Ghichú Về Mộtsố Từvựng Cơbản

This image has an empty alt attribute; its file name is image-12.png

by dchph in collaboration with Copilot

Ancient-style scroll, brush, inkstone, carved symbols, stones, and tea on wooden table
Mộtchiếc bànviết cũkỹ đặt một cuộn thẻtre có kýtự được bólại, một nghiênmực, bútlông, những thẻgỗ chạmkhắc những kýhiệu bíẩn và một chénnước. (CreAited by dchph with Jetpack.)

1. NƯỚC:

*** 水 shuǐ (HV thuỷ, HN nước) [ M 水 shuǐ < MC ɕjwi < OC *qʰʷljilʔ | Ghichú: Lưuý rằng dạng Háncổ *qʰʷljilʔ kếtthúc bằng /-ʔ/, một âmcuối cóthể tươngứng với /-k/ trong tiếngViệt nước. Dạng Việtcổ thường được phụcnguyên là /*ɗaːk/, vốn theo cách giảithích truyềnthống thường được quyvề dạng Tiền‑Môn-Khmer ɗaak (“nước”).

Hãy sosánh 踏 tà, tā (HV đạp, “chàđạp”), 沓 tà, dá (HV đạp, HN đầy), nơi cùng một gốc hìnhthanh cóthể phảnánh các âmcuối /-k/ và /-ʔ/. Nếu đúng nhưvậy thì khôngkhó để phụcnguyên một dạng /dak/, từđó dạng Việtcổ /dak/ pháttriển thành tiếngViệt nước.

Về sựhoánđổi /sh- ~ n-/, cóthể nêu các vídụ như: 說 shuō (HV thuyết), tiếng Hảinam nói; 山 shān (HV san), Hảinam non > núi. Phầnlớn các phươngngữ đều giữ phụâmđầu s-, chẳnghạn Hạmôn san¹¹ (vănđọc), suã¹¹; Triềuchâu suã¹¹. Tuynhiên, tiếng Hảinam đọc /twi²/ đối với 水 và /twa¹/ đối với 山, chothấy sựluânphiên /s- ~ t-/ hoặc /sh- ~ t-/ vẫn có thể xảynhất trong một số nhánh phươngngữ.

Từ phụâmđầu t-, cóthể giảđịnh một quátrình chuyểnbiến sang /n-/ trong môitrường tiếpxúc ngônngữ nhấtđịnh. Theo đó, 水 tujʔ cóthể được đốichiếu với nước, tươngtự như trườnghợp núi được liênhệ với 山 sān.

Theo Starostin, phụâmđầu tiếngHán Trungcổ /ɕ-/ ở chữ 水 là một dạng bấtquytắc; các hìnhthức Mânngữ cungcấp bằngchứng cho một phụâmđầu cổ hơn thuộc kiểu t- hoặc c-: Hạmôn cui³, Triềuchâu cui³, Phúcchâu cui³. Dạng phụcnguyên được đềnghị là tujH, nghĩa là “nước”. Chữ 水 theođó được phụcnguyên là tujʔ (“nước”), khá gần với cáchđọc Hảinam /twi²/.

Các ngônngữ lâncận cũng chothấy những dạng tươngtự: Achang ti (“nước”), Kachin mjədi¹ (“ướt”), Lushai tui, phụcnguyên Kuki–Chin dui (“nước”), Lepcha da (“aohồ”, “vũngnướctù”). Tậphợp dữliệu này gợiý sựtồntại của một mạnglưới hìnhthức kiểu tuj/dui/di/da gắn với kháinệm “nước” trong nhiều ngônngữ thuộc khuvực NamÁ và Hán‑Tạng.

Cũng cóthể đốichiếu với 淂 dé (HV đắc), nếu giảđịnh một dạng Việtcổ /*ɗaːk/ > đắk (“nước”). Trong trườnghợp đó, chuỗi tươngứng tujʔ → /dak/ → đắk → nước cóthể được xem là một hướng giảthuyết đánglưuý trong việckhảocứu nguồngốc từvựng chỉ “nước” của tiếngViệt.

Tuynhiên, một khảnăng khác cũng đángđược xemxét là nước phảnánh sựchồnglớp của nhiều truyềnthống từvựng khácnhau. Dạng đắk vẫnđược bảolưu rộngrãi trong nhiều địadanh Tâynguyên như Đắklắk, Đắknông, nơi đắk mangnghĩa trựctiếp là “nước”, “sôngsuối”. Điềunày chothấy lớp từgốc /dak/ từngcó phạmvi phânbố rộnghơn hiệnnay, và cóthể giữ một vịtrí trunggian trong quátrình hìnhthành từ nước của tiếngViệt hiệnđại.

Nhưvậy, xét từ gócđộ âmthanh, phươngngữhọc và đốichiếu liênngônngữ, chữ 水 shuǐ vẫnlà một đốiứngviên đángchúý trong việc giảithích nguồngốc của tiếngViệt nước, đặcbiệt nếu chấpnhận các quyluật tươngứng thờicổ giữa các âmcuối /-ʔ/ và /-k/, cũng như các biếnđổi phụâmđầu thuộc kiểu /s-/ ~ /t-/ ~ /n-/. ]

2. LÁ:

**** 葉 yè (HV diệp, HN lá) [ M 葉 yè, dié, shè, xiè < MC jiap, ɕiap < OC *leb, *hljeb | Ghichú: Môthức tươngứng giữa phụâmđầu /j-/ và /l-/ là một trong những môthức phổbiến nhất trong ngônngữhọclịchsử. Bêncạnh các dạng đồngnguyên thuộc Háncổ và tiền-Háncổ đã đượcdẫn, cũng đángchúý rằng phầnlớn các ngônngữ Tạng-Miến đều bảolưu những dạng có âm gần với TV lá. Chẳnghạn: Tạngngữ ldeb “lá, tờ”; Miếnngữ ɑhlap “cánhhoa”; Kachin lap² “lá”; Lushei le:p “chồi”; Lepcha lop “lá”; Rawang ʂɑ lap “lá (dùng để gói thứcăn)”; Trung ljəp¹ “lá”; Bahing lab. Xem thêm Shafer, tr. 138; Benedict, tr. 70.

Tậphợp đốiứng nầy chothấy mộtdãy tươngứng ngữâm rộngkhắp trong khối Hán-Tạng, trongđó các dạng mang phụâmđầu /l-/ phânbố rất phổbiến và gầngũi đángkể với HN lá. Điềunày cungcấp thêm cứliệu hỗtrợ cho việc truytìm nguồngốc lịchsử của từngữ tiếngViệt ngoài phạmvi các giảithích thuần Môn-Khmer. (Xem Những Tươngứng Việtngữ với Ngữhệ Hán‑Tạng.)

3. NÓI:

Theo Starostin, Phụcnguyên: l^ot. Nghĩa: “nói”. Hánngữ: 說 l^ot “nói” với nghĩa “giảithích”. Tạngngữ: s/od (quákhứ bs/ad) “tuyênbố”; a~c/had (quákhứ, vịlai bs/ad, hiệntại s/od) “giảithích”; sosánh thêm rz|/od (quákhứ, vịlai brz|/od) “tuyênbố”. Kachin: (H) brat, prat “nóinăng như người bảnngữ với sựlưuloát và chínhxác”.

Trong khối Hán-Tạng, gốc từ này mang các nghĩa “giảithích”, “biệnhộ”, đồngthời pháisinh ra các tựdanh với ngữnghĩa như “lờinói”. Tuỳtheo ngữcảnh, từ này cũng cóthể liênquan đến 聊 liáo (HV liêu), tươngứng với tiếngViệt ‘nói’ với ýnghĩalà “tròchuyện,”. Đángchúý là tươngứng phụâmđầu /l-/ ~ /n-/ là một hiệntượng khônghiếm trong tiếngViệt. Thídụ: 聊天 liáotiān → HN “nóichuyện”. Cặp tươngứng ‘liáo’ ~ ‘nói’ đặcbiệt đángchúý vì nó chothấy một hướng pháttriển ngữâm khảdĩ từ phụâmđầu /l-/ sang /n-/ trong tiếngViệt, đồngthời duytrì trườngnghĩa cơbản liênquan đến hoạtđộng giaotiếp bằng ngônngữ. Điềunày phùhợp với nhiều từnguyên Hán-Tạng khác mà trongđó ngữnghĩa “nói, lờinói, phátngôn” được bảolưu kháổnđịnh qua các ngônngữ hậuduệ.

4. NÚI:

*** 山 shān (HV sơn, HN non, núi) [ M 山 shān (sơn, san) < MC ʂəɨn < OC *sre:n | Môhình biếnâm ¶ /sh- ~ n-/: td. 說 shuō (HV ‘thuyết’ HN ‘nói’ | ¶ /-n ~ -i/: td. 蒜 suàn (HV toan, HN tỏi). Ghichú: Lưuý rằng phầnlớn các phươngngữ đềucó phụâmđầu /s-/ như Amoy san11 (văn), suã11, Triềuchâu suã11, ngoạitrừ tiếng Hảinam 山 /twa1/, chothấy sựluânphiên /s- ~ t-/. Từ /suã11/, /twã/ hoặc /twa1/, ta cóthể giảđịnh rằng phụâmđầu /n-/ đã xuấthiện thaycho /s-/ hay /t-/, tạonên một dạng như /nwã/, rồi pháttriển thành non ⇒ núi. Sựhoánđổi /t- ~ n-/ là hiệntượng thườnggặp trong các môthức đốichiếu âmthanh Hán-Việt. Thídụ: 尿 niào (HV niệu, HN tiểu, đái, ‘đitiểu’), 鳥 niǎo (HV điểu, ‘chim’). Ngoàira cũng khôngnên hoàntoàn loạibỏ khảnăng liênhệ với 垚 yáo (HV nghiêu, HN núi, ‘đồi núi’). Theo Starostin, âm Hán-Trungcổ /san/ là một dạng bấtquytắc, vì theo quyluật phải dựkiến một hìnhthức như *s.a.n. Trongkhiđó, hiện vẫnchưa tìmthấy bấtcứ dạng đồngnguyên nào trong các ngônngữ Môn–Khmer tươngứng với tiếngViệt ‘non’ hay ‘núi’, mặcdù đâylà một từvựng cơbản.

5. SÔNG:

****** 江 jiāng (HV giang, HN sông) [ M 江 jiāng < MC kawŋ < OC *kraŋ | Ss. 工 MC koŋ (HV “công”) | Pt 古雙 | Theo Starostin, 江 nguyênthuỷ cónghĩalà “sông”, đặcbiệt dùng đểchỉ dòng Trườnggiang. Từ gócđộ này, tiếngViệt ‘sông’ cóthể là một lớp vaymượn cổhơn từ cùng một nguồngốc từvựng.

Ghichú: Dạng Việtcổ được xácđịnh là ‘krung’ > ‘krong’ > ‘sông‘. Các hìnhthức này cóthể đồngnguyên với những dạng như /karung/ và /kroung/, vốn xuấthiện khárộng trong khuvực ĐôngnamÁ lụcđịa với ýnghĩa liênquan đến “sông”, “dòng” hoặc “vùng vensông”.

Nếu giảthiết này là đúng, thì quátrình tiếnhoá biếnđổi ngữâm cóthể được hìnhdung theo chuỗi: karung → krung → krong → sông, trongđó cụm phụâmđầu dần được đơngiảnhoá, còn nguyênâm và phụâmcuối trảiqua những biếnđổi thườnggặp trong lịchsử tiếngViệt. Điềunày sẽ đặt ‘sông’ vào cùng một tầng từnguyên khuvực với nhiều dạngthức NamÁ và Tibeto-Burman đều chỉ “sông” hoặc “nguồnnước”.

Cách giảithích trên cũng phùhợp với nhậnxét rằng nhiều từ cơbản trong tiếngViệt liênquan đến địahình và thuỷvăn, như sông, suối, nước, non, núi, không nhấtthiết phảiđược xemlà hoàntoàn bảnđịa hay hoàntoàn Môn–Khmer, mà cóthể phảnánh những lớp tiếpxúc rất cổ giữa các cộngđồng ngônngữ khácnhau tại ĐôngÁ xuống ĐôngnamÁ trước thờikỳ lịchsử khi đãcó tàiliệu ghichép.

6. SỐNG:

****** 生 shēng (HV sinh, sanh, HN sống ‘live’, ‘raw’, đẻ | M 生 shēng (sinh, sanh) < MC ʂaɨjŋ < OC *shleŋ, *sreŋs | Phươngngữ: Hảinam te11 (ss. ‘đẻ’), Triềuchâu: sẽ 11, Hạmôn: sĩ11 ~ cĩ11, Ônchâu siɛ1, Pk chiaŋ1. | Ghichú: Mứcđộ khảtín của quanhệ đồngnguyên giữa từnguyên Hán và Việt trong trườnghợp này được đánhgiá ở mức sáu sao ****** đốivới từ ‘’sống’. Giảthuyết này càng trởnên đángchúýhơn khi xétđến các dạng pháisinh liênquan như ‘đẻ’ (‘sinhđẻ’) hoặc ‘dưng’ /jiəŋ1/ như trong ‘ngườidưng’.

Cóthể sosánh với 生 shēng (‘sinh, sống, đẻ’), xuấthiện trong các tổhợp như 生人 shēngrén, tươngứng với tiếngViệt “ngườidưng” (‘ngườixalạ’, hay 陌生 mòshēng, tươngứng với tiếngViệt “lạlùng” (‘xalạ’).

Nhìn từ gócđộ ngữnghĩa, trường ngữnghĩa của 生 baogồm các kháinệm “sống”, “sinhđẻ”, “người dưng”, “xalạ”, khágần với nhóm ýnghĩa được bảotồn trong các từ Việt sống, đẻ, dưng, xalạ… và các biểuthức liênquan đến sựlạlẫm hay chưatừng quenbiết.

Nếu mốiliênhệ này thựcsự có cơsở lịchsử, thì “sống” khôngchỉ phảnánh nghĩa “còn tồntại, còn sinhmệnh” mà còn thuộc cùng một trường từnguyên với các ýniệm “sinhthành”, “ngườisinh”, “ngườingoài”, và “ngườidưng”, tấtcả đều quyvề hạtnhân ngữnghĩa của 生 ‘sinh, sống, phátsinh, tươisống’. Điềuđó giúp giảithích vìsao các dạng Việt như “đẻ”, “dưng” và sống tuy khácnhau về hìnhthức ngữâm nhưng vẫn cóthể đượcxemlà những biếnđổi thuộc cùng một từnguyên cổxưa.

7. TẨY:

**** 洗 xǐ (HV tẩy, HN rửa) [ M 洗 xǐ, Xiăn (tẩy, Tiển) < MC sen < OC *sɯːlʔ, *sɯːnʔ | ¶ /x- ~ r-/: td. 婿 xù (HV tế, HN rể), 鬚 xū (HV tu, HN râu) | Ghichú: TiếngViệt tẩy còn mang nghĩa “tẩysạch” (bleach). Bêncạnh những điểm tươngđồng với các dạng 孟·高棉 thường được việndẫn, chữ 洗 trong tiếngHán còn có cáchđọc xiǎn (HV tiển), điềunày gợira sựliênhệ với tiếngViệt tắm (“tắmrửa”). Starostin lại quy hiệntượng này về chữ 浸 jìn (HV tẩm), nghĩa là “ngâm, tẩm, thấm”, chủyếu dựatrên sựgầngũi về mặt ngữâm giữa các dạng 漢·越.

Theo cáchnhìn đó, chuỗi pháttriển ngữnghĩa cóthể đi từ “ngâm” → “tắm” → “rửa”, rồi trong mộtsố ngữcảnh mởrộng thành “tẩy”. Mặcdù cáchgiảithích này khôngnhấtthiết loạitrừ các khảnăng khác, nó chothấy lớp từ chỉ các hoạtđộng tiếpxúc với nước trong tiếngViệt cóthể đã chịu ảnhhưởng từ nhiều nguồn có gốc Háncổ khácnhau, chứ khôngchỉ từ một từnguyên duynhất.

Vềmặt âmvận, sựtươngứng giữa tiển, tẩm, tắm và tẩy chothấy một mạnglưới liênhệ phứctạp giữa các lớp từ 漢·越, Háncổ và Việt bảnđịa. Điềunày phùhợp với nhậnxét rộnghơn rằng nhiều từ cơbản trong tiếngViệt hiệnđại cóthể phảnánh những lớp tiếpxúc Háncổ rấtsớm, đôikhi cổ hơncả các cáchđọc 漢·越 tiêuchuẩn được lưugiữ vềsau.

Ngoàira, bảnthân chữ 洗 mang trườngnghĩa “rửa, gộtrửa, làmsạch bằng nước”, rất gần với các độngtừ cơbản trong tiếngViệt như rửa, tắm và tẩy. Sựchồnglấp này khiến khó xácđịnh một quanhệ từnguyên đơnnhất, nhưng đồngthời cũng củngcố nhậnđịnh rằng các kháinệm liênquan đến việclàmsạch bằng nước cóthể đã hìnhthành thôngqua sựhộitụ của nhiều lớp ảnhhưởng từvựng khácnhau.

Nếu mởrộng phạmvi sosánh, thì cụm tươngứng tẩm → tắm và tiển → tẩy cóthể phảnánh những quỹđạo pháttriển songsong trong đó các dạng Háncổ liênquan đến “ngâm trong nước”, “rửa sạch”, “thấmnước” dần hộiquy vào một trườngnghĩa chung về sựtẩyrửa và làmsạch. Dướigócđộ này, tiếngViệt tẩy không nhấtthiết phải bắtnguồn từ riêng chữ 洗 hay 浸, mà cóthể là kếtquả của một quátrình giaothoa từnguyên kéo dài giữa nhiều từ Háncổ cùng thuộc trườngnghĩa “nước”, “rửa”, “ngâm”, “làmsạch”.

8. SỢ:

**** 懼 jù (HV cụ, HN sợ) [ Vh @ M 懼(惧) jù < MC guə̆ < OC *ɡʷas | ss. 怯 qiè (HV khiếp) ~ HN nhát, khớp (“sợ, hoảngsợ”) | Ghichú: Trên thựctế, cũngnhư hiệntượng từ songhành trong nhiều ngônngữ khác, tiếngHán có khánhiều từ khácnhau cùng biểuthị kháinệm “sợsệt”. Nếu xéttheo tầnsuất sửdụng thôngthường thì 怕 pà sẽlà ứngcửviên nổibật nhất. Các cáchđọc Hánngữ gồm pà, pò, bó, xuấtphát từ Hán‑Trungcổ pʰaɨ, và xahơn là các dạng CổHán *pʰraːɡ, *pʰraːɡs. Từđó cóthể giảđịnh một môthức tươngứng âmthanh /b- (p-) ~ s-/.

Bêncạnh 怕 còn có nhiều từ khác cùng thuộc trườngnghĩa “sợsệt”, như 怵 chù, 悚 sǒng, 懾 shè, 慴 zhé, v.v. Tấtcả đều diễnđạt cùng một ýniệm tâmlý tươngứng với tiếngViệt sợ.

Vìvậy, khi khảoxét từnguyên của sợ, khôngnhấtthiết phải giớihạn trong một chữHán duynhất. Tươngtự như nhiều trườnghợp khác trong vốntừ cơbản, điều được bảotồn qua tiếpxúc ngônngữ cóthể khôngphảilà hìnhthức từvựng riêngbiệt mà là toànbộ trườngnghĩa xoayquanh các kháinệm “kinhsợ”, “sợhãi”, “khiếpsợ”, “kinhkhiếp”. Dưới gócnhìn đó, sợ cóthể phảnánh một lớp tiếpxúc thờicổ liênquan đến nhóm từ Hán mang ýnghĩa “sợ”, trongđó 怕, 怵, 悚, 懾 và 慴 đều là những thànhtố đốiứng ngữnghĩa khảdĩ.

Nếu ápdụng môhình này, thì sựtươngứng giữa tiếngViệt sợ và nhóm từ Hán chỉ “sựsợhãi” cần được đánhgiá chủyếu trên bìnhdiện trườngnghĩa và các môthức biếndạng âmthanh thườnggặp, thayvì đòihỏi một quanhệ đồngnguyên trựctiếp với duynhất một tựdạng cụthể. Điềuđó phùhợp với thựctrạng nhiều từnguyên cơbản trong tiếngViệt hiệnnay thường phảnánh sựhộitụ của nhiều lớp ảnhhưởng Háncổ khácnhau qua một quátrình tiếpxúc ngônngữ kéodài.

Mặtkhác, 懼 jù vẫn đáng được lưuý riêng vì sựtươngứng ngữnghĩa gầnnhư hoànchỉnh với tiếngViệt sợ. Chữ này biểuđạt trạngthái “kinhhãi, losợ, engại”, rất gần với phạmvi sửdụng của sợ trong tiếngViệt hiệnđại. Xéttừ gócđộ từnguyênhọc, đây cóthể là một trong những ứngviên cụthể nhất trong toàn bộ trườngnghĩa “sợsệt”, mặcdù chưa đủ cơsở để khẳngđịnh quanhệ đồngnguyên trựctiếp.

Ngoàira, cóthể sosánh với mộtsố dạng phươngngữ miềnnam khác như khớp, khiếp, nhát, cho thấy kháinệm “sợ” trong tiếngViệt từ lâu đã được biểuđạt bằng nhiều lớp từvựng khácnhau. Hiệntượng này tươngứng với tìnhhình trong tiếngHán, nơi nhiều từ đồngtrườngnghĩa cùng tồntại songsong và ảnhhưởng lẫnnhau. Vìthế, từ sợ cóthể phảnánh kếtquả của sựhộitụ từnguyên và ngữnghĩa kéodài, thayvì bắtbuộc phải truy về một nguồngốc đơnnhất.

9. THỔI:

**** 吹 chuī (HV xuy, xuý, HN thổi) [ M 吹(龡) chuī, chuì, cuì < MC tɕʰʷiɛ < OC *kʰjol, *kʰjols | ¶ /ch- ~ th-/ | Ghichú: Khôngcó từnguyên 孟·高棉 nào thựcsự phùhợp với tậphợp dữliệu đốichiếu trong trườnghợp này, trongkhi chữ 吹 chuī của tiếngHán lại chothấy một mốiliênhệ khảtín với tiếngViệt thổi.

Vềmặt ngữnghĩa, sựtươngứng là khátrựcdiện: 吹 mang nghĩa “thổi, hàhơi”, hoàntoàn tươngứng với nghĩa cơbản của tiếngViệt thổi. Đâylà một trườnghợp mà cả âmnghĩa lẫn trườngnghĩa đều hộitụ vào cùng một kháinệm hànhđộng.

Vềmặt âmthanh, mốiliênhệ giữa chuī và thổi cóthể được xemxét thôngqua các môthức biếnđổi thườnggặp giữa phụâm tắc-xát ngạc trong Háncổ với phụâmđầu /th-/ trong tiếngViệt. Mặcdù các bước chuyểnhoá cụthể vẫn cần được làmsángtỏ bằng những phụcnguyên chitiếthơn, sựtươnghợp về ngữnghĩa khiến giảthuyết đồngnguyên trởnên đángchúý.

Dođó, khác với nhiều trườnghợp thường được giảithích bằng nguồngốc 孟·高棉, từ thổi cóthể phảnánh một lớp từnguyên Háncổ rấtsớm. Trong bối cảnh hiệnnay, khi chưa tìmthấy một dạng 孟·高棉 tươngứng có sức thuyếtphục, chữ 吹 chuī vẫnlà đốiứngviên nổibậtnhất cho việc giảithích nguồngốc của tiếngViệt thổi.

Nếu giảthuyết này là đúng, thì thổi sẽ thuộc cùng nhóm với những từViệt cơbản khác được cholà phảnánh các lớp vaymượn Háncổ rấtsớm, nơi sựtươngứng được nhậndiện chủyếu qua sựkếthợp giữa môthức âmthanh và sựtrùngkhớp ngữnghĩa hơnlà qua các cáchđọc 漢·越 tiêuchuẩn vềsau.

Ghichú: Cũng cóthể liênhệ với một dạng cổ thuộc họ 聲 shēng hoặc các từngộc Háncổ gầnkề có phụâmđầu xát-tắc vòmhoá, từ đó pháttriển thành dạng bảnđịa thổi thôngqua các quyluật thíchứng ngữâm tiềnkỳ. Tuynhiên, ở giaiđoạn hiệnnay, 吹 chuī vẫn là ứngviên phùhợp nhấtxét trên cả hai phươngdiện âmthanh và ngữnghĩa.

10. TIM:

****** 心 xīn (HV tâm, HN tim, lòng) [ M 心 xīn < MC sim < OC *slɯm | Ghichú: Phươngngữ Hảinam của tiếngHán có dạng /tim1/, trùngkhớp hoàntoàn với tiếngViệt /tim/ cả vềmặt ngữâm lẫn ngữnghĩa. Sựtươngứng chínhxác này làm cho giảthuyết quanhệ đồngnguyên giữa hai dạng trởnên đặcbiệt đángchúý.

Trongkhiđó, các dạng được ghinhận trong nhóm ngônngữ Môn–Khmer nhìnchung dườngnhư không có sựtươngđồng trựctiếp với tiếngViệt “tim”. Dạng gầnnhất cóthể đượcxemxét là /ʔihiam/, tuynhiên mứcđộ tươngứng về âmthanh vẫn kháxa sovới sựtrùngkhớp gầnnhư hoànhảo giữa tiếngViệt “tim” và tiếng Hảinam /tim1/.

Xét trên bìnhdiện phươngpháphọc sosánh, khi một dạng thức đốiứng chothấy sựphùhợp chặtchẽ cả về phátâm lẫn ýnghĩa, trongkhi các ứngviên khác chỉ thểhiện một vài nét tươngđồng giántiếp, thì dạngthức có mứcđộ tươnghợp caohơn đươngnhiên cầnđược quantâm đặcbiệt. Theo cáchnhìn đó, tiếngViệt “tim” cóthể phảnánh một lớp quanhệ từvựng cổ với dạng Hánngữ phươngNam được bảotồn trong phươngngữ Hảinam.

Điều này cũng phùhợp với một môhình rộnghơn được quansát nhiềulần trong các từvựng cơbản của tiếngViệt, nơi mộtsố từnguyên thường được quycho nguồngốc Môn–Khmer lại chothấy những đốiứng âmnghĩa chặtchẽ không kém, thậmchí đôikhi còn rõràng hơn, với các dạng Háncổ hoặc phươngngữ Hán phươngNam. Trong trườnghợp của tim, sựtươngứng trựctiếp giữa /tim1/ và /tim/ là một dữkiện khó cóthể bỏqua trong quátrình đánhgiá từnguyên.]

11. TẶNG:

***** 贈 zèng (HV tặng) [ M 贈 zèng < MC dzəŋ < OC *zɯːŋs || Ghichú: Đốivới từ tặng, cóthể khẳngđịnh khá rõ rằng đây là một từ vaymượn từ tiếngHán. Một đốiứngviên đặcbiệt đángchúý là 送 sòng (HV tống), trong đó tiếngViệt bảolưu dạng songhành tặng, tạothành mộtcặp từsongthức.

Vềmặt ngữnghĩa, sựliênhệ giữa tống và tặng là khá tựnhiên. Nghĩa gốc của 送 là “đưađi”, “tiễnđưa”, “gửiđến”, từđó dễdàng pháttriển sang nghĩa “traogửi cho ngườikhác”, tức “tặngcho”. Chính vìvậy, hànhđộng tặng cóthể đượcxem như một sựchuyênbiệthoá ngữnghĩa từ kháinệm rộnghơn là “đưa”, “gửi”, “trao”.

Vềmặt âmthanh, quanhệ giữa tống và tặng phảnánh hiệntượng songthức thườnggặp trong lớp từ Háncổ dunhập vào tiếngViệt. Một nhánh bảotồn âmđọc 漢·越 chínhthức là tống, trongkhi nhánh kia pháttriển theo conđường khẩungữ dângian, tạonên dạng Việthoá tặng. Hai hìnhthức này cùng tồntại nhưng đảmnhận các chứcnăng ngữnghĩa khácnhau.

Cóthể sosánh hiệntượng này với nhiều cặp songthức khác trong tiếngViệt, nơi một dạng bảolưu diệnmạo vănngôn hoặc hànlâm, còn dạng kia trởthành từthôngdụng trong sinhhoạt hằngngày. Trong những trườnghợp nhưvậy, dạng bảnđịahoá thường tiếpnhận những sắcthái ngữnghĩa cụthể và gầngũi với khẩungữ hơn so với dạng 漢·越 chuẩntắc.

Dođó, tặng cóthể được xemlà một songthức tiếngViệt của 送, tươngtự nhiều cặp 漢·越 và Việthoá khác trong tiếngViệt, nơi một dạng giữ vaitrò vănngôn hoặc hànlâm, còn dạng kia trởthành từthôngdụng trong khẩungữ hằngngày.

Tuynhiên, chữ 贈 zèng bảnthân cũng rất đáng lưuý. Vềmặt ngữnghĩa, 贈 mang nghĩa “biếu tặng”, “tặng vật”, “trao cho”, gầnnhư trùngkhớp trựcdiện với nghĩa hiệnnay của tiếngViệt tặng. Vìthế, không thể loạitrừ khảnăng rằng dạng tặng trong tiếngViệt chịu ảnhhưởng đồngthời từ cả 贈 lẫn 送, tức là kếtquả của sựhộitụ ngữnghĩa giữa hai từngộc Háncổ khácnhau cùng thuộc trườngnghĩa “trao gửi”.

Theo cáchnhìn này, chuỗi tươngứng 送 sòng → tống ↔ tặng, cùng với sựhiệndiện của 贈 zèng (HV tặng), là một trong những trườnghợp có mứcđộ khảtín khá cao vềmặt từnguyên, nhờ sựphùhợp đồngthời của ngữâm, ngữnghĩa và quyluật hìnhthành các dạng songthức 漢·越 trong tiếngViệt. Trong trườnghợp này, tặng cóthể phảnánh khôngchỉ một nguồn gốc đơnlẻ, mà là sựgiaooa giữa dạng đọc HánViệt chínhthức của 贈 và lớp từ Việthoá cổ liênhệ với 送, saucùng hộitụ thành từthôngdụng tặng của tiếngViệt hiệnđại. ]

12. TRO:

*** 灰 huī (HV hôi, khôi, HN tro) [ M 灰 huī < MC xuaj < OC *hmɯː | Ghichú: Việc giảđịnh từnguyên này phầnnào dựatrên sựtươngứng giữa cáchphátâm Hán-Trungcổ và âmđọc Hán-Việt. Tuynhiên, trong các phươngngữ Hán còn tồntại những từ khác mang nghĩa “bụi” hay “vôi”. Chẳnghạn, tiếng Mânnam (Hokkien) có dạng /hua1/, gợira những liênhệ sosánh trong cùng trườngtừvựng hoảnhiệt và nhiênliệu.

Có thể đốichiếu với một loạt từViệt thường đượcxemlà có liênhệ với các từnguyên Hán tươngứng, như: than 炭 tān (HV ‘thán’), lửa 火 huǒ (HV ‘hoả’), củi 柴 chái, mồi 煤 méi, đốt 燒 shāo (HV ‘thiêu’), và cháy 焦 jiāo (‘sém’).

Trong cùng trườngnghĩa ấy, tiếngHán còn có các tổhợp chỉ “tro” như 爐渣 lúzhā (‘tro bếplò’), 灰渣 huīzhā (‘trobụi’), và 炭渣 tànzhā (‘trothan’). Các hìnhthức này chothấy một mạnglưới từvựng liênkết chặtchẽ quanh các kháinệm “lửa”, “đố cháy”, “than”, “tro” và “trotàn saukhi cháy”.

Do đó, khi khảoxét nguồngốc của từViệt chỉ “tro”, không nhấtthiết phải giớihạn trong một từnguyên đơnlẻ, mà cần đặt nó vào toànbộ từvựng liênquan đến hoả, nhiênliệu và sảnphẩm của sựđốtcháy. Trong bối cảnh đó, dạng MânNam /hua1/ cùng các từ Hán thuộc nhóm 火、灰、炭、焦、燒 cóthể cungcấp thêm những dữkiện sosánh đángchúý choviệc phụcdựng lịchsử từvựng của tiếngViệt.

13. TRÁI

*** 左 zuǒ (HV tả, HN trái) [ M 左 zuǒ < MC tsa < OC *ʔsaːlʔ, *ʔsaːls | ¶ /z- ~ tr- / | Theo Starostin, trong một số vănkhắc cổ, từ này còn được chúgiải với nghĩa “chống đối”, tuy nhiên cách giảithích đó khá đáng nghi. Về mặt từnguyên, có liênhệ với 佐, được phụcnguyên CổHán là ca:jʔ-s, TrungCổ caX, Quanthoại zuǒ, trong đó cáchđọc hiệnnay chịu ảnhhưởng ngữâm từ 左. Nghĩa cơbản của 佐 là “phụtá”.

Một điểm đángchúý là cặp đốiứng hữu–tả trong tiếngHáncổ khôngchỉ mang giátrị phươnghướng mà còn gắnvới những kháinệm chứcnăng. Có thể sosánh 右 (và dạng đồngnguyên 佑) yòu với các từViệt phải, phò (‘phùtrợ’) và phù (‘phùhộ’).

Mối liênhệ ngữnghĩa này vẫncòn được bảotồn trong các tổhợp như 護佑 hùyòu, tươngứng với tiếngViệt phùhộ, nghĩalà “phùhộ”. Tạiđây, ýniệm trungtâm của 佑 khôngphảilà “bênphải” theo nghĩa khônggian đơnthuần, màlà “phùhộ” hay “banphúc”.

Từ gócnhìn đó, trườngnghĩa của phải trong tiếngViệt cóthể đã pháttriển songsong theo hai hướng: mộtmặt là nghĩa phươnghướng đốilập với trái; mặtkhác là nghĩa giátrị như “đúng”, “hợp lẽ”, “chínhđáng”, vốn gầngũi với các kháinệm ‘trợgiúp’. Điềunày khiến mạnglưới liênhệ giữa 右、佑、佐 và các từ tiếngViệt phải, phò, phù, phùhộ trởnên đángchúý trong nghiêncứu từnguyên lịchsử.

Nếu đặt trong cùng hệthống đốiứng với trái ← 左 zuǒ, thì phải khôngchỉlà một từ chỉ phươnghướng, mà cóthể phảnánh một lớp kháinệm cổ rộnghơn, kếthợp giữa “bênphải”, “giúp” và “phùhộ”, tươngtự như cách các chữ 右 và 佑 đã giaothoa về ngữâm và ngữnghĩa trong lịchsử tiếngHán.

13. TRƠN:

*** 潤 rùn (HV nhuận, HN nhuần, nhờn, trơn) [ M 潤 rùn < MC ȵwin < OC *njuns | Ghichú: Các dạng Môn–Khmer, têá, sasil, siel, ntiêl…, được ghi nhận trong trườnghợp này cũng gợi ra một khảnăng liênhệ với 跌 diē, diè (HV điệt, trật), đặcbiệt khi đốichiếu với các từ Việt ‘trơn’, ‘trợt’ và ‘té’.

Về mặt ngữnghĩa, sự tươngứng là khá rõràng. Chữ 跌 mang các nghĩa như “ngã”, “vấp ngã”, “rơi xuống”, trong khi trợt diễnđạt trạngthái mất độbám dẫn đến ngã, còn té biểuthị kếtquả của hànhđộng ấy. Cả ba đều thuộc cùng một trườngnghĩa liênquan đến mất thăngbằng và ngãxuống.

Về mặt âmthanh, chữ 跌 có âm Hán-Việt điệt và trật, trong đó dạng ‘trật’ đặcbiệt đángchúý vì gầnvới phụâmđầu /tr/- của trợt. Đồngthời, mốiquanhệ ngữnghĩa giữa “trợt” và “té” trong tiếngViệt cũng tươngtự như quanhệ giữa “trượtchân” và “ngã” trong nhiều ngônngữ khác, nơi một từ chỉ nguyênnhân và một từ chỉ kếtquả thường pháttriển từ cùng một từnguyên.

Theo cách nhìn đó, nhóm từViệt ‘trợt’, ‘té’ cóthể phảnánh một lớp từvựng cổ liênquan đến 跌, bêncạnh những dữliệu Môn–Khmer thườngđược dùngđể sosánh. Dù bằngchứng chưađủđể khẳngđịnh quanhệ đồngnguyên một cách chắcchắn, sựhộitụ của cả ngữâm lẫn ngữnghĩa khiến 跌 diē, diè trở thành một đốiứngviên đáng được xem xét trong việc khảocứu nguồngốc của các từViệt chỉ hànhđộng “trượt” và “ngã” (M 跌 diē, diè (điệt, trật) < MC det < OC *l’i:g) đểchỉ mốiliênhệ ngữnghĩa và ngữâm của tư Việt “trơn(trượt)”. ]

14. TỚI:

**** 逮 dài (HV đại, HN tới) [ M 逮 (迨) dài, dăi (đại, đãi, đệ) < MC dəj < OC *l’ɯːd, *l’ɯːds | Theo Starostin, từ này mang các nghĩa “tới”, đồngthời còncó nghĩamởrộng là “trọnvẹn”. Trong tiếng Hán-Trungcổ còn tồntại một cáchđọc songhành, nguyênlà dạng phươngngữ, /diɛjH/ (phiênthiết 特計), với ýnghĩa tươngtự. TiếngViệt tới thuộc lớp khẩungữ thôngdụng là “tới”, trongkhi âmđọc Hán-Việt chuẩnxác là đại.

Vào giaiđoạn TâyChâu sơkỳ, chữ này đôikhi được viết bằng 棣 (chẳnghạn trong ThiKinh 26.3), cho phép phụcnguyên phụâmđầu lh-. Dạng Háncổ được phụcnguyên là /*lhəːp-s/, một hìnhthức pháisinh có hậutố /-s/ từgốc /*lhəːp/ với nghĩa cơbản “lại”.

Cũng như nhiều cặp songthức khác trong tiếngViệt, chữ 到 dào (HV đáo) cóthể đượcxemlà một dạng songhành với “tới” trong cáchsửdụng hiệnnay. Chữ 到 có cáchđọc Quanthoại dào, bắtnguồn từ Trungcổ /tawH/ và được phụcnguyên ở tầng Háncổ là /*taːw-s/.

Về mặt ngữnghĩa, sựtươngứng giữa” “tới” và 到 dào là gầnnhư hoànchỉnh. Cảhai đều biểuthị hànhđộng “tới”, “đạtđến” hoặc “tớinơi”. Tươngtự như nhiều trườnghợp khác trong tiếngViệt, một nhánh bảolưu âmđọc Hán-Việt chínhthức là “đáo”, còn nhánh kia được Việthoá thành từ thôngdụng là “tới”. Do đó, cóthể hìnhdung một mạnglưới songthức gồm: *lhəːp-s → đại (Hán–Việt cổ), *taːw-s → đáo (Hán–Việt) → tới (Việthoá, khẩungữ)

Mặcdù các tầng pháttriển lịchsử cần tiếptục được khảochứng, sựhộitụ về ngữnghĩa giữa “tới” và “đáo” khiến giảthuyết xem chúng như các dạng songhành thuộc cùng trường từnguyên trởnên đángchúý. ]

15. VÔ:

***入rù (HV nhập, HN vô, vào) [ M入rù, rǔ, rì < MC ɳip < OC *njub | Dialects: Beijing: ʐu3, Xian: vu11, Taiyuan: zujəʔ41, Hankou: y12, Changsha: zu12, Yangzhou: ljəʔ4, Wenzhou: zai42, Ts: y4, Shuangfeng: y31, Nanchang: lat41, Hakka: ɲip 42. Cant: jap42, Xiamen: ʑip42, Fuzhou: iʔ42 | Zhongyuan Yinyun: zɨu43 |Ghichú: Cần lưuý rằng trong các giaiđoạn cổ, cả tiếng Hán lẫn Việt đều cóthể chưa có âmvị /v/ theocách phátâm hiệnđại. Hãy sosánh dạng dô /jo/ trong các phươngngữmiềnTrung và NamcủatiếngViệt với dạng vô. Hiệntượng này cóthể đốichiếu với入rù trong中文hiệnđại, có cáchphátâm tiêuchuẩn là /ju⁵¹/ (Pinyin rù). Điềunày chothấy các dạng có phụâmđầu hiệnnay được ghi bằng /v- /cóthể từngbiếnthànhnhững giátrị ngữâm gần với bánnguyênâm /j-/ hoặc các dạng tiếpcận tươngtự trong những giaiđoạn sớmhơn của lịchsử ngônngữ.

Leave a Reply

Discover more from ziendan.com

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading