảnánh cách các họcgiả Háncổ phânloại thanhđiệu dựatrên đường ­biếnthiên của chúng trong tiếng Hán trungđại đời Đường. Điềuđángchúýlà, khungphânloại này khônghề xuấthiện trong sơđồ thanhđiệu của Haudricourt, hélộ một khoảngtrống khóhiểu trong nhậnthức của ông về hệthống thanhđiệu tiếngHán Trungcổ vốn đãđược kiếnlập vữngchắc, mặcdù ông là một trong những nhà Hánhọc hàngđầu đầu thếkỷ XX.

Hơnnữa, riêng với nhậnđịnh của Honda chorằng “giaiđoạn cuối vẫn tiếptục chođếnnay, khi các phụâmđầu vôthanh trởnên hữuthanh mà không làmthayđổi thanhđiệu” (Honda, tr. 3), cần nhấnmạnh rằng, như giảthuyết của Haudricourt gợiý, sựbiếnđổi thanhđiệu không cứngnhắc. Haudricourt cốgắng gán trựctiếp các quãngthanh tiếngViệt vào các phânloại Háncổ, chẳnghạn gán dấugiọng sắc nặng vào thượngthanh (上聲 ‘rising’), và hỏi ngã vào khứthanh (去聲 ‘departing’), rồi đảongược các tươngứng này khi chuyểnsang tiếngHán. Cách trìnhbày này là một sựđơn­giảnhoá quámức.

Thựctế, cả phụâmđầu lẫn phụâmcuối trong tiếngViệt đều phânbố trên mọi thanhđiệu ở cả hai bậc quãngcao và quãngthấp. Để rõràng hơn, thayvì dùng kýhiệu truyềnthống 1–4 trong hai bậc, hệthống ởđây đánh­số tuần­tự từ 1 đến 8 theo từng cặp. Cách này phảnánh đúng cách tám thanh tiếngViệt được phânloại (xem bảng thứnhất ở trên) và cungcấp một khungphân­tích chínhxáchơn cho phần thảoluận tiếptheo.

Như nhiều họcgiả đã chỉra, Haudricourt có xu­hướng chỉ nhìnthấy những tươngứng một‑đối-một giữa mộtsố phụâmđầu hoặc phụâmcuối trong các từ Môn‑Khmer và những thanhđiệu nhấtđịnh trong tiếngViệt. Hạnchế này phát­sinh, thứnhất, vì nhiều từ tiếngViệt có nguồngốc Háncổ trong danh­sách của ông chỉ thuộc một phạmvi rấthẹp được các mụctừ chứngthực; thứhai, vì tàiliệu sosánh thờiđó còn khanhiếm và các khảosát trướcđó chưa đầyđủ; và thứba, vì ông cólẽ khôngbiết đến kho từvựng tiếngViệt gốc Hán lớnhơn nhiều, vốn thểhiện nhiều lớp thanhđiệu khácnhau, thựcsự là những dạng dịbiến. Những dạng này rơi vào “giaiđoạn cuối” theocách gọi của ông, nhưng thựcsự cóthể đã trảiqua nhiều chukỳ biếnđổi trong quákhứ xa, khiến chúng cáchbiệt đángkể sovới dạng nguyênthuỷ.

Ngoàira, cũng cần xétđến khả­năng vaymượn theo chiềungượclại: những từ tiếngViệt cóthể đã được vaymượn vào các ngônngữ Môn‑Khmer, nơi người nói thíchứng chúng vào một hệthống vôthanhđiệu, giốngnhư cách từvựng Hán được thíchứng vào tiếng Nhật và Hàn, chứ khôngphải ngượclại.

Trướckhi đisâuhơn, cần nhắclại giảthuyết của Haudricourt về sựhìnhthành sáu thanh của tiếngViệt hiệnđại, được tóm­tắt trong bảng sau (Honda, tr. 2):

			Haudricourt's hypothesis (1954)
Côngnguyên 0 Thếkỷ VI Thếkỷ XII Ngàynay
toneless 3 tones 6 tones 6 tones

pa pa pa ba
ba ba pà bà
pas, pah pà pà bả

bas, bah bà pã bã

paX, paʔ pá pá bá
baX, baʔ bá pạ bạ

và đâylà tiềnđề cho lậpthuyết trên:

“Tiềnđề giảđịnh rằng sốlượng thanhđiệu phảnánh tiếntrình niênđại của nhánh Vietic, nghĩalà từ Arem (0 thanh), Rục (4 thanh), Mường (5 thanh) và Việt (6 thanh). Theo giảthuyết của Haudricourt, Arem thểhiện giaiđoạn thứnhất (khoảng CN. 0), sauđó Rục nằm ngay sau giaiđoạn thứhai (thếkỷ VI), Mường vào khoảng giaiđoạn thứba (thếkỷ XII), và Việt ở giaiđoạn cuốicùng (ngàynay).” (Honda, tr. 4)

IV) Biếnâm Hán-Việt và sựphântách thanhđiệu

Ta hãy khảosát vídụ thườngđược dẫn của Haudricourt về mả (thanhhỏi, thựctế bị trích nhầm thành ). Ông xem nó là đồngnguyên với chữ Hán 墓 mù = HV mộ, vốn thuộc thanh nặng, tức thanhđiệu thứsáu (陽去 yángqù, ‘low departing’). Thựctế, từnguyên này đã pháttriển thành nhiều hìnhthức Hán-Nôm và Việtngữ bảnđịa khácnhau, mỗi dạngtừ mang một thanhđiệu riêng, thậmchí pháisinh ngữnghĩa kháchẳn từgốc, thểhiện sựphânhoá vượttầng và vượtlớp.

1. 墓 mù ‘grave’ (HV mộ) [M 墓 mù < MC muo < OC *ma:gs. | Phươngngữ: Quảngđông mou6, Kháchgia mu5, Amoy boŋ6, Triềuchâu mo4, Phúckiến muo5, muoŋ5. Starostin: Hán-Việt tiêuchuẩn là mộ. Các khảnăng vaymượn: ma ‘funeral’, mồ ‘tomb’. Về mh‑ xem Amoy boŋ6, Triềuchâu mo4, Phúcchâu muo5, muoŋ5. GSR: 0802 f. Sosánh: môđất 土墓 tǔmù ‘mound’, maquỷ 魔鬼 móguǐ ‘ghost’, machay 墓祭 mùjì ‘funeral ceremony’.]

Các biếnâm từ từgốc này xuấthiện trong Việtngữ nhưsau:

  •  (thanhngang, thanhđiệu thứ 1, 陰平 yīnpíng ‘high level’), e.g., môđất 土墓 tǔmù ‘earth mound’
  • ma (thanhngang, tđ-1, 陰平 yīnpíng ‘high level’), e.g., thama #墓地 mùdì ‘graveyard’, machay 墓祭 mùjì ‘funeral ceremony’
  • mồ (huyền, td-2, 陽平 yángpíng ‘low level’)
  • mả (hỏi, tđ-3, 陰上 yīnshàng ‘high rising’)
  •  (ngã, tđ-4, 陽上 yángshàng ‘low rising’), Haudricourt: HV  < OC mâg thayvì #4 mả < OC *ma:gs and #7 HV mộ < MC muo
  • mố (sắc, tđ-5, 陰去 yīnqù ‘high departing’), nghĩalà ‘bumper’ (Fr. butée)
  • mộ (nặng, tđ-6 , 陽去 yángqù ‘low departing’), ss. biamộ (墓碑 mùbēi, ‘gravestone’)
  • mốc (sắc nhập, tđ-7, 陰入 yīnrù ‘high entering’), ss. biamốc (墓碑 mùbēi, ‘gravestone’)
  • mộc (nặng nhập, tđ-8, 陽入 yángrù ‘low entering’), ss. biamộc (墓碑 mùbēi, ‘gravestone’)

Dạng #(4) mả, hay thậmchí #(5) (theo Haudricourt), thựctế là một biếnâm Hán-Nôm của từ HV mộ [mo6], vốnlà đồngnguyên rõràng của MC 墓 mù. Nóicáchkhác, các dạng Việtngữ như mồ, , và các biếnthể liênquan đều cùng một gốc, hoặclà các từvaymượn Hánngữ đivào Việtngữ ở những thờikỳ khácnhau, cóthể từ giaiđoạn trước Trungđại. Chúng cóthể đãđược vaymượn từ thời Háncổ, với diễnbiến ngữnghĩa từ sang mồ. Hoặc chúng cùng chiasẻ một nguồngốc BáchViệt, phảnánh qua một dạngtừ như .

Như Bo Yang (1983, q.1–2) chỉra, đầu thời Tây-Hán, chỉ ‘cụmđất’, và mộtáng thờiấy ngang và bằngphẳng. Từđó có hai khảnăng:

  • Tươngứng thanhđiệu: Quanhệ giữa phụâm hữuthanh và vôthanh hoặc giữa các vần cóthể tạora thanh thứtư. Trườnghợp này { ̉ ⇒ ~ }, vídụ OC mâg > mã, như Haudricourt đềxuất. Điềunày phùhợp với hệthống ông về sựluânphiên phụâm sinhra thanhđiệu.
  • Giaiđoạn hữuthanh muộn: Honda (sđd., tr.3) nhậnxét: “giaiđoạn cuốicùng kéodài đếnnay, nơi các phụâm vôthanh trởthành hữuthanh mà không làm thayđổi thanhđiệu.” Điềunày giảithích các trườnghợp thanhđiệu phảnánh những pháttriển ngữâm muộn, chứ không theo môhình cứng của Haudricourt.

Tómlại, mụcđích ởđây là chứngminh rằng một chữHán duynhất cóthể pháisinhra nhiều biếnâm Việtngữ khácnhau, mỗi dạngtừ mang âm và thanh riêng, bấtkể dạngtừ gốc Hán có phụâm đầu hữuthanh hay vôthanh (xem Mei Tsu‑lin, Tones and Prosody in Middle Chinese and the Origin of the Rising Tone, 1970).

Tươngtự trườnghợp nêutrên, các vídụ sau chothấy nhiều thanhđiệu khácnhau cóthể pháttriển từ một từnguyên Hán duynhất, tạothành nhiều phảnxạ Việtngữ biệtlập – điều mà Haudricourt cóthể chưa nhậnthấy đầyđủ. Danhsách mởrộng nhằm hai mụcđích: (1) chứngminh rằng sựphânhoá thanhđiệu đã hìnhthành từ trước thếkỷ XII, dùng để phânbiệt tinhvi ngữnghĩa; và (2) khẳngđịnh nguồngốc Hánngữ ápđảo, tráivới sốlượng ítỏi các từnguyên Mon‑Khmer, bằngcách chothấy mọi dẫnxuất đều liênkết chặtchẽ với gốcHán về âm, thanh và nghĩa, điều mà phía đốilập khôngcó.

2. 母 mǔ (HV mẫu, mô) [M 母 mǔ, mú, wǔ, wú (HV mẫu, mô) < MC məw < OC *mɯʔ || Starostin: MC mʌw < OC *mǝ̄ʔ. Về *m‑ xem Min: Hạmôn bo3, Triềuchâu bo3, Phúcchâu, Kiếnâu mu3. | GSR: 0947 a‑e || Theo Thiều Chửu: còn đọc HV ‘mô’; HN ‘men’, ‘mẻ’. 母 mǔ ~ HN ‘mái’, ‘cái’. | § 海 hǎi (HV hải) | Vídụ: 酵母 jiàomǔ (HN menrượu), 母雞 mǔjī (HN gàmái), 父母大王 Fùmǔ Dàwáng (HN Bốcái Ðạivương), 母系 mǔxì (HV mẫuhệ), 繼母 jìmǔ (HN mẹghẻ).]

  • HN men ‘yeast’ (thanhngang tđ-1, 陰平 yīnpíng, ‘high level tone’),
  • HN me ‘mother’ (ngang, tđ-1),
  • HV  ‘mold’ (ngang, tđ-1),
  • HV mỳ ‘venter’ (ngang, tđ-1),
  • HN mẻ ‘female elder’ (hỏi, tđ-5, 陰上 yīnshàng ‘high rising’)
  • HN mẫu ‘mother’ (ngã, tđ-4, 陽上 yángshàng, ‘low rising tone’)
  • HN mái ‘female of animal’ (sắc, tđ-5, 陰去 yīnqù, ‘high departing tone’),
  • HN nái ‘female of animal’ (sắc, tđ-5) [ ex. ‘heonái‘ (母彘 mǔzhí, ‘female pig’) ],
  • HN cái ‘female’ (sắc, tđ-5) [ Vídụ: ‘con dại cái mang‘ dịch từ ‘子呆母忙 zǐ dài mǔ máng’. Ss. 海 hăi (HV ‘hải’ /ha̰ːj/), HN ‘khơi’ ]
  • HN mạ ‘mother’ (nặng, tđ-6, 陽去 yángqù, ‘low departing tone’),
  • HN mệ ‘mother’ (nặng, tđ-6),
  • HN mẹ ‘mother’ (nặng, tđ-6),
  • HN mợ ‘aunty’ (nặng, tđ-6)

3. 梅 méi (HV mai) [M 梅 méi < MC moj < OC *mɯː. Starostin: Japanese apricot (Prunus mume), plum. HN me nghĩa hẹp ‘tamarind’ (sosánh 酸梅 ‘tamarind’, ‘sour plum’). Từvaymượn cổ cóthể là HN ‘apricot’. Đọc HV chuẩn: mai. Về *m‑ xem Mânnam: Hạmôn m2, Triềuchâu bue2, Phúcchâu muoi2, Kiếnâu mo2.]

  • HN me ‘tamarind’ (thanhngang, tđ-1, 陰平 yīnpíng ‘high level tone’)
  • HN  ‘apricot’ (ngang, tđ-1)
  • HN muội ‘salted dried plum’ (nặng, tđ-6 ‘low departing tone’) [ Vídụ: ‘xímuội‘ 鹹梅 (xiánméi, ‘preserved salty plum’) sovới ‘ômai’ (烏梅 wūméi, ‘black preserved salty plum’) ]

4. 海 hǎi (HV hải) [M 海 hǎi < MC həj < OC hmlɯːʔ. | Quanhệ ngữnguyên: § 母 mǔ > mái > mệ > mể ~ QT 海 hǎi > bể > biển. ¶ Tươngứng âm: /h- ~ kh-/, /h‑ ~ m‑/, /m‑ ~ b‑/. | Phươngngữ: QĐ hoi2, Hẹ hoi3, Triềuchâu hai2. | Liênquan: khơi (biểncả), với luânphiên /k‑/ ~ /h‑/. | Vídụ: 出海 chūhǎi (HN rakhơi), 海外 hǎiwài (HN ngoàikhơi). ] Sự thaythế “bể” ~ “biển”: các tổhợp chothấy quyluật biếnâm:

  • 大海 (dàhǎi, HN bểcả, biểncả)
  • 苦海 (kǔhǎiHN bểkhổ, khổải)
  • 海浪 (hǎilàngHN sóngbể, sóngbiển)
  • 海口 (hǎikǒu, HN cửabể)
  • 海寇 (hǎikòu, HN cướpbể, cướpbiển)
  • 海賊 (hǎizéi, HN giặcbể, giặcbiển)
  • 海域 (hǎiyù, HN vùngbiển)

5. 溟 míng (HV minh) [M 溟 míng, mǐng, mì (HV minh, mình, mịch) < MC mieŋ < OC *meːŋ, *meːŋʔ | Vềmặt ngữnguyên, các chúgiải cổđiển xem chữ này đồngnhất với 冥 (OC *meːŋ, ‘tối’, ‘đen (của nước)’), cólẽ vì sựsonghành với chữ 海 (OC *hmlɯːʔ, ‘biển’, ‘đạidương’) < 晦 (OC *hmɯːs, ‘tối’). Schuessler (2007) đềxuất rằng có một khảnăng nhỏ chữ này liênquan đến Proto‑Tibeto‑Burman *mlik, từđó có CổMiến မ္လစ် (‘river’), Miếnđiện မြစ် mrac, Rakhine mreik ‘sea’, Daai Chin mlik (tui) ‘big water, river, sea’.]

  • HV minh ‘dark’ (thanhngang, the 1st tone)
  • HN mênh ‘expanse’ (thanhngang, the 1st tone)
  • HN mưa ‘crizzle’ (thanhngang, the 1st tone)
  • HN mình ‘muddle’ (huyền, 1st tone)
  • HN mùng ‘vast’ (huyền, 1st tone)
  • HN mờ ‘indistinct’ (huyền, 1st tone)
  • HN bể ‘sea’ (hỏi, the 3rd tone)
  • HN biển ‘ocean’ (hỏi, the 3rd tone)
  • HN mịch ‘dull’ (nặngnhập, the 8th tone)
  • HN mịt ‘obscure’ (nặngnhập, the 8th tone)

6. 放 fàng (HV phóng) [M 放 fàng < MC pwoŋ < OC *paŋʔ, *paŋs | Theo Starostin: ‘đặt xuống, để qua mộtbên; bỏqua; xuađuổi’. Trong Việtngữ sosánh một từkhẩungữ: phỗng ‘lấymất, bếđi’. | ¶ /f‑ ~ b‑/: vídụ 房 fáng (HV phòng, HN buồng ‘room’).]

  • HN bỏ ‘discard’ (hỏi, tđ‑3, 陰上 yīnshàng ‘high rising’)
  • HN phỗng ‘take away’ (ngã, tđ‑4)
  • HV phóng ‘release’ (sắc, tđ‑5, 陰去 yīnqù ‘high departing’)
  • HN buông ‘let go’ (thanhngang, tđ‑1, 陰平 yīnpíng ‘high level’)
  • HN bắn ‘shoot’ (sắc, tđ‑5)

7. 會 huì (HV hội, cối) [M 會 huì, kuài, guā, guài, huǐ, guì (hội, cối) < MC kwaj, ɦuɑi < OC *ko:bs, *go:bs.]

  • HN hay ‘aware’ (thanhngang, tđ‑1)
  • HN hiểu ‘understand’ (hỏi, tđ‑3); liênquan đến hoặc là biếnthể của QT 曉 xiáo (HV hiểu) ‘know’, ‘understand’,
  • HN đỗi ‘moment’ (ngã, tđ‑4)
  • HN sẽ ‘will’ (ngã, tđ‑4)
  • HV hội ‘festival’ (nặng, tđ‑6, 陽去 yángqù ‘low departing’)
  • HN hụi ‘loan’ (nặng, tđ‑6; vaymượn từ PhúcKiến/Amoy)
  • HN họp ‘meeting’ (nặngnhập, tđ‑8), 陽入 yángrù ‘low entering’)
  • HN hẹn ‘appointment’ (nặng, tđ‑6)

8. 賊 zéi (HV tặc) [M 賊 zéi < MC dzək < OC *zɯːɡ | Ngữnguyên: cóthể thuộc hệ Sino‑Tibetan; sosánh Tạng ཇག jag ‘robbery’ (Coblin 1986). Schuessler (2007) chỉra rằng âm vòmhọng trong Tạng thường không tươngứng với âm không‑palatal trong Hán; ông sosánh với Khmer ឆក់ chɑk ‘snatch; steal’. Dựatrên các vaymượn xưa từ Hánngữ, vídụ Lakkia kjak⁸ ‘bandit’, Rục kəcʌ́ːk ‘bandit’, Baxter–Sagart (2014) phụcnguyên OC với tiềnphụâm *k‑.]

  • HN chích ‘burglar’ (sắcnhập, tđ‑7, 陰入 yīnrù ‘high entering’), vídụ đạochích 盗賊 dàozéi
  • HN cắp ‘steal’ (tđ‑7), vídụ đánhcắp 盗賊 dàozéi
  • HV tặc ‘enemy, bandit’ (nặngnhập, tđ‑8, 陽入 yángrù ‘low entering’) HN giặc ‘enemy’ (tđ‑8)

9. 粉 fén (HV phấn) [M 粉 fěn, fèn < MC pun < OC *pɯnʔ | Phươngngữ Mân: Hảinam hun2, Hạmôn hun2, Triềuchâu huŋ21, Phúcchâu xuŋ2. Theo Starostin: nghĩa muộn (và phổbiến) là ‘flour’. Từ này dùng trong các tổhợp nghĩa ‘noodles’, vìthế cóthể HN bún là một vaymượn độclập từ cùng nguồn. | ¶ /f‑ ~ ph‑, b‑, v‑/.]

  • HN phở ‘noodle soup’ (hỏi, tđ‑3)
  • HV phớn ‘powder’ (sắc, tđ‑5)
  • HN bún ‘rice vermicelli’ (sắc, tđ‑5)
  • HV phấn ‘powder’ (nặng, tđ‑6)
  • HN bột ‘flour’ (nặngnhập, tđ‑8, 陽入 yángrù)
  • HN bụi ‘dust’ (tđ‑8); cóliênquan 灰 huì (HV muội)
  • HN vụn ‘shard’ (tđ‑8)

10. 照 zhào (HV chiếu) [M 照 zhào < MC tɕiɛu < OC *tjews.]

  • HN soi ‘look at the mirror’ (thanhngang, tđ‑1)
  • HN noi ‘follow’ (tđ‑1)
  • HN theo ‘according to’ (tđ‑1)
  • HV chiếu ‘reflect’ (sắc, tđ‑5, 陰去 yīnqù ‘high departing’)
  • HN chói ‘reflect’ (tđ‑5)
  • HN chụp (như trong chụphình ‘take picture’) (nặngnhập, tđ‑8)
  • HN rọi ‘shine’ (nặng, tđ‑6)
  • HN dọi ‘shine’ (nặng, tđ‑6)

11. 染 rǎn (HV nhiễm) [M 染 rǎn, ràn < MC ȵiam < OC *njomʔ, *njoms | Theo Starostin: ‘be soft’. Xuấthiện cuối đời nhàChu, chữ này còn dùng cho một từđồngâm *nam (~‑emʔ) ‘to dye, smear; infect’ (biếnthể *namʔ‑s, MC ɲe\m). HV nhiễm là đọc chuẩn; tồntại vaymượn khẩungữ nhuộm ‘to dye’. Coblin (1986) sosánh với Tạng ཉམས་པ nyams pa ‘be stained’. Pan (1987) nêu Proto‑Tai *ɲuɔmᴬ và Việtngữ nhuộm. Schuessler (2007) theo Downer (1986): dạng thượngthanh là độngtừ, dạng khứthanh là danhtừ ‘loại vải’.]

  • HN lây ‘contagious’ (thanhngang, tđ‑1)
  • HN sang ‘spread a virus’ (tđ‑1)
  • HN lem ‘stain’ (tđ‑1)
  • HV nhiễm ‘contract disease, habit’ (ngã, tđ‑4)
  • HN vẩn ‘smear’ (ngã, tđ‑4) HN nhuốm ‘contract disease’ (sắc, tđ‑5, 陰去 yīnqù)
  • HN nhuộm ‘dye’ (tđ‑5)
  • HN ruộm ‘dye’ (tđ‑5)
  • HN nhẹm ‘tarnish’ (tđ‑5)
  • HN mắc ‘get sick’ (sắcnhập, tđ‑7)

12. 深 shēn (HV thâm) [M 深 shēn (thâm, thẩm) < MC ɕim < OC *hljum, *hljums | Hầu hết phươngngữ đọc /sjəm1/. ¶ /sh‑ ~ đ‑/: vídụ 燒 shāo (HV thiêu, HN đốt). Unger (1995) giảđịnh OC có phụâm đầu n‑ dựa trên 淰 (shěn). Schuessler (2007) phụcnguyên OC nhəm, liênhệ đến nhiều dạng TB: Mizo hniam ‘low’, Burmese နိမ့် nim., Tangkhul kʰənim, Tibetan ནེམས་ nems. STEDT: PST *s‑n(i/u)(ː)p/m ~ r/s‑nyap/m ‘pinch, press, sink, low’. 深 (OC nhəms) là danh hoá với hậutố ‑s (khứthanh). 淰 (OC nhəmʔ) là nộiđộng với ‑ʔ (thượngthanh).]

  • HV thâm ‘profound’ (thanhngang, tđ‑1)
  • HN sâm ‘deep’ (tđ‑1) HN sâu ‘deep’ (tđ‑1)
  • HV thẩm (hỏi, tđ‑3)
  • HN sẫm ‘dark’ (ngã, tđ‑4)
  • HN thắm ‘profound’ (sắc, tđ‑5)
  • HN đậm ‘dark’ (nặng, tđ‑6)
  • HN sậm ‘dark’ (tđ‑6)

13. 扛 káng (HV cang) [M 扛 káng, gāng < MC kaɨwŋ < OC *kroːŋ | sosánh: cõng, gánh, gồng, chống; M 抗 kàng (HV kháng) < MC kʰaŋ < OC *ɡaːŋ, *kʰaːŋs.]

  • HV cang ‘carry’ (thanhngang, tđ‑1)
  • HN khiêng ‘carry on shoulder’ (tđ‑1)
  • HN gồng ‘to shoulder’ (huyền, tđ‑2)
  • HN cõng ‘carry on back’ (ngã, tđ‑4)
  • HN gánh ‘carry on shoulder’ (sắc, tđ‑5, 陰去 yīnqù)

14. 蟲 chóng (HV trùng) [M 蟲 chóng < MC ɖuwŋ < OC *l’uŋ, *l’uŋs | PST *djuŋ ‘insect’. Starostin: ‘insect’, ‘small bird’. Cũng dùng cho từđồngâm *ɬhuŋ ‘be hot (weather)’. HV chuẩn: trùng.]

  • HN giun ‘earthworm’ (thanhngang, tđ‑1)
  • HN sâu ‘insect’ (tđ‑1)
  • HV trùng ‘insect’ (huyền, tđ‑2)
  • HN trùn ‘earthworm’ (tđ‑2)
  • HN sán ‘worm’ (sắc, tđ‑5, 陰去 yīnqù)
  • HN nóng ‘hot’ (tđ‑5)

15. 種 zhǒng (HV chủng) [M 種 zhǒng, zhòng, chóng (chủng, chúng, chùng) < MC tɕiowŋ < OC *tjoŋʔ, *tjoŋs | PST: Chepang tuŋʔ‑ ‘plant’, Nepali duŋ ‘sprout’. Sosánh 腫 (OC *tjoŋʔ), 踵 (OC *tjoŋʔ). Liênquan Proto‑Vietic *k‑coːŋʔ ‘seed’ → HN giống (vay từ Hán). Âm zhòng ‘to plant’ là dẫnxuất ngoạiđộng của zhǒng ‘seed’. Starostin: ‘seeds; cereals’. Cũng đọc *toŋʔ‑s (MC couŋ). Nghĩa ‘kind, sort’ → HN giống. An Chi (2016) đềxuất liênquan ‘trứng’ 蛋 dàn (HV đản), nhưng không phùhợp hệ thống.]

  • HN trồng ‘to plant’ (huyền, tđ‑2; Mand. zhòng)
  • HN dòng ‘breed’ (tđ‑2) HV chủng ‘type’ (hỏi, tđ‑3)
  • HN giống ‘strain’ (sắc, tđ‑5, 陰去 yīnqù)

16. 臭 chòu (HV xú, khưu) [M 臭 chòu, xìu (xú, khưu) < MC tɕʰiəu < OC *kʰljus | Schuessler (2007): đồngnguyên với 犨 (OC *kʰju). Sosánh Burmese ဟိုက် huik ‘pant’. Sosánh 朽 (OC *qʰluʔ). Starostin: MC có đọc xjəw (Mand. xiu), HV khưu phảnánh biếnthể *khiw‑s. VS thiu là phảnxạ khẩungữ; HV chuẩn: xú.]

  • HN hôi ‘smelly’ (thanhngang, tđ‑1)
  • HN ôi ‘rotten’ (tđ‑1)
  • HV khưu ‘smell’ (tđ‑1)
  • HN thiu ‘stale’ (tđ‑1)
  • HN ngửi ‘to smell’ (hỏi, tđ‑3)
  • HN hửi ‘to smell’ (tđ‑3)
  • HN hủi ‘rotten’ (tđ‑3)
  • HV xú ‘bad smell’ (sắc, tđ‑5)
  • HV khứu ‘smelling sense’ (tđ‑5)
  • HN thối ‘foul’ (tđ‑5)
  • HN thúi ‘foul’ (tđ‑5)

17. 按 àn (HV án) [M 按 àn < MC ʔɒn < OC *ʔa:ns | sosánh 案 àn (HV án, HN bàn ‘table’); 安心 ānxīn (HN yêntâm) ~ 放心 fàngxīn (HN vữnglòng). ¶ /Ø‑ ~ y‑, nh‑, b‑, f‑, v‑/.]

  • HN ịn ‘press’ (nặng, tđ‑6)
  • HN nhồi ‘stuff’ (huyền, tđ‑2)
  • HV án ‘press’ (sắc, tđ‑5)
  • HN ấn ‘press’ (tđ‑5)
  • HN nhấn ‘press’ (tđ‑5)
  • HN bấm ‘press’ (tđ‑5)
  • HN nhận ‘stuff’ (nặng, tđ‑6)

18. 利 lì (HV lợi) [M 利 lì (lợi, lị) < MC li < OC *rids | Phươngngữ: Amoy li32, lai32; HảiNam lai32; QuảngĐông lei32. PST *ri:t ‘reap, scrape, cut’. Sosánh Mizo rîit, Gurung wriqba, Burmese ရိတ် rit.]

  • HV lị ‘benefit’ (nặng, tđ‑6)
  • HV lợi ‘advantage’ (tđ‑6)
  • HN lãi ‘profit’ (ngã, tđ‑4)
  • HN lời ‘profit, interest’ (huyền, tđ‑2)
  • HN lẽm ‘sharp’ (ngã, tđ‑4)
  • HN lém ‘witty’ (sắc, tđ‑5)

Bảng mụctừ cóthể cứ tiếptục kéodài, quánhiều để liệtkệ thêm ởđây!

Cũng nên cần chúý rằng danhsách trên giờ chỉ gồm các đơnvị đơnâm. Nếu mỗi đơnvị này được đặt vào các tổhợp tạothành từ songâmtiết, như các từnguyên có thànhtố hìnhvị 海 hǎi nêutrên, thì danhsách sẽ mởrộng đến mức khổnglồ.

Từ bộ vídụ được cốý mởrộng, ba điểm nổibật. Thứnhất, hiệntượng một gốc tạora nhiều biếnâm không chỉcó trong Việtngữ mà còn thấy trong Hánngữ, nơi một chữ cóthể mang nhiều thanhđiệu trong cùng một phươngngữ. Thứhai, các tươngứng giữa thanhđiệu Háncổ và Hán‑Việt rất phongphú và phứctạp, vượtra khỏi phạmvi hạnhẹp của nhóm từ Việtngữ mang thanh hỏi và ngã mà Haudricourt giảđịnh phátsinh từ âmcuối của vần /‑ʔ/ trong một số ngônngữ Môn‑Khmer theo môhình một‑đối‑một. Thứba, và quantrọng nhất, nếu tiếngAnnam cổ chỉ hoàntất hệthống thanhđiệu vào thếkỷ XII như Haudricourt đềxuất, thì khôngthể giảithích các biếnâm Hán‑Việt một‑đối‑nhiều đã hìnhthành từ rấtsớm.

Nhìnchung, biếnđổi thanhđiệu trong từngữ Hán‑Việt xảyra cả theo trục lịchđại lẫn đồngđại. Một chữ Hán cóthể sinhra nhiều dạng Việtngữ, mỗi dạngtừ mang một dạng thanhđiệu riêng. Trườnghợp 墓 mù (grave) chothấy: OC mâg > mã và ma:gs > mả. Kiểuloại này xuấthiện dàyđặc trong các vídụ đã nêura và ở nhiều nơikhác. Hơnnữa, sự phânhoá thanhđiệu thường đikèm phânbiệt ngữnghĩa tinhtế. Vídụ, Việtngữ Phật cho 佛 Fó tồntại songhành với Bụt, là từ cũng nghĩa ‘Buddha’ nhưng nghiêng về trườngnghĩa của HV thánh 聖 shèng và thần 神 shén.

Từđó, giảthiết của Haudricourt chorằng thanhđiệu Việtngữ pháttriển từ trạngthái vôthanh đến bánđịnhhình vào thếkỷ XII rồi mớithành sáu [tám] thanh như nay, tỏra mâuthuẫn nộitại vì nhiều lýdo đã tómlược trước và sẽ phântích sau. Ở giaiđoạn này, chỉcần thấy rằng lýthuyết của ông dựatrên một tiệp nhỏ các tươngứng giữa từvựng cơbản Môn‑Khmer vôthanh và Việtngữ. Nhưng nhiều từcơbản này có đốiứng rõràng trong Hánngữ, một ngônngữ có hệthống thanhđiệu rất pháttriển. Các vídụ như 口, 方, 母, 海 chothấy cáchđọc Việtngữ của chữ Hán, như trong Hán‑Việt, cóthể kiểmchứng qua địnhnghĩa và phảnthiết (反切) trong Khanghi Tựđiển (康熙字典). Xét 母 chẳnghạn:

【說文】蜀人 (ngườiThục) 謂 母 (‘mẹ’) 曰 姐 (‘chế’),齊人 (ngườiTề) 謂 母 曰 嬭 (‘nạ’),又 曰 㜷 (‘mợ’),吳人 (ngườiNgô) 曰 媒 (‘mẹ’)。 【眞臘 風土記】呼 父 為 巴駞, 呼 母 為 米 (‘mẹ’)。 方音 不同,皆 自 母 而變。 又 乳母 亦 曰 母 (‘mụ, vú’)。 【越語】生 三 人, 公 與 之 母 (‘mẹ’)。 又 禽獸 之 牝 皆 曰 母 (‘mái’).

“Thuyếtvăn”: NgườiThục gọi ‘mẹ’ là jie (‘chế’); ngườiTề gọi ‘mẹ’ là nai (‘nạ’); cũng gọi mu (‘mợ’); ngườiNgô gọi mei (‘mẹ’). “Phongtụckí Chânlạp”: gọi ‘cha’ là batuo, gọi ‘mẹ’ là mi (‘mẹ’). Phươngâm khácnhau nhưng đều từ mu [M 母 mǔ, mú, wǔ, wú (mẫu, mô) < MC məw < OC *mɯʔ]. Nhũmẫu cũng gọi là mu (‘mụ’, ‘vú’). “Việtngữ”: sinh ba con, công chia cho mẹ. Nóivề cầmthú, con cái cũng gọi mái.

Những chứngcứ này chothấy độ nớirộng của hệthống thanh‑nghĩa Hán‑Việt, vượtra khỏi phạmvi nhỏhẹp của giảthuyết Haudricourt.

Tácgiả chorằng khôngcần dùng thiếtbị điệntử để đo cườngđộ thanhđiệu khi sosánh thanhđiệu Việtngữ và các phươngngữ Hán. Các tươngứng này cóthể nhậnbiết bằng thínhgiác. Vídụ, QT 入 rù /ʐu⁴/ thểhiện thành /zuː⁵/, trong Hán‑Việt là nhập /ɲəp8/, trong Quảngđông là /jap⁶/. Các dạngtừ này rõràng đồngnguyên về thanhđiệu mà khôngcần đođạc cơhọc. NgườiViệt, cũngnhư các dântộc Taic, có khảnăng nháilại âmthanh tiếngHán với độ chínhxác cao. Vìthế, Việtngữ tươngứng với QT 入 rù /ʐu⁴/, còn nhập /ɲəp8/ tươngứng với Quảngđông dập (biếnthể của /jap⁶/). Trườngthanh và giátrị thanhđiệu nhấtquán, điều mà phầnlớn ngônngữ phi‑Hán khó đạtđược.

Một lýdo thenchốt để bácbỏ giảthuyết Haudricourt về nguồngốc thanhđiệu Việtngữ là hệthống thanhđiệu Việtngữ hiệnnay tươngứng chặtchẽ với hệthống tiếngHán Trungcổ. Điềunày được củngcố bởi sự hìnhthành chín thanhđiệu của Quảngđông (cũng đượcgọilà Đườngthoại 唐話), vốn đã hoàntất từtrước thếkỷ X, đúng vào thờikỳ Annam tách chínhtrị khỏi Trungquốc. Matrận vầnluật Đườngthi, vẫnđược giữ trong thơ Đườngluật Việtnam, xácnhận điềunày (xem Drake; Sung Shee). Trong Việtngữ hiệnđại, thanhđiệu pháttriển thành bốn loại theo hai quãngthanh (truyềnthống tính tám, hay sáu trong chínhtả Latinhhoá hiệnđại, bỏ hai thanhnhập 入聲 mà các họcgiả xưa cảmứng bằng tai chứ khôngphải bằng mắt như ngườiViệt nhìnthấy cáchviết trong chínhtả ngàynay). Điềuđángchúý, khi sosánh với chín thanhđiệu tiếng Quảngđông, độ mạnhyếu thanhđiệu gần như trùngkhớp, với thanh thứchín tươngứng các âmtiết Việt kếtthúc bằng /‑p/, /‑t/, /‑k/, /‑ch/ đọc bằng thanhngang (thanhbằng).

Câuhỏi thanhđiệu là tiếpthu hay thừakế cóthể giảithích bằngcách sosánh. Nhật và Hàn, như Việt, vaymượn sốlượng lớn từ Hán. Nhưng dù tiếpnhận có chủđích, họ khônggiữ thanhđiệu. Nhật bắtđầu cử lưuhọcsinh sang Đại Đường từ thếkỷ IX, tiếpnhận Hánvăn và các hệ đọc Kan‑on, Tō‑on, Go‑on, nhưng khôngcó thanhđiệu (Bo Yang 1983). Hàn cũng tiếpnhận lượng lớn từ Hán, nhấtlà thời nhàMinh, nhưng cũng khôngcó thanhđiệu (An Chi, q.3, tr.284). Điềunày chothấy thanhđiệu khôngphải sảnphẩm của tiếpthu mà của thừakế. Không ngônngữ nào cóthể vaymượn thanhđiệu mộtcách máymóc. Tươngtự, các từ Hán vay vào Anhngữ trong côngnghệ, sinhhọc, thươngmại không mang thanhđiệu. Các từ Việt vay vào tiếngAnh cũng vôthanh (Vietcong, Vietminh, Ho Chi Minh, Nu‑yen [Nguyen], bunmee, banhmi, aodai, pho, dong), củngcố luậnđiểm này. Ngượclại, các từ tiếng Anh, Pháp vaymượn vào tiếng Hán và Việt đềuđược thanhđiệuhoá.

V) Quanđiểm sosánh và phêbình

NamÁ Mon‑Khmer là ngữhệ vôthanhđiệu, trongkhi Hán, Việt, và Mường là ngônngữ có thanhđiệu, cũngnhư các ngữ liênquan như Tai‑Kadai (Tày-Nùng), Thái, Lào, H’mông. Quanđiểm NamÁ chorằng nhiều từnguyên Việt–Mon‑Khmer có gốc từ Mon‑Khmer là nềntảng cho lýthuyết hìnhthành thanhđiệu của Haudricourt. Ông lậpluận rằng Việtngữ vốn vôthanh, phátsinh từ Mon‑Khmer, và chỉ vềsau mớicó thanhđiệu. Tácgiả đềxuất điều ngượclại: các từ Việt vay sang Mon‑Khmer trởthành vôthanh qua ngãđường Mon‑Khmer tiếpxúc với các phươngngôn Mường. Khôngthể tạolại thanhđiệu, người Mon‑Khmer xoábỏ chúng và bùđắp lại bằng các điềuchỉnh ngữâm khác. Lâudần, điềunày tạora các môhình như {~ → ʔ}. Cách giảithích này hợplý hơn giảđịnh rằng thanhđiệu được sinhra từ hưvô trong Việtngữ.

Maspero thựctế đúng khi khẳngđịnh rằng thanhđiệu khôngthể tiếpthu. Hán và Việt phải đãcó hệthống thanhđiệu đầyđủ, vì Việtngữ đã tiếpthu từ Hán từ rấtsớm, đặcbiệt từ tiếngHán Trungcổ thời Đường, khi quanlại Annam ở Trườngan dùng cùng một thứ Quanthoại với người Hán. Hán‑Việt chỉ là biếnthể của âm tiếngHán Trungcổ đời nhàĐường (Nguyễn Tài Cẩn 2000). Vì thanhđiệu là hìnhvị gắn trong từng âmtiết, khôngthể tưởngtượng rằng người Việtnam xưa vaymượn từvựng từ thờiđó và không mang thanhđiệu. Chấpnhận niênđại của Haudricourt đồngnghĩa với việc tinrằng từ Hán Trungcổ đivào Việtngữ bị tướcbỏ thanhđiệu như trong tiếng Nhật và Hàn — điều philý.

Khôngthể chấpnhận rằng thanhđiệu Việtngữ chỉ xuấthiện vào thếkỷ XII. Điềunày philý và trái chứngcứ. Điểm thenchốt là âm và nghĩa đã được phânbiệt bởi ítnhất bốn loại thanhđiệu trong Háncổ: (1) bình, (2) trầm‑bình, (3) khứ, (4) trầm‑khứ. Điều này phùhợp với các trườnghợp như 墓 (mô, mồ, mộ) và 母 (me, mẹ, mái). Như đã nêura, từngữ Annam cổ chịu Hánhoá mạnh đã chothấy phầnlớn từ Việt phảicó thanhđiệu đồngthời với Háncổ. Thời Đông-Hán (東漢 25–220), Tháithú Sĩ Nhiếp (士攝 187–226) lập họcđường và quảngbá Hánhọc ở Giaochỉ, nâng việc họctập Hánngữ lên mức chưa từng có. Điềunày chothấy Hánngữ đã bénrễ ở Annam ítnhất 250 năm kểtừkhi NamViệt bị sápnhập năm 111 TCN.

Từngữ Annam cổ phảicó tám thanhđiệu giốngnhư tiếngHán cuối thời nhàĐường, vídụ: vuông ~ 方 fāng → HV phương; buồng ~ 房 fáng → HV phòng; buông ~ 放 fàng → HV phóng; HV phỏng → 仿 fǎng. Ở giaiđoạn banđầu, phụâm đầu môi‑răng /v‑/ và /f‑/ chưa tồntại, nên vuông cóthể là buông, và phóng liênquan đến bắn, giốngnhư buồng tươngứng với phòng, nếukhông nhiều dạngtừ sẽ đồngâm rấtkhó mà phânbiệt ngữâm-ngữnghĩa.

VI) Hệquả đốivới sựhìnhthành thanhđiệu

Thanhđiệu Việtngữ như vừa thừakế vừa tựsinh; những gợiý phươngpháp.

Nếu loạibỏ thanhđiệu khỏi các từ Hán‑Việt có gốc Háncổ, các dạngtừ sẽ sụpđổ vì đồngâm, khác với Kan‑on trong Nhật, nơi thanhđiệu khôngđược tiếpthu. Vídụ, tiếngNhật ichi cho 一 /yi¹/ đốilập với Hán‑Việt nhất và QuảngĐông jat⁵. Chứngcứ Việtngữ chothấy điều ngượclại: thanhđiệu được thừakế trựctiếp từ Háncổ và Trungcổ. Thiếu chúng, phânbiệt nghĩa sẽ suygiảm mạnh, như trong các từ mang /yáng/: dê (羊 yáng, HV dương), giông (颺 yáng, HV dương), rượng (痒 yáng, HV dương), nắng (暘 yáng, HV dương).

Trườnghợp tiếngNhật càng chothấy điểmyếu của Haudricourt. Ông cho rằng thanhđiệu phátsinh từ đốilập hìnhvị, nhưng Nhật và Hàn, dù vaymượn khổnglồ từ Hán, khônghề tiếpthu thanhđiệu. Việtngữ thì có, chothấy thừakế chứkhôngphải sángtạo. Xét các từ như mặc, chồmhỗm, chànghãng — thường gáncho Mon‑Khmer. Dù gốc cóthể là /pec/, /chrohom/, /choho/, hệthống thanhđiệu mà chúng nằmtrong là thuần Việt. Nộitại, đốilập thanhđiệu rất rõ: mặc, mắc, mắt, mặt… Ngaycả khi không ghidấu, ngườiViệt vẫn tựđộng cungcấp thanhđiệu, giốngnhư người Quảngđông với các thanhnhập /‑p/, /‑t/, /‑k/, /‑ch/.

Haudricourt cũng bỏqua nhiều từ Việt mang thanhsắc [5] và thanhnặng [6] phânbiệt nghĩa tinhvi: mô ~ mộ, me ~ mẹ, tan ~ tán. Vìthế, luậnđiểm rằng Việtngữ chỉ trởthành có thanhđiệu sau thếkỷ XII không phảnánh thựctế: thanhđiệu Việtngữ pháttriển songhành với Hánngữ, từ Háncổ đến Trungcổ, như hồsơ ngữâm chothấy. Quỹđạo này phùhợp với các ngônngữ Hoanam khác.

Vì họcgiả Annam tiếpthu Quanthoại — tiếngnói quan trường— liêntục từ đầu Côngnguyên đến ítnhất năm 939, khôngthể tưởngtượng rằng tiếngAnnam thời ấy lại vôthanhđiệu. Tiếng Annamcổ phải đã cóđủ tám thanh của tiếngHán Trungcổ truớc thếkỷ X rấtlâu.

Khôngcógìlạ khi một nhàngônngữ châuÁ viết về tiếngAnh. Nhưng khi một nhàngônngữ phươngTây viết về Việtngữ, nó được xem như hiệntượng. Tìnhhuống này gầnnhư hàihước, giống các chươngtrình VTV, CTV, YouTube, nơi khángiả reohò khi một sinhviên Tây lên sânkhấu kể vài câuchuyện bằng Việtngữ hay Hánngữ.

Điềugì giảithích sựhồhởi của nhiều chuyêngia Việtnam đốivới Haudricourt? Mộtphần do tâmthế vănhóa lâudài: vì cảmgiác tựti, tríthức Việt thường tỏra ngưỡngmộ quámức với ngườiTây nóiđược chút tiếngViệt. Điều đượcxemlà “cởimở với phươngpháp khoahọc phươngTây” thựcchất cũng là niềm hãnhdiện rằng ngônngữ của họ được chúý, một tâmthế vừa tựtôn vừa tựti.

Thựctế, phầnlớn nhàngônngữ phươngTây chỉcó trìnhđộ Việtngữ hạnchế và dựa chủyếu vào dữliệu. Một số đạtmức thànhthạo kỹthuật, nhưng thiếu “cảmgiác ngônngữ”. Hãy tưởngtượng: một nhàngônngữ Tây côngbố một giảthuyết về Việtngữ, và ngay lậptức một dàn người hâmmộ trongnước reohò như nướcvỡbờ “wow” và “hooray”.

Ngaycả các liệtkê của Haudricourt, như Shafer (1972) trích và bàn trong Những Tươngứng Việtngữ với Ngữhệ Hán‑Tạng, cũng gợi sựnghingờ về khảnăng phânbiệt Hán‑Nôm và Hán‑Việt của ông. Việc ông nhầm HN (đúng phải là mả) với HV mộ là vídụ điểnhình. Họctrò ông lặplại saisót này, và nó không bị pháthiện vì giảthuyết phùhợp với khôngkhí họcthuật lúc bấygiờ. Đếnnay, mộtsố họcgiả phươngTây vẫn lặplại các saisót tươngtự (xem Ding Bangxin 1977, tr.263).

Vềmặt lịchsử, đến thếkỷ IX, Việtnam đã là trungtâm lớn ngoài Trungquốc sảnsinh nhiều thinhân giỏi thơ Đường. Khôngthể có chuyện một ngônngữ vôthanhđiệu lại cóthể xúccảm và thaotác thơ Đường (xem Drake, 1967). Đếnnay, nhiều thisĩ Việt vẫn sángtác theo thể Đườngthi, và việc ngâmthơ vẫn phổbiến — điều mà chính Trungquốc nói nó sảnsinh hiệnnay lại ít người biết hơn.

Liệucó đúng rằng Việtngữ vốn vôthanhđiệu, hay chỉcó hai hoặc ba thanhđiệu như mộtsố ngônngữ Mon‑Khmer, như Haudricourt đềxuất cho thếkỷ XII? Với nhiều ngườiViệt, khó chấpnhận rằng các dânca, tụcngữ, thànhngữ giàu thanhđiệu từ cổđại lại từng vôthanhđiệu. Mỗi từ Việt đều gắnvới một từnguyên Hán‑Nôm, khiến giảthuyết vôthanh trởnên bấtkhả (xem Từnguyên Hán-Nôm để tìmhiểu làm bàitập.) Thídụ:

  • Bốcái Ðạivương;
  • Con dại cái mang;
  • Gậtđầu lắccái;
  • Chácđược củarẻ;
  • Chồng chúa vợ tôi;
  • Cõng rắn cắn gà nhà;
  • Giặc đến nhà đànbà phải đánh;
  • Ăn coi nồi, ngồi coi hướng;
  • Một miếng khi đói bằng một gói khi no;
  • Nghèo cho sạch, rách cho thơm;
  • Giấy rách phải giữ lấy lề;
  • Nghêdại chẳng hay cóc;
  • Tiên học lễ, hậu học văn;
  • Đi một đàng, học một sàng khôn;
  • Bỏ thì thương, vương thì tội;
  • Không mợ thì chợ vẫn đông;
  • Có mống tựnhiên lại có cây;
  • Rán đàngđông vừa trông vừa chạy;
  • Nựccười châuchấu đáxe;
  • Bàcon xa khôngbằng lánggiềng gần;
  • Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho ngào;
  • Cảnh cũ non quê nhặt chốc mòng;
  • Quântử hãy lăm bền chí cũ;
  • Cổ tới nhẫnkim, sinh thời có hoá;
  • Thà làmquỷ nướcNam cònhơn làmvua nướcBắc;
  • Bầu ơi thươnglấy bí cùng, người trong một nước phải thươngnhau hoài;
  • Nhiễuđiều phủlấy giágương, người trong một nước phải thươngnhau cùng,

V) Quanđiểm sosánh và phêbình

NamÁ Mon‑Khmer là ngữhệ vôthanhđiệu, trongkhi Hán, Việt, và Mường là ngônngữ có thanhđiệu, cũngnhư các ngữ liênquan như Tai‑Kadai (Tày-Nùng), Thái, Lào, H’mông. Quanđiểm NamÁ chorằng nhiều từnguyên Việt–Mon‑Khmer có gốc từ Mon‑Khmer là nềntảng cho lýthuyết hìnhthành thanhđiệu của Haudricourt. Ông lậpluận rằng Việtngữ vốn vôthanh, phátsinh từ Mon‑Khmer, và chỉ vềsau mớicó thanhđiệu. Tácgiả đềxuất điều ngượclại: các từ Việt vay sang Mon‑Khmer trởthành vôthanh qua ngãđường Mon‑Khmer tiếpxúc với các phươngngôn Mường. Khôngthể tạolại thanhđiệu, người Mon‑Khmer xoábỏ chúng và bùđắp lại bằng các điềuchỉnh ngữâm khác. Lâudần, điềunày tạora các môhình như {~ → ʔ}. Cách giảithích này hợplý hơn giảđịnh rằng thanhđiệu được sinhra từ hưvô trong Việtngữ.

Maspero thựctế đúng khi khẳngđịnh rằng thanhđiệu khôngthể tiếpthu. Hán và Việt phải đãcó hệthống thanhđiệu đầyđủ, vì Việtngữ đã tiếpthu từ Hán từ rấtsớm, đặcbiệt từ tiếngHán Trungcổ thời Đường, khi quanlại Annam ở Trườngan dùng cùng một thứ Quanthoại với người Hán. Hán‑Việt chỉ là biếnthể của âm tiếngHán Trungcổ đời nhàĐường (Nguyễn Tài Cẩn 2000). Vì thanhđiệu là hìnhvị gắn trong từng âmtiết, khôngthể tưởngtượng rằng người Việtnam xưa vaymượn từvựng từ thờiđó và không mang thanhđiệu. Chấpnhận niênđại của Haudricourt đồngnghĩa với việc tinrằng từ Hán Trungcổ đivào Việtngữ bị tướcbỏ thanhđiệu như trong tiếng Nhật và Hàn — điều philý.

Khôngthể chấpnhận rằng thanhđiệu Việtngữ chỉ xuấthiện vào thếkỷ XII. Điềunày philý và trái chứngcứ. Điểm thenchốt là âm và nghĩa đã được phânbiệt bởi ítnhất bốn loại thanhđiệu trong Háncổ: (1) bình, (2) trầm‑bình, (3) khứ, (4) trầm‑khứ. Điều này phùhợp với các trườnghợp như 墓 (mô, mồ, mộ) và 母 (me, mẹ, mái). Như đã nêura, từngữ Annam cổ chịu Hánhoá mạnh đã chothấy phầnlớn từ Việt phảicó thanhđiệu đồngthời với Háncổ. Thời Đông-Hán (東漢 25–220), Tháithú Sĩ Nhiếp (士攝 187–226) lập họcđường và quảngbá Hánhọc ở Giaochỉ, nâng việc họctập Hánngữ lên mức chưa từng có. Điềunày chothấy Hánngữ đã bénrễ ở Annam ítnhất 250 năm kểtừkhi NamViệt bị sápnhập năm 111 TCN.

Từngữ Annam cổ phảicó tám thanhđiệu giốngnhư tiếngHán cuối thời nhàĐường, vídụ: vuông ~ 方 fāng → HV phương; buồng ~ 房 fáng → HV phòng; buông ~ 放 fàng → HV phóng; HV phỏng → 仿 fǎng. Ở giaiđoạn banđầu, phụâm đầu môi‑răng /v‑/ và /f‑/ chưa tồntại, nên vuông cóthể là buông, và phóng liênquan đến bắn, giốngnhư buồng tươngứng với phòng, nếukhông nhiều dạngtừ sẽ đồngâm rấtkhó mà phânbiệt ngữâm-ngữnghĩa.

VI) Hệquả đốivới sựhìnhthành thanhđiệu

Thanhđiệu Việtngữ như vừa thừakế vừa tựsinh; những gợiý phươngpháp.

Nếu loạibỏ thanhđiệu khỏi các từ Hán‑Việt có gốc Háncổ, các dạngtừ sẽ sụpđổ vì đồngâm, khác với Kan‑on trong Nhật, nơi thanhđiệu khôngđược tiếpthu. Vídụ, tiếngNhật ichi cho 一 /yi¹/ đốilập với Hán‑Việt nhất và QuảngĐông jat⁵. Chứngcứ Việtngữ chothấy điều ngượclại: thanhđiệu được thừakế trựctiếp từ Háncổ và Trungcổ. Thiếu chúng, phânbiệt nghĩa sẽ suygiảm mạnh, như trong các từ mang /yáng/: dê (羊 yáng, HV dương), giông (颺 yáng, HV dương), rượng (痒 yáng, HV dương), nắng (暘 yáng, HV dương).

Trườnghợp tiếngNhật càng chothấy điểmyếu của Haudricourt. Ông cho rằng thanhđiệu phátsinh từ đốilập hìnhvị, nhưng Nhật và Hàn, dù vaymượn khổnglồ từ Hán, khônghề tiếpthu thanhđiệu. Việtngữ thì có, chothấy thừakế chứkhôngphải sángtạo. Xét các từ như mặc, chồmhỗm, chànghãng — thường gáncho Mon‑Khmer. Dù gốc cóthể là /pec/, /chrohom/, /choho/, hệthống thanhđiệu mà chúng nằmtrong là thuần Việt. Nộitại, đốilập thanhđiệu rất rõ: mặc, mắc, mắt, mặt… Ngaycả khi không ghidấu, ngườiViệt vẫn tựđộng cungcấp thanhđiệu, giốngnhư người Quảngđông với các thanhnhập /‑p/, /‑t/, /‑k/, /‑ch/.

Haudricourt cũng bỏqua nhiều từ Việt mang thanhsắc [5] và thanhnặng [6] phânbiệt nghĩa tinhvi: mô ~ mộ, me ~ mẹ, tan ~ tán. Vìthế, luậnđiểm rằng Việtngữ chỉ trởthành có thanhđiệu sau thếkỷ XII không phảnánh thựctế: thanhđiệu Việtngữ pháttriển songhành với Hánngữ, từ Háncổ đến Trungcổ, như hồsơ ngữâm chothấy. Quỹđạo này phùhợp với các ngônngữ Hoanam khác.

Vì họcgiả Annam tiếpthu Quanthoại — tiếngnói quan trường— liêntục từ đầu Côngnguyên đến ítnhất năm 939, khôngthể tưởngtượng rằng tiếngAnnam thời ấy lại vôthanhđiệu. Tiếng Annamcổ phải đã cóđủ tám thanh của tiếngHán Trungcổ truớc thếkỷ X rấtlâu.

Khôngcógìlạ khi một nhàngônngữ châuÁ viết về tiếngAnh. Nhưng khi một nhàngônngữ phươngTây viết về Việtngữ, nó được xem như hiệntượng. Tìnhhuống này gầnnhư hàihước, giống các chươngtrình VTV, CTV, YouTube, nơi khángiả reohò khi một sinhviên Tây lên sânkhấu kể vài câuchuyện bằng Việtngữ hay Hánngữ.

Điềugì giảithích sựhồhởi của nhiều chuyêngia Việtnam đốivới Haudricourt? Mộtphần do tâmthế vănhóa lâudài: vì cảmgiác tựti, tríthức Việt thường tỏra ngưỡngmộ quámức với ngườiTây nóiđược chút tiếngViệt. Điều đượcxemlà “cởimở với phươngpháp khoahọc phươngTây” thựcchất cũng là niềm hãnhdiện rằng ngônngữ của họ được chúý, một tâmthế vừa tựtôn vừa tựti.

Thựctế, phầnlớn nhàngônngữ phươngTây chỉcó trìnhđộ Việtngữ hạnchế và dựa chủyếu vào dữliệu. Một số đạtmức thànhthạo kỹthuật, nhưng thiếu “cảmgiác ngônngữ”. Hãy tưởngtượng: một nhàngônngữ Tây côngbố một giảthuyết về Việtngữ, và ngay lậptức một dàn người hâmmộ trongnước reohò như nướcvỡbờ “wow” và “hooray”.

Ngaycả các liệtkê của Haudricourt, như Shafer (1972) trích và bàn trong Những Tươngứng Việtngữ với Ngữhệ Hán‑Tạng, cũng gợi sựnghingờ về khảnăng phânbiệt Hán‑Nôm và Hán‑Việt của ông. Việc ông nhầm HN (đúng phải là mả) với HV mộ là vídụ điểnhình. Họctrò ông lặplại saisót này, và nó không bị pháthiện vì giảthuyết phùhợp với khôngkhí họcthuật lúc bấygiờ. Đếnnay, mộtsố họcgiả phươngTây vẫn lặplại các saisót tươngtự (xem Ding Bangxin 1977, tr.263).

Vềmặt lịchsử, đến thếkỷ IX, Việtnam đã là trungtâm lớn ngoài Trungquốc sảnsinh nhiều thinhân giỏi thơ Đường. Khôngthể có chuyện một ngônngữ vôthanhđiệu lại cóthể xúccảm và thaotác thơ Đường (xem Drake, 1967). Đếnnay, nhiều thisĩ Việt vẫn sángtác theo thể Đườngthi, và việc ngâmthơ vẫn phổbiến — điều mà chính Trungquốc nói nó sảnsinh hiệnnay lại ít người biết hơn.

Liệucó đúng rằng Việtngữ vốn vôthanhđiệu, hay chỉcó hai hoặc ba thanhđiệu như mộtsố ngônngữ Mon‑Khmer, như Haudricourt đềxuất cho thếkỷ XII? Với nhiều ngườiViệt, khó chấpnhận rằng các dânca, tụcngữ, thànhngữ giàu thanhđiệu từ cổđại lại từng vôthanhđiệu. Mỗi từ Việt đều gắnvới một từnguyên Hán‑Nôm, khiến giảthuyết vôthanh trởnên bấtkhả (xem Từnguyên Hán-Nôm để tìmhiểu làm bàitập.) Thídụ:

  • Bốcái Ðạivương;
  • Con dại cái mang;
  • Gậtđầu lắccái;
  • Chácđược củarẻ;
  • Chồng chúa vợ tôi;
  • Cõng rắn cắn gà nhà;
  • Giặc đến nhà đànbà phải đánh;
  • Ăn coi nồi, ngồi coi hướng;
  • Một miếng khi đói bằng một gói khi no;
  • Nghèo cho sạch, rách cho thơm;
  • Giấy rách phải giữ lấy lề;
  • Nghêdại chẳng hay cóc;
  • Tiên học lễ, hậu học văn;
  • Đi một đàng, học một sàng khôn;
  • Bỏ thì thương, vương thì tội;
  • Không mợ thì chợ vẫn đông;
  • Có mống tựnhiên lại có cây;
  • Rán đàngđông vừa trông vừa chạy;
  • Nựccười châuchấu đáxe;
  • Bàcon xa khôngbằng lánggiềng gần;
  • Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho ngào;
  • Cảnh cũ non quê nhặt chốc mòng;
  • Quântử hãy lăm bền chí cũ;
  • Cổ tới nhẫnkim, sinh thời có hoá;
  • Thà làmquỷ nướcNam cònhơn làmvua nướcBắc;
  • Bầu ơi thươnglấy bí cùng, người trong một nước phải thươngnhau hoài;
  • Nhiễuđiều phủlấy giágương, người trong một nước phải thươngnhau cùng,

và cứthế, với hàngtrăm lối thànhngữ dângian tươngtự, mà các vầnđiệu và kếtcấu vănhoá hoặc trữtình của chúng hiểnnhiên chứngtỏ chothấy chúng ắtphải đã tồntại rấtlâu truớc thếkỷ mườihai, dẫu mộtvài thídụ chỉđược ghinhận muộnhơn trong các tácphẩm thếkỷ mườibốn. Trong những thếkỷ tiềnkỳ thờiấy, ngườiViệt chẳngnhững tiếpnhận thứ tiếng Quanthoại của giới quanlại Trunghoa — từ đời Hán đến Đường, hìnhthành cơsở của tầng Hán‑Việt — màcòn sángtác vănbản vầnđiệu và thica có mức vănhọc điêuluyện đángkể (Drake, F.S., ed. 1967, ibid.). Liệu cóthểnào đạtđược những thànhtựu nhưthế nếu lờinói của họ vẫn còn giữgiọng vôthanhđiệu như tiếng Khmer? Nếunhư vậy, họ sẽ xưnghô thếnào với vị côngchúa khảái Huyềntrân? Và các danhxưng lịchsử thuởấy đãđược phátâm như thếnào?

Tácgiả vìthế tháchthức các nhàhọcgiả Mon‑Khmer thuộc khối NamÁ hãy thử phụcdựng dù chỉ một phầnnhỏ những truyệnkể dângian, thànhngữ, tụcngữ ấy bằng một giảđịnh từvựng vôthanh — trongđó nhiều từ Việt hiểnnhiên đồngnguyên với các từ Hán — chẳnghạn như lárụngvềcội (落葉歸根 luòyèguīgēn, HV lạcdiệpquycăn, “lárụngvềcội”) hoặc bỏlàngquêxưa (背井離鄉 bèijǐnglíxiāng, HV bộitỉnhlyhương, “rờibỏlàngquê”). Tómlại, khôngthể quanniệm rằng tiếngViệt cổ còn bán vôthanh mãitới thếkỷ XII.

Kẻorằng bấtcứ nhàngônngữhọc Việtnam đươngđại nào quênmất, hoặc khôngthể cảmnhận được những lờinói dễdàng trên, thì họ trướchết phải đàosâu trithức về tiếngViệt, trướckhi dám viết điềugì nghiêmtúc về ngônngữ này. Hơnthếnữa, erằng những ngườimới nhậpmôn bị dẫndắt lạclối, chúngta phải nhắcnhở để họ không lại dẫmlên những lốimòn của các bậc tiềnbối trong Việtngữhọc, những lối mờmịt chekhuất lốivào các từnguyên Hán‑Tạng và tầng Hánhoá ápđảo trong tiếngViệt hiệnđại.

Xétriêng về luậnđiểm của Haudricourt rằng tám thanhđiệu tiếngViệt chỉ được hoànchỉnh vào thếkỷ XII: quanđiểm ấy khóthể tinđược. Thậtkhó hìnhdung rằng hệthống thanhđiệu lại chỉ đạtđến độ viênmãn saukhi nướcViệt đã giànhđược độclập hơn hai thếkỷ. Nếu lýthuyết của ông đặt sựhìnhthành thanhđiệu lùivề tận thếkỷ thứhai trướccôngnguyên, thờikỳ mà thanh thứba và thứtư trong cổHánngữ đang bắtđầu biếnhoá, thì cólẽ còn khảtín hơn.

Thựctế, thanh huyền [`] và thanh sắc [´] của tiếngViệt cótrước các đốiứng đồngnguyên qua hai thanhđiệu trong lớp Hán‑Việt, và điềuấy chothấyrằng vào thờikỳ đó toànbộ hệthống thanhđiệu (từ thanh 1 đến 4, mỗi thanh chiathành 2 quãng thanh, thượngđẳng và hạđẳng) đã hiệnhữu trọnvẹn. Các thídụ gồm:

Bảng 1 – Đốilập thanhđiệu sớm (tiền Đường)

Cặp tiếngViệtGiátrị thanhđiệuHánPinyin    Gloss
mồi (lower 1st = modern 2nd) sovới
môi (upper 1st = modern 1st)
huyền sv. ngang    煤    méi    coal
mối (upper 3rd = modern 5th) sv.
môi (upper 1st)
hỏi sv. ngang    媒    méi    go‑between
dì (2nd) sv. di (1st)huyền vs. ngang    姨    yí    aunt
lấm (5th) sv. lâm (1st)hỏi sv. ngang    淋        lín    soak

Bảng 2 – Bảng 8 thanhđiệu hoànthiện (cuối đời nhàĐường)

Cặp tiếngViệt        Giátrị thanhđiệuHánPinyin    Gloss
dâm (1st) sv. dầm (2nd)        ngang sv. huyền        淫yín    wet
mả (3rd) sv.  (4th)        hỏi sv. ngã    墓    tomb
bố (5th) sv. phụ (6th)        sắc sv. nặng    父    father
mắt (7th) sv. mục (8th)        sắcnhập sv. nặngnhập    目    eye

Bảng 3 – Quãngthanh táchđôi

Cặp tiếngViệt        Quãngthanh đốiứng        Hán    Pinyin  Gloss
buồng sv. phòng    voiced sv. voiceless initials            房    fáng    room
đục sv. trọc    voiced sv. voiceless initials            濁    zhuó    murky

Về vấnđề rộnglớnhơn liênquan đến việc phânbiệt ngônngữ “cóthanhđiệu” hay “khôngthanhđiệu”, cóthể giảđịnh mộtcách hợplý rằng phầnlớn các ngônngữ nhânloại khởiđầu bằng những lờinói đơnthuần, rồi vềsau mớipháttriển thành hệthống thanhđiệu hoặc các chùm phụâm phứctạp (kl‑, kr‑, bl‑, v.v.). Điềunày hiểnnhiên trong các ngônngữ hệ Daic (Tày) ở Hoanam hoặc trong tiếng Tạng Lhasa hữuthanh (xem Ding Bangxin, ibid., 1977, tr. 263), tráingược với tính đơnâm của Háncổ hoặc Việtcổ (l‑, s‑, tr‑, v.v.), vốn vềsau phânhoá thành thanhđiệu trong tiếng Hán‑Việt và Trungcổ. Nếu tiếngViệt thựcsự pháttriển từ một gốc Mon‑Khmer thuần vôthanh, thì nhiều từ Mon‑Khmer thừakế lẽra phải cònlại vôthanh. Thếnên, trong tiếngViệt chúng đều hữuthanh, và điềuấy đặtra câuhỏi: vìsao lại thêm thanhđiệu nếu chúng không cầnthiết? Sựtồtại của các đốiứng thanhđiệu trong hàngchục cặp đồngnguyên Mon‑Khmer–Việt chứngtỏ điều ngượclại. Khôngthể quanniệm rằng các điệukhúc dânca, tụcngữ, và truyềnthống trữtình kêtrên đậmchất thanhđiệu của ngườiViệt từngđược diễnxướng bằng một lối vôthanh phẳnglặng.

Như đã bìnhluận ởtrên, lýthuyết của Haudricourt dườngnhư đảongược tiếntrình thựcsự: khôngphải tiếngViệt pháttriển thanhđiệu muộn, mà chính các ngônngữ Mon‑Khmer đã đánhmất chúng. Giảđịnh của ông khôngtính đến các đườngnét thanhđiệu trong nhiều từ Việt hiểnnhiên đồngnguyên với các từ Hán. Khốilượng từvựng gốcHán trong tiếngViệt ở mọigiaiđoạn lịchsử đã đủ để chứngminh rằng lýthuyết của ông cầnđược điềuchỉnh. Giống như các ngônngữ hậu‑BáchViệt (Yue‑descendant) khác (Nùng, Tráng, Tày, v.v.), thanhđiệu tiếngViệt pháttriển songhành với tiếngHán, bắtđầu từ trước thời nhàHán và tiếptục suốt một thiênniênkỷ Hánhoá sau năm 111 trướccôngnguyên. Trong giaiđoạn này, thanhđiệu tiếngViệt hìnhthành trong vànhđai ngônngữ Hán, thểhiện qua các từnguyên đồnggốc trong vùng.

Từ năm 111 trướccôngnguyên đến năm 939 saucôngnguyên, Việtnam trảiqua thờikỳ đôhộ dàidẳng xenlẫn các khoảngđoạn tựchủ ngắnngủi, phảnánh sựthịnhsuy của các triềuđại Trunghoa. Lịchsử này chothấyrằng thanhđiệu tiếngViệt khôngbaogiờ là một hiệntượng côlập, mà thuộc cùng một trục pháttriển với tiếng Háncổ và Hán Trungcổ. Nếu giảthuyết của Haudricourt đúng, thì mọi ngônngữ Mon‑Khmer cũng phải trởthành hữuthanh. Thếnhiên, chỉ vài ngônngữ pháttriển hai hoặc ba thanh, tươngtự cổHánngữ thời Hán với ba đườngngữđiệu cơbản: bình, cao, thấp. Tráingược lại, tiếngViệt đã thừakế và pháttriển một hệthống thanhđiệu hoànchỉnh từlâu truớc thếkỷ mườihai.

Sosánh thêm: chỉ trong chưađầy ba thếkỷ đôhộ Tâybannha tại ChâuMỹ Latinh, cưdân bảnđịa đã trởthành thiểusố, trongkhi các cộngđồng laichủng nói tiếng Tâybannha trởthành đasố. Thựctế lịchsử này được nhắclại ởđây như một lờinhắnnhủ nhằm mụcđích khơidậy những tưduy dântộcchủnghĩa còn lờđờ, khiến họ phải xemxét lại giảđịnh của mình.

Trong thựctế, phầnlớn ngườinói Mon‑Khmer thường trunghoà hoặc lượcbỏ thanhđiệu trong các từ vaymượn tiếngViệt, như cóthể nghe thấy trong giọng Việt pha Mon‑Khmer ở các tỉnh cựcNam và vùng caonguyên phíaTây. Ngược lại, ngườikinh luôn ápđặt thanhđiệu lên mọi từvaymượn. Điềunày thểhiện rõ trong các từvaymượn từ tiếng Pháp và Anh như xìcăngđan (‘scandal’), xìtăngđa (‘standard’), hoặc quánhhtùtì (‘one, two, three’). Cùng một cơchế ấy giảithích việc thanhđiệuhoá các từ Mon‑Khmer chỉđịnh vật địaphương như bòhóc (‘prahok’), sàrông (‘sarong’) và các địadanh như Buônmêthuột, Đắklắk, Đàlạt.

Nếu các cặp đồngnguyên Mon‑Khmer và Việt thựcsự cùng chiasẻ một gốc ngônngữ và một hệthống âmvị, thì ngườibảnngữ đã dùng chúng mà khôngcần biếndạng, giốngnhư ngườinói tiếng Thái, Lào, hoặc Hmông dùng các từ đồngnguyên trong hệ Daic (Tày) mà không thêm đặctrưng âmvị ngoạilai. Nói cáchkhác, nếu tiếngViệt vốn là một ngônngữ vôthanh kiểu Mon‑Khmer, thì ngườinói đã khôngcần “gắnthêm” thanhđiệu vào các từ vaymượn để bùđắp cho sự thiếuvắng thanhđiệu. Vìlýdo này, luậnđiểm của Haudricourt rằng thanhđiệu tiếngViệt pháttriển độclập với ảnhhưởng tiếngHán phải bị bácbỏ. Nếu thật nhưvậy, ngườiViệt cũng cóthể lượcbỏ thanhđiệu khỏi các từvaymượn tiếngHán, như người Nhật và Hàn đã làm.

Đồngthời, tiếngViệt còn bảotồn các từvaymượn Háncổ đã mang đủ bốn thanh mà Haudricourt gán cho một lýthuyết về hìnhthành thanhđiệu vào thếkỷ XII. Những thanh này cóthể là từnguyên cổ được bảolưu trong các phươngngữ Trung Trungbộ, đặcbiệt vùng Thanhhoá‑Thuậnhoá, và nhấtlà Nghệan. Chẳnghạn, ‘chim chóc’ chứa chóc, đồngnguyên với 雀 què [HV tước, HN sóc ]. Khi nhàTrần thôntính lãnhthổ Chăm về phíaNam qua cuộc hônnhân của Côngchúa Huyềntrân với Vua Chế Bồngnga (Po Binasuor) của Vươngquốc Chămpa, cưdân Annam mang theo hệtống bốnthanh hoáthạch này, vốncòn tồntại trong các phươngngữ Bắc Trungbộ. Điều này giảithích vìsao, giốngnhư Chế Bồngnga (Cei Bunga), các địadanh Chăm vốn vôthanh đã được thanhđiệuhoá hoàntoàn trong tiếngViệt: Đànẵng, Quynhơn, Nhatrang.

Tiếnxahơn về phíaNam, các đợt dicư Annam sớm còn truyềnlại những đặcđiểm phụâm đặcthù bảolưu chìakhoá của hệ thống âmvị Trungcổ, gồm các phụâm đầu như 知 zhī (SV trí), 徹 chè (SV triệt), 澄 chéng (SV trừng), 于 yú (SV vu), 匣 xiá (SV hiệp) (xem Ding Bangxin, ibid., 1977, tr. 266–269).

Bernhard Karlgren trong côngtrình Tones in Archaic Chinese (1960) kếtluận rằng cổHánngữ tiền‑Hán, qua phântích vậnbộ trong Thikinh, đãcó các loại thanhđiệu tươngứng với bình‑thanh, thượng‑thanh, thanhkhứ và thanhnhập của Trungcổ.

“Cổ Hánngữ, giốngnhư tiếng Hán Trungcổ và cậnđại, có các loại thanhđiệu phânbiệt. Mộttrongsố ấy ứngvới bìnhthanh của tiếng Hán Trungcổ, một ứngvới thượngthanh, một ứngvới khứthanh, và loại cuối (các từ tậncùng bằng p‑, t‑, k‑) ứngvới thanhnhập. (…) [ Kếtluận của ông rằng] cổHánngữ có các loại thanhđiệu tươngứng mộtcách đạithể với các loại thanhđiệu của Hánngữ (…) rằng những từ xuấthiện trong ‘các bộvận thuần nhất‑thanh’ rất có khảnăng thuộc về loại thanhđiệu cổ tươngứng với loại thanhđiệu thời trungđại liênquan (bình, thượng, khứ, nhập). (tr. 133)”

Từ đó, cóthể khẳngđịnh rằng khi nhà Hán chinhphục tiền-Annam cổ năm 111 trướccôngnguyên, hệthống thanhđiệu của tiếng Háncổ đã tácđộng sâuđậm lên lờinói bảnđịa, đểlại dấuấn kéodài rấtlâu sau năm 939. NgườiViệt khôngphải đợitới thếkỷ XII mới bắtđầu “thêm” thanhđiệu; ảnhhưởng thanhđiệu đã thấm sâu từ trước. Thựctế, thanhđiệu tiếngViệt tươngứng trọnvẹn với các loại thanhđiệu trong các phươngngữ Hán.

Tómlại, khốilượng và sinhkhí của tầng Hán‑Việt với hàngngàn từ được dùng hằngngày, khôngchỉ là các từnguyên trong từđiển, tấtcả đã đủđể chứngminh luậnđiểm này. Hơnthếnữa, các phươngngữ dângian thời NamHán, trảidài từ Giaochâu đến Quảngchâu, hẳn phải tươngtự nhau (xem Bo Yang, sđd., q. 71–72, 1993). Và cần hỏi thêm: liệucó nhàngônngữhọc nào dám chorằng tổtiên của tiếng Quảngđông chín‑thanh ngày nay chỉ nói bốn hoặc năm thanh “chưahoànchỉnh” vào tận thếkỷ thứmười?

Kếtluận

Bàiviết này, khi nhấnmạnh vào lýthuyết của Haudricourt về sự hìnhthành thanhđiệu tiếngViệt, đưara bằngchứng thanhđiệu tiếngViệt vừa là disản nguyênsơ, vừa là sángtạo lịchsử, sinhra từ sự chuyểnhóa các phụâm cuối và đốiứng hữu-vô thanhđệu thành các trục siêuđoạntính truynguyên được về Háncổ. Trong tiếntrình ấy, tiếngViệt khôngchỉ vanglại các phụâm mấtđi và thừakế thanhđiệu phátsinh từ chúng; nó đồngthời sángtạo một hệthống thanhđiệu mới, như trườnghợp 墓 mù (mộ, mô, mồ, mố, mả, ma), một pháttriển độclập trong ĐôngNamÁ. Bàihọc kép này — rằng tươngtự liênhệ ngữhệ là khảdĩ, và rằng sángtạo âmvị cóthể táicấutrúc lịchsử ngônngữ, khiến sựhìnhthành thanhđiệu tiếngViệt trởthành một trườnghợp mẫumực cho ngànhngônngữhọc sosánh và cho sựhiểubiết rộnglớnhơn về cách ngônngữ vừa thừakế vừa táisángtạo chính mình.

Điểm kết — đâylà bàihọc kép: tươngtự liênhệ thanhđiệu qua ngữhệ là khảdĩ, nhưng sángtạo âmvị là táicấutrúc ngônngữ lịchsử.

Sáchthamkhảo

Alves, Mark J. 2006. “Linguistic Research on the Origins of the Vietnamese Language: An Overview.” Journal of Vietnamese Studies 1(1–2).

Alves, Mark J. 2024. “An Updated Overview of the Austroasiatic Components of Vietnamese.” Languages 9(12).

Campbell, Lyle. 2013. Historical Linguistics: An Introduction. Edinburgh University Press.

Chen, Shu‑Fen. 2003. “Vowel Length in Middle Chinese Based on Buddhist Sanskrit Transliterations.” Language and Linguistics 4(1): 29–45.

Haspelmath, Martin. 2005. “Comparative Linguistics and the Problem of Spurious Similarities.” Linguistic Typology 9(1).

Haudricourt, André‑Georges. 1954a. “L’origine des tons en vietnamien.” Journal Asiatique 242: 69–82.

Haudricourt, André‑Georges. 1954b. “Problèmes de phonétique diachronique: la nasalisation vocalique en vietnamien.” Bulletin de la Société de Linguistique de Paris 49.

Maspero, Henri. 1912. Études sur la phonétique historique de la langue annamite. Les initiales. Paris: Imprimerie Nationale.

Maspero, Henri. 1921. Grammaire de la langue chinoise. Paris: Imprimerie Nationale.

Mei, Tsu‑lin. 1970. “Tones and Prosody in Middle Chinese and the Origin of the Rising Tone.” Harvard Journal of Asiatic Studies 30(1): 86–110.

Pulleyblank, Edwin G. 1984. Middle Chinese: A Study in Historical Phonology. Vancouver: University of British Columbia Press.

Sa, Quoc Hoang. 2025. “Study on the Understanding and Use of Sino‑Vietnamese Words: Perspectives from Secondary School Students in Ho Chi Minh City.” Spring Journal of Arts, Humanities and Social Sciences 4(5).

Sidwell, Paul. 2015. “Austroasiatic Dataset for Phylogenetic Analysis: 2015 Version.” Mon–Khmer Studies 44. Mahidol University / SIL International.

Thomas, David D. 1960. “Basic Vocabulary in Some Mon–Khmer Languages.” Mon–Khmer Studies.

CƯỚCCHÚ


(1)^ Xem bản dịch của Huang Xuanfan (Hoàng Tuyên Phạm) 黃宣範. “中古 漢語 聲調 與 上聲 的 起源” (in <中國 語言 學論集>. 1977. pp. 175-197

(2)^ Khôngcó trìnhđộ thôngthạo về ‘cảmnhận ngônngữ’ mà một chuyêngia cầncó, gầnnhư ngangtầm bảnngữ đốivới ngônngữ đích, do thiếuthốn kinhnghiệm trựctiếp với tiếngHán hiệnđại, cả tiêuchuẩn lẫn khẩungữ, thì họ sẽ khôngbaogiờ biếtrõ gốcgác của nhiều từ tiếngViệt như:

– ‘đầunậu’ (ring leader) 頭腦 tóunăo (HV đầunão),
– ‘dàydạn’ (experienced) 經驗 jīngyàn (HV kinhnghiệm),
– ‘láibuôn’ (merchant) 大販 dăipán (QĐ /tai2pan3/),
– ‘lẻtẻ’ (trivial) 零星 língxīng (HV linhtinh, ‘miscellaneous’),
– ‘ănnhậu’ (social engagement) 應酬 yìngchóu (i.e., ‘eat and drink’),
– ‘cụngly’ (raise glasses and cheers) 碰盃 bèngbèi,
– ‘đừnghòng’ (don’t you ever) 甭想 péngxiăng,
– ‘luônluôn’ (always) 牢牢 láoláo,
– ‘lạcloài’ (solitude) 落落 luòuò [ QT ‘失落 shìluò (HV thấtlạc) ],
– ‘đượclắm’ (pretty good) 得來 délái,
– ‘đượclòng’ (pretty good) 心得 xīndé,
– ‘giờgiấc’ (time) 時間 shíjiān [ while ‘thuở (thủa)’ (a period of time), a contraction of phonetic sandhi of 時候 shíhòu (HV thờihậu) ],

tấtcả những điều ấy đều trùngkhớp chínhxác với cáchdùng và nghĩangữ của các đốitượng Hánngữ tươngứng, chưakể đến trìnhđộ hiểubiết chuyênsâu cầnthiết trong lịch‑sử ngữâm học tiếngHán để thấuđạt từnguyên của các từvựng cơbản như

– ‘chỉ’ 線 xiàn (thread) and ‘chỉ’ 錢’ (đơnvị tiềntệ đờixưa năng khoảng 1 phần 10 lượng (Tàu) 兩 tael) [ Sosánh. 錢 qián (HV tiền) ],
– ‘đường’ 唐 táng (road, sovới 途 tú (HV đồ), to 道 dào (HV đạo),
– ‘lá’ 葉 yè (leaf) [ the pattern /j-/ ~ */l-/ is very common in Chinese. ],
– ‘lúa’ 來 lái (‘paddy’, as opposed to’ sovới 稻 dào ‘gạo’ rice) [ cf. 麥 mài (HV mạch) ],
– ‘cá’ 魚 yú (fish) [ /ke-/ and /ca-/ trong tiếngAnh ‘ketchup’ và ‘catsup’ đều đồngnguyên với tiếngViệt ‘cá’ ],
– ‘sông’ 江 jiāng (river) sovới 川 chuān (SV xuyên) [ cf. 水 shuǐ (SV thuỷ) ‘water’, another word for ‘river’ ],
– ‘mây’ 霧 wù (cloud), as opposed to 雲 yún (SV vân),
– ‘mưa’ 雨 yǔ (rain) [ the pattern /y-/ ~ /m-/ is very common in Chinese ~ Vietnamese. ],
– ‘nắng’ 陽 yáng (sunshine) [ Cóngười dám nói là tong tiếngViệt khôngcó từ ‘nắng‘ (‘sunshine’)? ],
– ‘cóng’ 寒 hán (chilly) [ Hai. /kwɔ5/ ],
– ‘biển’ 海 hăi (biển) tráingược với cả HN ‘bể’ và ‘khơi’ [HV ‘hải’ đốivới ‘khơi’, sosánh Quảngđông /hoj3/; không mấy khó để liênhệ hai âm gầnnhau này. Thídụ: 海外 hăiwài (HV ‘hảingoại’ sovới HN ‘ngoàikhơi’) ],
– ‘bữa’ 飯 fàn (Hainanese /buj2/ nghĩalà ‘bữa(ăn)’ sovới HN ‘buổi’ (period of the day),
– ‘ăn’ 唵 ăn (eat) [ cf. 吃 chī (cf. 乙 yǐ (SV ất) sv. ‘xơi 食 shí (HV thực) ],
– ‘uống’ 飲 yǐn (drink) sovới ‘hớp’ 喝 hè (HV hát) ‘sip’,
– ‘đi’ 去 qù (go) as apposed to 走 zǒu (HV tẩu) ‘run’ for ‘chạy’,
– ‘đứng’ 站 zhàn (stand),
– ‘ỉa’ 屙 é (to poo), ‘đái’ 尿 niào (to pee, same as HN ‘tiểu’, sosánh. 尿尿 niàoniào ‘điđái’),
– ‘ngủ’ 臥 wò (lie down to rest, hence ‘sleep’, sovới 睡 shuì, connotatiively ‘somnus’),
– ‘đụ’ 嫖 piáo (fuck, a derivative of HN ‘đéo’, phươngngữ 他媽! Tāma! (‘Đụmá!’),
– ‘đẻ’ 生 shēng (Hainanese /te1/), cộngthêm với âmnghĩa ‘tái’ (Hai. /ta5/) cónghĩalà ‘tái(sống)’,
– ‘việc’ 活 huó (work) sovới 務 wù (HV vụ),役 yì (HV dịch),

‘việc’ 活 huó (việc, côngviệc) tráingược với 務 wù (HV vụ) và 役 yì (HV dịch), cùngvới một sốlượng lớn các từ khác đãđược dẫn trong bàinày. Cùng một lýdo ấy, vì thiếuthốn kinhnghiệm trựctiếp với tiếngViệt hiệnđại, những tácgiả tươngtự sẽ khôngbaogiờ biếtrõ các từ đaâmtiết như

– ‘đốivới’ (with respect to) 至於 zhìyú chora ‘đếnnổi’ (to such a degree that) sovới 對於 duìyú,
– ‘vòmtrời’ 重圓 chóngyuán (HV trùngviên ‘sky vault’) thayvì 宇宙 yúzhōu (HV vũtrụ ‘universe’),
– ‘gỏi’ 膾 (鱠) kuài (HV khoái ‘mince meat (fish) salad’) thayvì thị hoặc cá bằm ‘chopped meat or fish’,
– ‘quà’ 饋 kuì (HV quỹ ‘gift’) thayvì 禮物 lǐwù (HV ‘lễvật”,
– ‘cảirỗ’ 菜蘭 càilán (Chinese brocolli) thayvì ‘cảilàn’ or ‘cảilan’,
– ‘dưahấu’ 塊瓜 kuàiguā (HV khốiqua ‘watermelon’) thayvì 西瓜 xīguā,
– ‘ănmày’ 要飯 yàofàn (beggar) thayvì 乞丐 qǐgài,
– ‘thầymô’ 巫師 wùshì thayvì ‘phùthuỷ’ (shaman), etc.,

all are cognates.

Leave a Reply

Discover more from ziendan.com

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading